Lựu đạn F1 (Nga)
| F-1 | |
|---|---|
Lựu đạn F-1 | |
| Loại | Lựu đạn cầm tay |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1939–hiện tại |
| Trận | |
| Thông số | |
| Khối lượng | 600 g (1,3 lb) |
| Chiều dài | 130 mm (5,1 in) |
| Đường kính | 55 mm (2,2 in) |
| Thuốc nhồi | Trinitrotoluene |
| Trọng lượng thuốc nhồi | 60 g (2,1 oz) |
| Cơ cấu nổ | Ngòi nổ 3,2 đến 4,2 giây |

Lựu đạn cầm tay F-1 của Liên Xô (tiếng Nga: Фугасный 1, đã Latinh hoá: Fugasnyy 1, n.đ. 'Nổ, Loại 1') là loại lựu đạn phòng ngự mảnh văng chống bộ binh.
Lịch sử
F-1 được giới thiệu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và sau đó được thiết kế lại sau chiến tranh.
Mặc dù F-1 không còn được coi là vũ khí trang bị cho các đơn vị tiền phương tại các quốc gia thuộc Khối Warszawa trước đây, nó vẫn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là bởi các nhóm phiến quân.[2]
Thiết kế
Thân lựu đạn F-1 dựa trên thân bằng gang của lựu đạn F1 của Pháp và chứa 60 g (2,1 oz) thuốc nổ (TNT). Tổng trọng lượng của lựu đạn kèm theo ngòi nổ là khoảng 600 g (21 oz).[3]
Do hình dáng và màu xanh vàng, nó được đặt biệt danh là limonka (giống cái: 'quả chanh nhỏ'). Nó cũng được gọi là Efka (tiếng Nga: Эфка) dựa trên chữ cái F.[4]
F-1 cũng tương tự như lựu đạn "quả dứa" Mk 2 của Mỹ, vốn cũng được mô phỏng theo mẫu F-1 của Pháp.
F-1 có vỏ ngoài bằng thép được khía rãnh để tạo điều kiện tạo mảnh văng khi nổ và để tránh trơn trượt khi cầm. Khoảng cách ném lựu đạn ước tính khoảng 30–45 m (98–148 ft).
Bán kính phân tán mảnh văng lên tới 200 m (660 ft) (bán kính hiệu quả là khoảng 30 m (98 ft),[5]). Do đó, lựu đạn phải được ném từ một vị trí phòng thủ để tránh gây tự thương.
Khoảng 60% thân lựu đạn bị tán nhỏ trong vụ nổ, chỉ 30% thân lựu đạn tách thành 290 mảnh văng sắc cạnh có tốc độ cao, mỗi mảnh nặng khoảng 1 gram với vận tốc ban đầu khoảng 700 m/s (2.300 ft/s).
Ngòi nổ
Trong Thế chiến II, F-1 sử dụng ngòi nổ UZRG (tiếng Nga: unifitsirovanny zapal k ruchnym granatam, n.đ. 'ngòi nổ lựu đạn cầm tay tiêu chuẩn') với thời gian trễ từ 3,2 đến 4,2 giây.[6] UZRG được cấp riêng biệt với thân lựu đạn, chia thành các lô 20 chiếc đựng bên trong hộp bìa cứng bọc giấy nến.[7] Ngòi nổ Koveshnikov với thời gian trễ từ 3,5 đến 4,5 giây cũng được sử dụng trong chiến tranh.[8]
Các lựu đạn sau chiến tranh thường sử dụng ngòi nổ UZRGM, cũng được dùng trong lựu đạn RG-42 và RGD-5. Thời gian trễ tiêu chuẩn của loại ngòi này là 3,2 đến 4,2 giây.[9] Một số lựu đạn được trang bị ngòi nổ bẫy chuột DVM-78 hiện đại hơn với bộ hẹn giờ trễ 3,2–4 giây.[2]
ó một huyền thoại bắt nguồn từ một bài báo năm 1983 do Larry Dring viết cho tạp chí Soldier of Fortune (SOF) ngụ ý rằng các biến thể ngòi nổ UZRGM có sẵn các phiên bản với thời gian trễ từ 0 (tức là nổ tức thì, chuyên dùng cho bẫy mìn) đến 13 giây..[10] Tác giả đã nhầm lẫn khi cho rằng những con số đóng trên thân ngòi nổ là chỉ số thời gian trễ. Trên thực tế, con số này cho biết dây chuyền sản xuất của nhà máy, không phải thời gian trễ của ngòi nổ. Việc có các ngòi nổ mà không có ký hiệu rõ ràng bên ngoài cho biết đó là "ngòi ngắn" với độ trễ 0 hoặc 1–2 giây sẽ gây nguy hiểm cho binh sĩ vận hành. Tất cả các ngòi nổ UZRGM đều có cùng độ trễ bất kể con số đóng trên chúng là gì, vốn sẽ bị che khuất khi ngòi được lắp vào thân lựu đạn.[9]
Cùng bài báo trên SOF cũng tuyên bố rằng UZRGM có thể lắp lẫn với dòng ngòi nổ M200 được sử dụng trên lựu đạn Mk 2 và M26 của Hoa Kỳ.[11] Theo Gordon L. Rottman, điều đó không đúng: UZRGM chỉ có thể vặn được một nửa vào lựu đạn của Mỹ (đủ để vừa khít và hoạt động), trong khi ngòi nổ của Mỹ hoàn toàn không thể vặn vào lựu đạn của Liên Xô.[12] Dring cũng viết cho SOF rằng mặc dù UZRGM có thể sử dụng trên lựu đạn F-1 của Pháp, nhưng ngòi nổ của Pháp sẽ không vặn được vào lựu đạn F-1 của Liên Xô.[11]
Các biến thể
Liên Xô
Các phiên bản nước ngoài
F-1 đã được Tây Ban Nha sử dụng và sao chép trong suốt cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.[13] Một số quốc gia và nhóm phiến quân khác cũng sản xuất các bản sao của riêng họ, bao gồm Trung Quốc, Bulgaria, Cộng hòa Séc, Georgia, Ba Lan và Romania.[14] Trong cuộc Chiến tranh Nga - Ukraine, Ukraine đã bắt đầu sản xuất một loại lựu đạn F-1 cải tiến, đã được phê duyệt để sử dụng trong quân sự vào ngày 9 tháng 9 năm 2024.[15]
- Type 1 − Bản sao của Trung Quốc.[2][16]
- F1/N60 − Lựu đạn phóng từ súng trường của Ba Lan dựa trên mẫu F-1, nhưng sử dụng ngòi nổ va chạm thay vì ngòi nổ hẹn giờ.[14]
- MKEK Mk 2 − Thiết kế thời hậu chiến của Thổ Nhĩ Kỳ, kết hợp thân của lựu đạn F-1 với ngòi nổ M204A2 do Hoa Kỳ thiết kế.[13]
- M15 − Biến thể của Nam Tư gần như giống hệt F-1, nhưng bộ phận kích nổ 5,6 giây hoàn toàn khác biệt. Tên gọi chính thức là Lựu đạn cầm tay phòng ngự M15 (tiếng Serbia: Obramben bomba rucna M15)[13]
- M35 − Bản sao của Nam Tư tương tự như mẫu M15. Tên gọi chính thức là Lựu đạn cầm tay phòng ngự M35 (tiếng Serbia: Obramben bomba rucna M35)[13]
Các quốc gia sử dụng
Bulgaria[2]
Trung Quốc
Tiệp Khắc[17]
Séc[2]
Phần Lan[13]
Gruzia[18]
Iraq[19]
CHDCND Triều Tiên[20]
Ba Lan − Vẫn còn trong biên chế chiến đấu cho đến tận năm 2010[14]
România[18]
Nga[18]
Liên Xô
Spanish Republic[13]
Syria[21]
Thổ Nhĩ Kỳ − Được sản xuất dưới tên gọi MKEK Mk 2[13]
Ukraina − Các bản sao được sản xuất trong nước[15]
Việt Nam[16]
South Yemen − 50.000 quả đã được Tiệp Khắc bàn giao trong khoảng thời gian từ năm 1982 đến năm 1987[17]
Nam Tư − Được sản xuất dưới các tên gọi M15 và M35[13]
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ "Bản lưu trữ" (PDF). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013.
- 1 2 3 4 5 Jones & Ness 2010, tr. 751.
- ↑ Owen, J.I.H (1975). Brassey's Infantry Weapons of the World (bằng tiếng Anh). New York, N.Y.: Bonanza. tr. 223–224. ISBN 0-517-242346.
- ↑ Veremeev, Yu. "Происхождение "лимонки"" [Nguồn gốc của "limonka"]. Анатомия армии (Anatomy of the Army) (bằng tiếng Nga).
- ↑ ""Советская ручная граната Ф-1"". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
- ↑ Gebhardt & Blazey 1998, tr. 19.
- ↑ Gebhardt & Blazey 1998, tr. 22.
- ↑ Gebhardt & Blazey 1998, tr. 23, 31.
- 1 2 Rottman 2015, tr. 32.
- ↑ Dring 1983, tr. 74–75.
- 1 2 Dring 1983, tr. 74.
- ↑ Rottman 2013, tr. 188.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Rottman 2015, tr. 31.
- 1 2 3 Jones & Ness 2010, tr. 751−752.
- 1 2 "Ukraine produces analogs of Soviet F-1 and RGD-5 grenades". Militarnyi. ngày 9 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
- 1 2 Rottman 2020, tr. 21.
- 1 2 Smisek 2023, tr. 149, 158.
- 1 2 3 Jones & Ness 2010, tr. 752.
- ↑ Iraq Country Handbook (PDF). U.S. Government Printing Office. 1998. tr. A-18. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2024.
- ↑ Marine Corps Intelligence Activity (1997). North Korea Country Handbook (PDF). Quantico, VA: Federation of American Scientists. tr. A-93. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2024.
- ↑ Campbell 2016, tr. 18,75.
Tài liệu
- Campbell, David (2016). Israeli Soldier vs Syrian Soldier: Golan Heights 1967–73 (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4728-1331-2.
- Dring, Larry (tháng 9 năm 1983). "Fuse Surprise". Soldier of Fortune. Quyển 8 số 9. Boulder, Colorado: Omega Group Limited. tr. 74–75. ISSN 0145-6784.
- Gebhardt, James F; Blazey, Scott, biên tập (1998). Official Soviet Army Hand Grenade Manual (bằng tiếng Anh). Gebhardt, James F. biên dịch. Boulder, Colorado: Paladin Press. ISBN 978-0-87364-967-4.
- Jones, Richard D; Ness, Leland S, biên tập (2010). Jane's Infantry Weapons 2010–2011 (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 36). Surrey: Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2908-1.
- Rottman, Gordon L. (2013). The Big Book of Gun Trivia: Everything you want to know, don’t want to know, and don’t know you need to know (bằng tiếng Anh) . Oxford, United Kingdom: Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-78200-950-4 – qua Google Books.
- Rottman, Gordon L. (2015). The Hand Grenade (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4728-0735-9 – qua Google Books.
- Rottman, Gordon L. (2020). Vietnam War Booby Traps (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-4728-4246-6.
- Smisek, Martin (2023). Czechoslovak Arms Exports to the Middle East: Volume 4 - Iran, Iraq, Yemen Arab Republic and the People's Democratic Republic of Yemen 1948-1989 (bằng tiếng Anh). Helion and Company. ISBN 978-1-80451-524-2.
Liên kết ngoài
- Finnish Junkyard Lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2015 tại Wayback Machine
- Lựu đạn F-1 (Nga) Lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2007 tại Wayback Machine
- Lựu đạn cầm tay F-1 Xô Viết Lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2007 tại Wayback Machine
- Thông tin về lựu đạn F1 trong thế chiến thứ hai
- Thông tin về lựu đạn F1 trong thế chiến thứ hai