Lực lượng Vũ trang Quốc gia Indonesia
| Quân đội Quốc gia Indonesia | |
|---|---|
| Tentara Nasional Indonesia | |
Quân hiệu Quân đội Quốc gia Indonesia | |
Cờ Quân đội Quốc gia Indonesia | |
| Khẩu hiệu | Tri Dharma Eka Karma (tiếng Phạn, n.đ. 'Three services, one determination') |
| Thành lập | 5 tháng 10 năm 1945 as the People's Security Army |
| Tổ chức hiện tại | 3 tháng 6 năm 1947 |
| Các quân chủng |
|
| Sở chỉ huy | Cilangkap, Jakarta |
| Website | tni |
| Lãnh đạo | |
| Tổng tư lệnh Quân đội | |
| Bộ trưởng Phối hợp chính trị và an ninh | |
| Bộ trưởng Quốc phòng | |
| Tư lệnh Quân đội | |
| Nhân lực | |
| Tuổi nhập ngũ | 17 |
| Cưỡng bách tòng quân | Không có |
| Số quân tại ngũ | 404,500[1] (hạng 13) |
| Số quân dự bị | 401.000 |
| Số quân triển khai | 3,544[2] |
| Phí tổn | |
| Ngân sách | 245,2 nghìn tỷ rupiah (15,1 tỷ đô la Mỹ, tháng 8 năm 2025)) [3][4] |
| Phần trăm GDP | 1,05% (2025)[5] |
| Công nghiệp | |
| Nhà cung cấp nội địa | Danh sách
|
| Nhà cung cấp nước ngoài | Hiện tại: |
| Bài viết liên quan | |
| Lịch sử | Lịch sử quân sự Indonesia
|
| Quân hàm | Quân hàm Indonesia |
Quân đội Quốc gia Indonesia (Tentara Nasional Indonesia, viết tắt là TNI) là lực lượng vũ trang của Indonesia. Quân đội gồm các quân chủng Lục quân, Hải quân và Không quân. Tổng quân số khoảng 361.823 người. Lục quân là quân chủng lớn nhất, với quân số vào khoảng 276.953 quân nhân tại ngũ. Ngân sách quốc phòng chỉ chiếm 3% GDP nhưng được các hoạt động kinh doanh của quân đội và các quỹ tài trợ bổ sung.
Sau trận sóng thần năm 2004 ở Aceh, chính phủ Hoa Kỳ tạm đình chỉ lệnh cấm các trang bị trái phép và các xe quân sự để hỗ trợ cho các nỗ lực cứu trợ nhân đạo sau thảm họa sóng thần các vùng Aceh và Nias ở Indonesia.
Lịch sử
Ngày 22 tháng 11 năm 2005, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ khôi phục quan hệ quân sự với Indonesia, một quyết định kết thúc lệnh cấm buôn bán vũ trang do Hoa Kỳ áp đặt kéo dài sáu năm. Trang bị vũ khí: Lục quân: 476 xe tăng, 565 xe thiết giáp, 333 pháo xe kéo. Không quân: 90 máy bay chiến đấu, bao gồm một số máy bay: 10 F-16, 15 F-5, 35 Hawk109/209, 4 Su-27 Hải quân: 17 tàu Frigate, 16 tàu hộ vệ, 4 tàu tên lửa, 16 tàu chiến nhỏ, 2 tàu ngầm Type-209,9 trực thăng săn ngầm Wasp HAS-1.[11]
Tổ chức
Cảnh sát Quốc gia Indonesia cũng đã từng là một nhánh của lực lượng vũ trang trong nhiều năm. Lực lượng cảnh sát chính thức được tách ra khỏi quân đội vào tháng 4 năm 1999, quá trình này hoàn tất vào năm 2000. Với quân số 150.000 người, lực lượng cảnh sát chiếm tỷ lệ trong tổng dân số nhỏ hơn nhiều so với hầu hết các nước khác. Tổng quân số của lực lượng cảnh sát quốc gia và cảnh sát địa phương năm 2006 vào khoảng 470.000 người.
Nhân sự
Quân đội Quốc gia Indonesia là một quân đội tình nguyện. Năm 2024, tổng quân số bao gồm 404.500 quân nhân tại ngũ và 400.000 quân nhân dự bị.[1] Số lượng đàn ông từ 16 tuổi đến 49 tuổi đủ tiêu chuẩn nhập ngũ là 75.000.000, với 4.500.000 người đủ tiêu chuẩn nhập ngũ mỗi năm.[12]
Danh sách các tham mưu
| Tên | Năm | Ghi chú |
|---|---|---|
| Trung tướng Oerip Soemohardjo | 17 tháng 8 năm 1945 – 12 tháng 11 năm 1945 | Chức vụ tạm quyền[13] |
| Đại tướng Soedirman | 12 tháng 11 năm 1945 – 29 tháng 1 năm 1950 | Chức vụ được gọi là Tư lệnh vĩ đại của Quân đội An ninh Nhân dân(Panglima Besar Tentara Keamanan Rakyat)[13] |
| Thiếu tướng TB Simatupang | 29 tháng 1 năm 1950 – 1952 | Chức vụ được biết đến là Tổng tham mưu trưởng Lực lượng chiến đấu (Kepala Staf Angkatan Perang)[13] |
| Trống | 1952–1955 | Chức vụ bị Tổng thống Soekarno bãi bỏ sau chính biến17 tháng 1952[13] |
| Thiếu tướng Abdul Haris Nasution | tháng 12 năm 1955 – tháng 3 năm 1965 | Chức vụ được biết đến là Tổng tham mưu trưởng Lực lượng chiến đấu (Kepala Staf Angkatan Perang)[13] |
| Trống | 1965–68 | Chức vụ bị Tổng thống Soekarno bãi bỏ sau chính biến G30S/PKI[13] |
| Đại tướng Soeharto | tháng 6 năm 1968 – tháng 3 năm 1973 | Chức vụ được gọi là Tư lệnh Lực lượng vũ trang của Cộng hòa Indonesia(Panglima ABRI) đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh |
| Đại tướng Maraden Panggabean | tháng 3 năm 1973 – tháng 4 năm 1978 | như trên |
| Đại tướng Mohammad Jusuf | tháng 4 năm 1978 – 28 tháng 3 năm 1983 | như trên |
| Đại tướng Benny Moerdani | 28 tháng 3 năm 1983 – 27 tháng 2 năm 1988 | Đồng thời là Tư lệnh chiến dịch phục hồi An ninh và Trật tự (Kopkamtib) |
| Đại tướng Try Sutrisno | 27 tháng 2 năm 1988 – 19 tháng 2 năm 1993 | |
| Đại tướng Edi Sudrajat | 19 tháng 2 năm 1993 – 21 tháng 5 năm 1993 | Đồng thời Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và An ninh và Tham mưu trưởng Quân đội |
| Đại tướng Feisal Tanjung | 21 tháng 5 năm 1993 – 12 tháng 21998 | |
| Đại tướng Wiranto | 16 tháng 2 năm 1998 – 26 tháng 10 năm 1999 | Chức vụ được gọi là Tư lệnh các Lực lượng vũ trang Quốc gia Indonesia (Panglima Tentara Nasional Indonesia) từ năm 1999 đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng An ninh |
| Đô đốc Widodo Adi Sutjipto | 26 tháng 10 năm 1999 – 7 tháng 6 năm 2002 | Đầu tiên của Hải quân và sĩ quan Lục quân không được bổ nhiệm |
| Đại tướng Endriartono Sutarto | 7 tháng 6 năm 2002 – 13 tháng 2 năm 2006 | |
| Tư lệnh không quân Djoko Suyanto | 13 tháng 2 năm 2006 – 28 tháng 12 năm 2007 | sĩ quan đầu tiên của Không quân được bổ nhiệm |
| Đại tướng Djoko Santoso | 28 tháng 12 năm 2007 – 28 tháng 9 năm 2010 | |
| Đô đốc Agus Suhartono | STừ 28 tháng 9 năm 2010 - 30 tháng 8 năm 2013 | Sĩ quan thứ hai của Hải quân được bổ nhiệm |
| Đại tướng Moeldoko | từ 30 tháng 7 năm 2013 - 08 tháng 7 năm 2015 | |
| Đại tướng Gatot Nurmantyo | Ngày 8 tháng 7 năm 2015 - 8 tháng 12 năm 2017 | |
| Tư lệnh không quân Hadi Tjahjanto | 8 tháng 12 năm 2017 – hiện tại | |
Tham khảo
- 1 2 International Institute for Strategic Studies (ngày 15 tháng 2 năm 2024). The Military Balance 2024. London: Routledge. tr. 272. ISBN 9781032780047.
- ↑ "Indonesia and the United Nations Peacekeeping Mission". kemlu.go.id. Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Indonesia. ngày 29 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "IAnggaran Pertahanan RI Melonjak Jadi Rp245,2 T di 2025". cnbcindonesia.com. ngày 4 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Indonesia expands military as defence budget soars". The Straits Times. ngày 12 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2025.
- ↑ René Muschter (ngày 30 tháng 4 năm 2025). "Indonesien: Bruttoinlandsprodukt (BIP) in jeweiligen Preisen von 1980 bis 2024 und Prognosen bis 2030". de.statista.com (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "PT Palindo Marine Shipyard". palindomarine.com. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 4 2015. Truy cập 27 tháng 10 2015.
- ↑ "CMI Teknologi Official Website". cmiteknologi.com. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2015.
- ↑ Rahmat, Ridzwan (ngày 24 tháng 8 năm 2016). "Indonesia acquires Chinese-developed CIWS for another Kapitan Pattimura-class corvette". janes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2016.
- ↑ Nanda Fahriza Batubara (ngày 23 tháng 10 năm 2023). Dwi Ayuningtyas (biên tập). "Teka-teki Impor Senjata Israel dan Pertahanan RI dalam Angka". Tirto.id (bằng tiếng Indonesia). Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2024.
- ↑ Suryarandika, Rizky (ngày 1 tháng 7 năm 2024). Teguh Firmansyah (biên tập). "Siapa Pihak yang Mengimpor Senjata dari Israel ke Indonesia? Ini Analisa Pengamat". Republika.co.id (bằng tiếng Indonesia). Jakarta. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2007.
- ↑ "Archived copy". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2020.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - 1 2 3 4 5 6 "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014.