Bước tới nội dung

Lữ đoàn Bộ binh súng trường Tình nguyện Nữ độc lập số 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lữ đoàn Bộ binh súng trường Tình nguyện Nữ độc lập số 1
1-я отдельная женская добровольная стрелковая бригада
Hoạt động1942–1944
Phục vụ Liên Xô
Quân chủng Hồng quân (1942–1943)
Quân đội nội bộ NKVD (1943–1944)
Phân loạiBộ binh
Hiến binh
Quy môLữ đoàn
Bộ chỉ huyQuân khu Moskva

Lữ đoàn Bộ binh súng trường Tình nguyện Nữ độc lập số 1 (tiếng Nga: 1-я отдельная женская добровольная стрелковая бригада, đã Latinh hoá: 1-ya Otdel'naia zhenskaia dobrovol'cheskaia strelkovaia brigada, viết tắt: 1st OZhDSB) là một đơn vị bộ binh Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ban đầu thuộc Hồng quân, sau này được chuyển sang Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD). Lữ đoàn được thành lập từ ngày 3 tháng 11 năm 1942, chuyển thành một đơn vị quân đội nội vụ theo quyết định ngày 29 tháng 10 năm 1943 và giải thể ngày 31 tháng 7 năm 1944.

Lữ đoàn không có một lịch sử hoạt động chính thức nào. Lịch sử về lữ đoàn được nghiên cứu từ những tài liệu lưu trữ – có rất nhiều trong số đó được phân loại "Tuyệt mật". Lữ đoàn đóng ở Ochakovo, Quận Kuntsevo thuộc Quân khu Moskva. Được thành lập "để đáp ứng mong muốn của phụ nữ được cầm vũ khí bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa", ban đầu lữ đoàn chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ phi quân sự và cảnh vệ ở hậu cứ. Khi Hồng quân đẩy lui quân Đức, đơn vị phụ trách giữ gìn trật tự ở các vùng giải phóng, bắt giữ lính đào ngũ và binh lính ở lại hậu phương quá hạn cho phép.[1] Bên cạnh đó, từ khâu tuyển người, khi đi vào hoạt động cho đến khi giải thể, lữ đoàn phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến lý lịch xã hội và chính trị của tân binh, điều kiện vệ sinh sinh hoạt, giới, kỷ luật, đào ngũ và các vụ tự sát hoặc cố gắng tự sát của binh sĩ.

Trong Thế chiến 2, xét vấn đề phụ nữ trong chiến tranh, Liên Xô là một trường hợp độc đáo trong số các quốc gia tham chiến không chỉ bởi số lượng lớn quân nhân nữ phục vụ trong Hồng quân mà còn vì sự tồn tại của các đơn vị quân đội nữ (hoặc đại đa số là nữ).[2] Lữ đoàn là một phần của kế hoạch thành lập 50 lữ đoàn nữ của GOKO trong thời điểm Hồng quân vẫn còn gặp nhiều khốn nạn vào cuối năm 1942 và đầu năm 1943. Sự hình thành của lữ đoàn được coi là một trong những thử nghiệm của chính phủ Liên Xô trong việc huấn luyện và đưa vào quân đội các đơn vị nữ. Một thử nghiệm với quy mô chưa từng có tiền lệ.[3] Trong cùng nghị quyết thành lập lữ đoàn, Trung đoàn Bộ binh súng trường Nữ độc lập dự bị số 1 được khởi tạo ban đầu nhằm huấn luyện binh sĩ cho lữ đoàn.

Bối cảnh

Những người lính Liên Xô thực hiện nhiệm vụ chiến đấu gần Leningrad năm 1942.

Năm 1942, chiến sự trên nhiều mặt trận không khả quan với Hồng quân. Đầu năm 1942, Hồng quân đạt một số thắng lợi tạm thời. Các cuộc phản công của Hồng quân vào cuối năm 1941 và đầu năm 1942 đã đẩy lui quân Đức xa khỏi thủ đô Moskva 100–250 km,[a] tuy nhiên, Chiến dịch phản công Rzhev-Vyazma tiếp nối chỉ đạt được kết quả khiêm tốn, không tương xứng với tổn thất nghiêm trọng về nhân lực và khí tài. Từ tháng 12 năm 1941, quân đội Liên Xô cũng tổ chức các chiến dịch phá vòng vây thành phố Leningrad nhưng không đạt được kết quả mong đợt.

Năm 1942. Một tân binh trẻ trong bộ quân phục ký tên vào danh sách tuyên thệ.

Tình hình cấp bách của quân đội đã dẫn đến sự thay đổi trong thái độ của thượng tầng chính phủ Liên Xô đối với vấn đề phụ nữ trong quân đội.[4] Nếu năm 1941, chính phủ không thể hiện quan điểm rõ ràng và giữ im lặng về vấn đề phụ nữ trẻ tình nguyện nhập ngũ,[5] thì năm 1942 chính phủ đã thay đổi hoàn toàn chính sách.[6] Ngày 25 tháng 3 năm 1942, Ủy ban Quốc phòng Nhà nước (GOKO hoặc GKO) ban hành Nghị quyết số 1488ss về việc huy động 100.000 nữ đoàn viên Komsomol vào các đơn vị phòng không;[7] sau đó một ngày, Bộ Dân ủy Quốc Phòng Liên Xô [en; ru] (NKO) ban hành Lệnh số 0058[b] bổ sung thêm thông tin cho nghị quyết.[8] Trong tháng 4, GOKO đưa ra hai nghị quyết yêu cầu gọi nhập ngũ thêm 70.000 phụ nữ nữa, nâng tổng số người huy động cho làn sóng huy động quy mô lớn lần thứ nhất này lên đến 170.000 người. Những phụ nữ này sẽ đảm nhiệm các nhiệm vụ như bảo quản vũ khí, nạp đạn, văn thư, điện báo, lái xe, nấu ăn, v.v. trong các đơn vị phòng không và thông tin liên lạc.[9]

Sau đó, những thiệt hại đáng kể về người và của Hồng quân phải hứng chịu sau các chiến dịch từ giữa đến cuối năm 1942[c] đã dẫn đến làn sóng huy động phụ nữ quy mô lớn lần thứ hai bắt đầu từ tháng 10. Nó bắt đầu với lệnh tuyển mộ phụ nữ để giải phóng 50.000 lính và hạ sĩ quan phòng không nam cho đơn vị chiến đấu.[1] Tiếp đến là quyết định tổ chức lữ đoàn bộ binh nữ và trung đoàn nữ dự bị.

Thành lập

Ảnh chụp chân dung Vera P. Krylova đăng trên báo Komsomolskaya Pravda ngày 27 tháng 9 năm 1942.[d]

Người được cho là chủ nhân của ý tưởng thành lập các đơn vị bộ binh nữ trong Hồng quân là Vera Petrovna Krylova [en], và người tạo điều kiện để Krylova diện kiến và trình bày ý tưởng đó với các lãnh tụ Liên Xô tối cao là Lidiya Nikolaevna Seifullina. Krylova là một feldsher [en] quân đội, tham chiến từ tháng 8 năm 1941. Vào tháng 10, vì thành công dẫn dắt một phần đoàn xe hậu cần của trung đoàn bị tách rời phá vây, cô được thăng chức đại đội trưởng đại đội quân y và trao Huân chương Cờ đỏ. Kể từ đó, cô được ca tụng như một anh hùng trên một số bài báo in trên các tờ Komsomolskaya PravdaPravda.[10] Trong khi đó, Seifullina là một nhà văn có tiếng trong những năm 1920 và 1940. Bà được trao Huân chương Cờ đỏ Lao động vào năm 1939; các tác phẩm của bà được xuất bản thành tập ba lần và được Stalin ngợi khen.[11] Năm 1942, với tư cách là một phóng viên chiến trường, nhà văn Seifullina đã gặp gỡ và trò chuyện với Krylova trong chuyến công tác đến Phương diện quân Tây. Chính trong cuộc gặp này, Vera Petrovna đã bày tỏ ý tưởng của mình với Seifullina và nhà văn đã viết thư thỉnh cầu Stalin gặp cô ấy. Yêu cầu đã được chấp thuận.[e][10]

Tối ngày 24 tháng 10, Krylova đã đề xuất và trao đổi về ý tưởng thành lập đơn vị bộ binh nữ với Stalin. Beria, Molotov và Andreev cũng tham dự vào cuộc trao đổi. Vào thời điểm đó, Hồng quân đang phải chịu áp lực nặng nề về nhân lực nên đề xuất được coi là phù hợp.[10] Tuy nhiên, sử gia Anna Krylova cho rằng lý do thực dụng này không phải là duy nhất; bà cho rằng sự thiếu hụt nhân lực như "chất xúc tác" cộng với "sự sẵn sàng của chính phủ trong việc chấp nhận khái niệm nữ quân nhân như một phạm trù huy động và huấn luyện chính thức của nhà nước" mới dẫn đến sự hình thành của lữ đoàn.[f][12] Cuối cùng, tháng 11 năm 1942, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Nhà nước, Stalin đã cho phép thành lập Lữ đoàn Bộ binh súng trường Tình nguyện Nữ độc lập số 1 thông qua Nghị quyết số 2470ss, dự kiến hoàn tất trước tháng 2 năm 1943. Lữ đoàn sẽ đóng tại làng Ochakovo và trong khu quân sự bên đường cao tốc Entuziastov. Trong Nghị quyết cũng yêu cầu thành lập một trung đoàn dự bị nữa cho lữ đoàn.[13] Việc thành lập được giao cho Tổng cục chính của Ủy ban Quốc phòng.[10]

Lữ đoàn số 1 này là bước đầu của một kế hoạch lớn – GOKO đã xây dựng kế hoạch tổ chức 50 lữ đoàn nữ với quân số 2.600 người mỗi lữ đoàn và một lữ đoàn nữ dự bị. Đồng thời, quyết định đào tạo 2.000 sĩ quan trung cấp[g] nữ cũng được thiết kế chủ yếu bởi Phó dân ủy Quốc phòng Liên Xô Yefim A. Shchadenko và Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn Nikolai A. Mikhailov.[14][h] Tổng cộng, kế hoạch dự kiến yêu cầu tuyển mộ tới 162.000 nữ thanh niên. Lúc biết đến kế hoạch, lo ngại về sự thiếu hụt phụ nữ có thể huy động tại hậu phương, Mikhailov đã gửi thư đến Shchadenko đề xuất giảm từ 50 xuống 25 lữ đoàn.[1]

Quá trình tuyển quân

Nhiệm vụ tuyển 12.000 người được thực hiện bởi các ủy ban Đoàn Thanh niên Komsomol và các ủy ban tuyển quân địa phương, bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1942.[15] Trong đó 1.000 người là quân nhân tại ngũ: 175 người từ Phương diện quân Tây Bắc, Kalinin, Bryansk, Voronezh, 300 người từ Phương diện quân Tây.[13] Những người này dự kiến sẽ được đào tạo thành sĩ quan cấp trung và giữ tất cả các vị trí chỉ huy và chính trị trong lữ đoàn sau khi hoàn thành huấn luyện. Trước đó, các vị trí này được tạm thời đảm nhiệm bởi 913 sĩ quan nam.[16] Còn lại 11.000 người là tân binh tuyển chọn từ 12 thành phố và các nước cộng hòa tự trị Komi, Tatar, UdmurtBashkir thuộc Nga Xô viết.[17]

Quá trình tuyển quân được tiến hành dựa trên nhiều tiêu chuẩn. Quan trọng nhất là những người phụ nữ được chọn phải tự nguyện; bên cạnh đó: có học vấn ít nhất bốn lớp, khỏe mạnh, từ 18 đến 26 tuổi, và sở hữu lý lịch trong sạch. Họ có thể là đoàn viên Komsomol hoặc không. Phụ nữ mang thai, có người thân phụ thuộc, xuất thân từ Tây Ukraina hay Tây Belarus cũng như các vùng từng bị chiếm đóng bởi quân Đức, hoặc mang quốc tịch của bất kì quốc gia nào đang chiến tranh với Liên Xô đều phải loại trừ.[18]

Ở Moskva, họ nhanh chóng giải quyết xong cho chúng tôi. Đưa chúng tôi lên thùng xe tải trực ban, chở đến một cơ sở quân sự nào đó. Tại đó, họ cho chúng tôi ngồi vào bàn, đặt trước mặt lọ mực, phát bút và một tờ giấy trắng. Mỗi người phải viết một lá đơn (mẫu văn bản đã để sẵn trên bàn), trong đó bày tỏ nguyện vọng xin được nhập ngũ tình nguyện vào hàng ngũ Hồng quân để bảo vệ Tổ quốc khỏi bọn phát xít Đức xâm lược.

Ida Ruvimovna Lakhman (Shraiter), được dẫn lại.[10]

Tuy nhiên, thực tế không phải các quy định này đều được tuân thủ nghiêm ngặt. Sở chỉ huy lữ đoàn đã phàn nàn và cáo buộc những cơ quan phụ trách tuyển quân về sự cẩu thả khi họ phải tiếp nhận liên tục phụ nữ mang thai hoặc không có chuyên môn cần thiết. Một vài người "thiếu tin cậy về mặt chính trị" cũng được gửi đến lữ đoàn – một trong số đó thậm chí tuyên bố rằng "Ở với Hitler còn tốt hơn là ở đây".[19] Bên cạnh đó, lữ đoàn còn ghi nhận một số trường hợp binh sĩ công khai không muốn phục vụ trong quân đội, cho thấy tiêu chuẩn tự nguyện không phải lúc nào cũng được đảm bảo. Ngoài ra, việc tuyển quân vốn dự kiến hoàn thành trong một tháng lại kéo dài đến hết năm 1943.[20]

Tổ chức

GOKO dự định lữ đoàn sẽ biên chế 6.983 người.[21] Bộ chỉ huy lữ đoàn ban đầu có 64 người, trong đó có năm sĩ quan nữ tất cả đều tốt nghiệp trường quân sự trước chiến tranh và đang tại ngũ.[22]

Một số nhân sự của bộ chỉ huy lữ đoàn
Họ và tênCấp bậcChức vụGhi chú
KovalenkoĐại táLữ đoàn trưởngĐược bổ nhiệm khi lữ đoàn thành lập.[21]
Sergey I. AleksandrovĐại táLữ đoàn trưởngĐược bổ nhiệm tháng 8 năm 1943 và giữ vị trí này cho đến khi lữ đoàn giải thể.[23]
P. D. KarasaevTrung táLữ đoàn trưởngGiữ vị trí lữ đoàn trưởng cho đến trước ngày 10 tháng 5 năm 1943.[24]
F. SimonovaThiếu táChính ủy Lữ đoàn - Phó lữ đoàn trưởngĐược bổ nhiệm đầu năm 1943.[25]
Vera P. KrylovaThiếu táPhó lữ đoàn trưởng phụ trách tác chiếnKrylova bị NKVD bắt giữ ngày 19 tháng 11 năm 1943 và bị kết án 3 năm giam giữ trong Gulag với tội lừa đảo và cướp bóc.[i][10]
Irina A. LunacharskayaThiếu tá -kỹ sưTrưởng phòng hóa họcBà là con gái của cựu Dân ủy Giáo dục Liên Xô Anatoly Vasilyevich Lunacharsky [en; ru].
Z. N. FillinovaĐại úyTrưởng phòng thông tin liên lạc
N. F. NotarievaThiếu tá -bác sĩTrưởng bộ phận quân y lữ đoàn
V. V. Soboleva(không rõ) - bác sĩTrung đội trưởng trung đội quân y – cứu thương[22]

Tổ chức của lữ đoàn là một ví dụ của tổ chức lữ đoàn kiểu mới của quân đội Liên Xô được giới thiệu trong Nghị quyết số 2124ss của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước ngày 29 tháng 7 năm 1942. Theo đó, lữ đoàn gồm:

  • bốn tiểu đoàn súng trường độc lập (số 1, 2, 3, 4)
  • một tiểu đoàn huấn luyện (400 người)
  • một tiểu đoàn tiểu liên
  • một tiểu đoàn súng cối
  • một tiểu đoàn pháo binh
  • một đại đội súng máy
  • một phân đội trinh sát
  • một đại đội thông tin liên lạc
  • một đại đội công binh
  • một đại đội vận tải (gồm một phân đội 60 lính nam phụ trách bốc dỡ hàng hóa)
  • một đại đội y tế điều dưỡng
  • một xưởng bánh mì.

Bên cạnh đó, những tiêu chuẩn về số binh lính phụ trách một loại vũ khí cũng được điều chỉnh tăng lên, ví dụ 6 người cho một khẩu súng cối 82mm thay vì 5 người như bình thường.[26]

Lịch sử

Trong những ngày của cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, người phụ nữ Xô Viết một lần nữa đã chứng minh một cách không thể chối cãi rằng họ là những người đồng chí xứng đáng. Họ chiến đấu chống lại kẻ thù truyền kiếp—chủ nghĩa phát xít Đức—lao động quên mình vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và trong ngọn lửa của những trận chiến khốc liệt. Cao cả và cao quý biết bao hình ảnh người phụ nữ Xô Viết, những người bảo vệ tự do, danh dự và phẩm giá của mình, bảo vệ mái ấm gia đình, tương lai của con cái và quyền được hạnh phúc. Toàn thể nhân loại tiến bộ dõi theo cuộc đấu tranh của họ, được truyền cảm hứng bởi lòng can đảm, sự kiên cường và chủ nghĩa anh hùng của họ.

Một phần lời tuyên thệ của các nữ binh sĩ của lữ đoàn.[22]

Huấn luyện

Lữ đoàn bắt đầu huấn luyện theo chương trình huấn luyện kéo dài ba tháng cho bộ binh từ giữa tháng 12 năm 1942 và kết thúc vào tháng 5 năm 1943. Nội dung bao gồm đối kháng tay đôi, hành quân bền từ 17 đến 40 km, kỹ thuật tấn công ngày và đêm, thực hành bắn súng các loại (súng trường, súng máy cầm tay và đặt giá, pháo chống tăng 45mm và 76mm, súng cối). Những người thuộc các đơn vị chuyên biệt (pháo binh, công binh,...) thì được huấn luyện chuyên sâu hơn. Cuối giai đoạn huấn luyện, lữ đoàn đã tổ chức tập trận gồm một cuộc hành quân 75km, trong đó mọi vũ khí cấp lữ đoàn được đưa vào tác chiến.[27]

Hoạt động

Nghị quyết số 2470ss ghi rằng lữ đoàn thành lập "để đáp ứng mong muốn của phụ nữ được cầm vũ khí bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa". Vai trò của lữ đoàn được quy định cụ thể hơn trong một sắc lệnh ban hành tháng 2: "canh gác các đơn vị đồn trú, các cơ sở quân sự trọng yếu, các đầu mối đường sắt, nhà kho cũng như kiểm soát giao thông".[28]

Sau khi hoàn thành huấn luyện, vào tháng 5 năm 1943, họ được giao đi đào hào và xây dựng các công sự phòng thủ. Trước Trận Vòng cung Kursk (chiến dịch nổ súng vào đầu tháng 7), lữ đoàn đã được chuẩn bị để lên mặt trận, họ đã được phát đồng phục và khẩu phần ăn mới, nhưng rốt cuộc quyết định bị hủy. Lý do là tình hình kỷ luật kém trong lữ đoàn.[21] Bên cạnh đó, Thiếu tá Krylova đã khơi gợi về khả năng quân Đức lợi dụng việc bắt được lính nữ của Hồng quân để tuyên truyền, bêu riếu.[10] Đến tháng 10, họ tham gia xây dựng hệ thống tàu điện ngầm Moskva, bên cạnh đó còn phải thu hoạch cỏ khô và làm các công việc đồng áng khác tại những nông trường tập thể địa phương.[29]

Tháng 9 năm 1943, Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương Đoàn Mikhailov đã gửi thư phàn nàn đến Ủy ban Trung ương Đảng. Ông viết rằng huấn luyện lặp lại, vô ích đã "ảnh hưởng tồi tệ đến sĩ khí của sĩ quan và binh lính" và kỉ luật của lữ đoàn. Chính ông cũng ủng hộ việc điều động lữ đoàn ra tiền tuyến và thúc giục phải có quyết định ngay lập tức về việc này.[j][28] Câu trả lời từ ban lãnh đạo đảng đến vào khoảng hai tháng sau: Phó Tổng tham mưu trưởng Hồng Quân Aleksey I. Antonov đã yêu cầu chuyển giao lữ đoàn thành đơn vị NKVD trước ngày 20 tháng 11 cùng năm.[21]

Lối vào Kuntsevo Dacha.

Lữ đoàn được phân tách và điều động đến các thị trấn và làng mạc ở tỉnh Smolensk: trụ sở lữ đoàn và các đơn vị hỗ trợ - thị trấn Dorogobuzh, tiểu đoàn súng trường độc lập (OSB) số 1 – thị trấn Vyazma, OSB số 2 – thị trấn Spas-Demensk, OSB số 3 – Pochinok, Roslavl và Yelnya. Từ 8 tháng 1 đến 28 tháng 5, những đơn vị này của lữ đoàn đã tuần tra, bảo vệ và phòng thủ tuyến sau của các đơn vị quân đội tiến công theo hướng tác chiến Belarus. Cụ thể, họ làm việc ở các trạm kiểm soát, kiểm tra giấy tờ, bắt giữ lính đào ngũ, người trốn nghĩa vụ quân sự và những người trốn khỏi các xí nghiệp công nghiệp quốc phòng và trấn áp phần tử phá hoại, phản xã hội. Nửa cuối tháng 4, lữ đoàn cùng với các đơn vị NKVD khác thực hiện chiến dịch dọn dẹp ở hậu cứ Phương diện quân Tây. Trong đó, tiểu đoàn tiểu liên của lữ đoàn, vẫn đóng tại Ochakovo, làm nhiệm vụ xung quanh khu Kuntsevo Dacha của Stalin[k] và trụ sở Stavka. Một người lính tên Elena Savicheva đã bắt giữ một điệp viên Đức giả dạng một đại tá với ngôi sao Anh hùng Liên Xô trên áo tại trạm kiểm soát và nhận được lời cảm ơn cá nhân từ Stalin. Trong giai đoạn này, lữ đoàn lần đầu tiên ghi nhận tổn thất về nhân sự.[21][24]

Đời sống và kỷ luật

Điều kiện sống của binh sĩ Hồng quân và thường dân Liên Xô vốn đã thiếu thốn và tồi tàn từ thập niên 1930 trong chiến tranh trở nên khắc nghiệt hơn rất nhiều. Lữ đoàn cũng không thoát khỏi tình trạng đó. Doanh trại thiếu chỗ ở và những tiện nghi vệ sinh cơ bản hoặc không có hoặc bị hỏng. Nhà bếp và căng tin cũng bẩn thỉu vì chỉ được rửa bằng nước lạnh, còn nhà chứa đồ ăn thì lắm chuột. Nghiêm trọng nhất là việc thiếu nước sạch: việc tắm rửa trong lữ đoàn phải dùng tuyết. Sau đó, lữ đoàn sắp xếp cho các đơn vị đi tắm định kỳ mỗi tuần một lần ở thị trấn Kuntsevo. Tuy nhiên nó lại dẫn đến một vấn đề khác. Thời gian tàu dừng ở Ochakovo chỉ một phút khiến các cô gái phải nhảy lên nhảy xuống khỏi con tàu đang chạy. Hậu quả là có người đã thiệt mạng, một số khác bị chấn thương như gãy tay hoặc què chân. Đối phó với vấn đề này, chỉ huy lữ đoàn đã phải tăng thời gian tàu dừng lên ba phút. Bên cạnh đó, đôi khi các quy định vệ sinh không được tuân thủ, buộc các chỉ huy phải áp dụng biện pháp kiểm tra và răn đe nghiêm khắc hơn. Cả lữ đoàn phải "chiến đấu" với chấy rận và bệnh da liễu truyền nhiễm mãi đến tận tháng 4 năm 1944.[31]

Vào những tháng huấn luyện đầu, vì thiếu quân phục mùa đông phù hợp, các cô lính của lữ đoàn phải mặc chân váy bông hoặc quân phục quá khổ (kích cỡ dành cho đàn ông). Phải đến mùa đông năm 1943, đồng phục mùa đông thiết kế cho lính bộ binh nữ mới được cấp phát cho lữ đoàn, trong đó có quần bông nữ với một vạt cài rời mà, theo chính trị viên của đại đội trinh sát Morozova, "rất tiện lợi".[l][32]

Việc các nhiệm vụ lữ đoàn được giao trái ngược với kỳ vọng được chiến đấu và sự thiếu chắc chắn về triển vọng của lữ đoàn đã góp phần làm tồi tệ tâm trạng của nhiều người lính trong lữ đoàn. Nó đã trở thành một trong những lý do làm cho vấn đề kỷ luật của lữ đoàn trầm trọng hơn trong năm 1943.[33] Ví dụ như đào ngũ.

Đào ngũ là một vấn nạn xuyên suốt trong thời gian lữ đoàn tồn tại. Từ tháng 11 năm 1942 đến tháng 3 năm 1944 xảy ra tổng cộng 188 vụ đào ngũ, với cao điểm rơi vào tháng 12 năm 1942, tháng 5 và tháng 8 năm 1943, mỗi tháng khoảng 30 vụ.[34] Điều đáng ngạc nhiên là phần lớn trong số đó là "đào ngũ đến tiền tuyến" – Bí thư Ủy ban Trung ương Đoàn Mikhailov đã báo cáo rằng trong số 131 cô đã đào ngũ, hầu hết ra tiền tuyến.[28] Những người khác thì đã gửi hàng trăm bức thư đến các lãnh đạo cao cấp nhất như StalinVoroshilov để xin được điều ra mặt trận. Một số thành công, một số không thành và đào ngũ. Tuy nhiên, còn có những nguyên nhân khác. Ví dụ như việc phụ nữ không thể thích nghi với đời sống quân ngũ, sự thiếu tin tưởng vào năng lực quân sự của lữ đoàn, mối quan hệ không tốt giữa các chỉ huy (phần lớn là nam và có cả nữ) và nữ binh, hay những lá thư của những người từng đào ngũ và sau đó được gửi đến các đơn vị tiền tuyến kể về chiến công của họ; các chỉ huy lữ đoàn đã báo cáo. Còn các chính trị viên cho rằng lao động nặng nhọc và tình trạng thiếu thốn đã bào mòn tinh thần của các nữ binh.[35]

Sở chỉ huy lo ngại rằng các vụ đào ngũ xảy ra một phần là vì niềm tin rằng đào ngũ "đến tiền tuyến" sẽ không bị kỷ luật nặng. Vì vậy, những buổi xét xử công khai kẻ đào ngũ đã diễn ra. Có hai trường hợp bị kết án tử hình. Nhưng sau vài tuần bản ản được giảm nhẹ và họ lại được gửi ra mặt trận như ý nguyện. Các trường hợp sau đó bị xử giam 10 năm ở Gulag.[36]

Lữ đoàn cũng ghi nhận các trường hợp tự tử hoặc cố gắng tự tử. Có trường hợp dùng thắt lưng để treo cổ, có trường hợp dùng súng. Nguyên nhân thường là áp lực về tinh thần. Đôi khi là mối quan hệ căng thẳng giữa binh lính và chỉ huy (phần lớn là nam) – một trung úy tự sát vì "đang mang thai và cô ấy không muốn có con mà không có cha".[37]

Các tài liệu lữ đoàn còn nêu rõ những vấn đề do quan hệ giới tính gây ra và sự mất cân bằng giới tính rõ rệt trong lữ đoàn. Chỉ có năm sĩ quan nữ trong sở chỉ huy lữ đoàn. Những sĩ quan nữ khác thường được bổ nhiệm làm chính trị viên ở các đơn vị trực thuộc cấp thấp hơn. Ban đầu, GOKO đã chuẩn bị tiểu đoàn huấn luyện để đào tạo sĩ quan nữ tại chỗ và gửi người đến Trường Bộ binh Ryazan. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến giới tính đã khiến họ buộc phải đẩy nhanh việc thay thế các chỉ huy cấp thấp nam bằng chỉ huy nữ, hoàn thành tháng 5 năm 1943. Sau đó, các chính trị viên đã ít báo cáo về các vụ vi phạm kỷ luật và tranh cãi với chỉ huy hơn; thay vào đó họ báo cáo về sự thiếu kinh nghiệm làm việc trong quân đội và khả năng ra lệnh các nữ chỉ huy mới tốt nghiệp. Mối quan hệ giữa các chính trị viên và sĩ quan nữ với các sĩ quan nam cũng không mấy tốt đẹp. Sau khi các chỉ huy nữ cấp trung được bổ nhiệm tháng 6, báo cáo về các vụ "chung sống" với cấp dưới giảm đáng kể, còn các vụ sĩ quan nam áp bức sĩ quan nữ cấp thấp hơn tăng đột biến. Vấn đề các sĩ quan nam coi thường quyền hạn của các sĩ quan nữ đã lan rộng đến tận sở chỉ huy lữ đoàn – một đại úy nam đã mặc kệ mệnh lệnh của Chính ủy Lữ đoàn F. Simonova.[38] Bên cạnh đó, kỷ luật quân đội và đạo đức còn bị suy yếu bởi các mối quan hệ tình dục và sự quấy rối tình dục. Điều này thường xảy ra giữa sĩ quan nam và binh lính nữ. Các chính trị viên cũng lo ngại về sự suy đồi đạo đức khi những người ở trong một mối quan hệ tình dục, thường là sĩ quan nam và đôi khi nữ, đã có gia đình. Vấn nạn trở nên nhức nhối vào giữa năm 1943, buộc ban lãnh đạo chính trị phát động một chiến dịch giáo dục, tuyên truyền, siết chặt kỷ luật để đối phó.[39]

Sau khi chuyển giao cho NKVD vào tháng 11, kỷ luật trong lữ đoàn đã được cải thiện đáng kể. Các trường hợp say xỉn, trộm cắp và hành vi vô đạo đức đã giảm bớt và chỉ xảy ra riêng lẻ. Không có trường hợp đào ngũ nào trong tháng 12 và trong ba tháng đầu năm 1944 chỉ xảy ra 10 vụ. Tháng 1 năm 1944, nạn "chung sống với cấp dưới" cũng được báo cáo là đã không còn xuất hiện nữa.[40]

Giải thể

Đầu năm 1944, cục diện mặt trận Xô–Đức trái ngược rõ ràng so với mùa đông năm 1942, lúc này, quân đội Liên Xô nắm thế chủ động và có ưu thế trước quân đội Đức Quốc Xã. Hồng quân đã phá vỡ vòng vây thành phố Leningrad và giải phóng tỉnh Leningrad, đồng thời lấy lại được phần lớn lãnh thổ Ukraina sau Chiến dịch tấn công hữu ngạn Dniepr. Cardona và Markwick cho rằng những diễn biến tích cực này khiến phụ nữ trở nên không cần thiết trong quân đội thường trực ngay cả ở hậu phương, và vì vậy lữ đoàn bị giải thể.[41] Bên cạnh đó, Golodyaev cho rằng việc thiếu chuẩn bị chung cho các nhiệm vụ chiến đấu cũng là lý do khiến cho việc sử dụng lữ đoàn bị loại trừ.[10]

Ngày tháng ghi trên các tài liệu lưu trữ của lữ đoàn đột ngột dừng lại ở giữa năm 1944. Ngày 31 tháng 7 cùng năm, theo lệnh của NKVD, lữ đoàn chính thức giải thể.[42] Những thành viên của lữ đoàn hoặc được điều động đến các đơn vị tiền tuyến, hoặc được gửi đi làm việc tại các nông trang; số còn lại được gửi về nhà.[10]

Đơn vị liên quan

Trung đoàn Bộ binh súng trường Nữ độc lập dự bị số 1

Tháng 11 năm 1942, đóng ở thành phố Serpukhov tại Quân khu Moskva, Trung đoàn Bộ binh súng trường Nữ độc lập dự bị số 1 (tiếng Nga: 1-й Отдельный запасной женский стрелковый полк) được thành lập nguyên để chuẩn bị lực lượng dự bị cho 1st OZhDSB, với quân số 3.200 người.[m] Trung đoàn gồm bốn tiểu đoàn huấn luyện, một tiểu đoàn súng máy (hai đại đội súng máy, một đại đội súng tiểu liên và một trung đội súng chống tăng), hai tiểu đoàn súng trường độc lập (mỗi tiểu đoàn có ba đại đội súng trường) và một tiểu đoàn bắn tỉa. Hầu hết chỉ huy của các đơn vị từ cấp tiểu đội đến tiểu đoàn là nữ; phó chỉ huy trung đoàn phụ trách chính trị và những người phụ trách công tác đoàn cũng là nữ. Mùa hè năm 1943, họ được gửi đến một nông trường quốc doanh lân cận để cắt cỏ khô trong một tháng. Đến tháng 10, trung đoàn chuyển đến đóng ở làng Podberezye thuộc vùng Kalinin (vị trí của làng này nay thuộc thành phố Dubna). Tháng 5 năm 1944, không lâu trước khi lữ đoàn giải thể, trung đoàn giải thể vì không có mục đích hoạt động rõ ràng.[43]

Trong suốt thời gian hoạt động, tổng cộng trung đoàn đã huấn luyện mới 5.175 lính và chỉ huy Hồng quân: 3.892 binh nhì, 986 hạ sĩ quan và 297 sĩ quan; bên cạnh đó còn huấn luyện lại 1.504 hạ sĩ quan và 517 sĩ quan trong đó có 500 người là binh sĩ tiền tuyến. Tính riêng năm 1943, trung đoàn đã bổ sung 489 lính thiện xạ, 266 lính súng máy, 217 lính súng cối cho các đơn vị quân đội thường trực và 829 lính cho lữ đoàn nữ.[44]

Đại đội Công binh Nữ số 12

Tháng 11 năm 1942, Đại đội Công binh Nữ số 12 thuộc Trường Kỹ thuật Quân sự Moskva [ru] được hình thành. Đây là đơn vị nữ duy nhất trong lịch sử trường.[45] Tại trường, đại đội được bố trí nơi ở riêng tại tầng trên cùng của một tòa ký túc xá. Họ học khá nhanh lý thuyết và được huấn luyện thực địa nhiều nội dung khác nhau.[46] Khó khăn họ gặp phải chủ yếu về thể chất và việc chấp hành động tác điều lệnh – năm người không chịu được áp lực và không tốt nghiệp.[47] Năm học viên xuất sắc nhất đã tốt nghiệp sớm sau 11 tháng huấn luyện. Tháng 1 năm 1944, những người còn lại tốt nghiệp sau 12 tháng với hàm thiếu úy và nhận lệnh ra mặt trận. Mệnh lệnh của những sĩ quan nữ này đặc biệt ở chỗ nó cấm họ làm việc tại ban tham mưu mà chỉ được phép phục vụ trên tiền tuyến, nắm quyền chỉ huy một trung đội công binh. Ngoài ra, những học viên xuất sắc được giữ lại trường làm chỉ huy trung đội huấn luyện. Một số người bị giữ lại đã xin ra mặt trận và được điều đến Phương diện quân Tây.[48] Tổng cộng, trong số 80 người được gửi đến trường ban đầu, 77 người được chọn (theo một nguồn khác: 75 người)[47], 5 người tốt nghiệp sớm và 60 người đã tốt nghiệp đúng thời hạn.[49][47] Hầu hết những học viên tốt nghiệp từ đại đội huấn luyện này sống sót đến khi chiến tranh kết thúc, giải ngũ và trở về cuộc sống dân sự.[48][45]

Tất cả tài liệu về đại đội số 12 được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự về Pháo binh, Công binh và Binh chủng Thông tin liên lạc [ru] ở thành phố Leningrad (Sankt-Peterburg ngày nay).[45] Ngoài ra, hai cựu chiến binh của đại đội, thiếu úy Stanislava P. Volkova và trung úy Appolina N. Liskevitch-Baïrak, đã có dịp thực hiện phỏng vấn với Svetlana Alexievich. Nhà văn đã biên tập và xuất bản lời kể của họ trong tác phẩm "Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ".[50] Năm 1989, hồi ký "Tôi là một người lính công binh" (tiếng Nga: Я – сапер) của Appolina Nikonovna được xuất bản trong cuốn tổ hợp hồi ký "Hai cuộc đời. Tôi là một người lính công binh" (Две жизни. Я – сапер).[51]

Xem thêm

  • Tiểu đoàn Nữ Độc lập số 1 mang tên Emilia Plater

Chú giải

  1. Xem chi tiết: Trận Moskva (1941).
  2. Những lệnh có hai số "0" đứng trước được phân loại "Tuyệt mật". Những lệnh có một số "0" đứng trước được phân loại "Mật".
  3. Xem thêm: Chiến dịch Barvenkovo–Lozovaya, Chiến dịch Krym – Sevastopol (1941–1942), Chiến dịch Kavkaz, Trận Stalingrad.
  4. Đoạn văn dưới bức ảnh tạm dịch là: "Đại úy-hậu cần Cận vệ Vera Petrovna Krylova. Danh tiếng của nữ chiến sĩ Komsomol dũng cảm, chỉ huy trưởng đại đội quân y của sư đoàn cận vệ, đã lan rộng khắp Phương diện quân Tây. Cho đến ngày 22 tháng 6 năm 1941, Vera Petrovna là giáo viên địa lý tại trường trung học mười năm của huyện Tatarsky, tỉnh Novosibirsk. Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, Vera Krylova đã tình nguyện ra mặt trận. Khi đó Vera Krylova 21 tuổi. Trong các trận chiến, cô đã bốn lần bị thương. Trên ngực cô có hai huân chương. Bạn đọc có thể tìm hiểu chi tiết hơn về cuộc đời và hoạt động chiến đấu của nữ chiến sĩ Komsomol dũng cảm này ở trang hai, trong bài viết 'Đại úy hậu cần Cận vệ'.N. Lagina"
  5. Nhà văn Seifullina đã viết về các anh hùng trẻ tuổi trong cuộc chiến: cô du kích, Anh hùng Liên Xô Yelizaveta "Liza" Ivanovna Chaikina và cậu du kích Sergey "Seryozha" Vorontsov. Cuốn sách tên "Ruy băng xanh" (Зеленые ленточки) của bà về Vera Krylova được xuất bản năm 1943. Một bản của nó được trao cho Stalin vào ngày 10 tháng 9 năm 1943 với lời đề: "Gửi Iosif Vissarionovich Stalin, vị Nguyên soái lừng lẫy của đất nước chúng ta, từ một nhà văn Liên Xô hết lòng yêu mến ngài".[10] Cuốn sách này không thường được liệt kê trong danh sách tác phẩm của Seifullina.
  6. Trước đó, Liên Xô đã thành lập ba trung đoàn không quân nữ – Trung đoàn Không quân Tiêm kích số 586, Ném bom số 587, Ném bom đêm hạng nhẹ số 588 – vào tháng 10 năm 1941.
  7. Sĩ quan trung cấp gồm thiếu úy, trung úy và thượng úy.
  8. Phụ lục số 2 của Nghị quyết GOKO số 2470ss ngày 3 tháng 11 năm 1942 ghi yêu cầu cụ thể về chuyên môn đào tạo cho 2.000 người này:
    • Bộ binh: 1.500 người (Trường Bộ binh Ryazan)
    • Pháo binh: 300 người (Trường Pháo binh Penza)
    • Thông tin liên lạc: 90 người (Các trường Thông tin Quân sự Kuibyshev)
    • Công binh: 80 người (Trường Kỹ thuật Quân sự Moskva)
    • Hóa học: 30 người (Trường Phòng hóa Quân sự Kalinin)[13][14]
  9. Việc Vera P. Krylova bị bắt giữ đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp của nhà văn Lidiya N. Seifullina. Các tác phẩm của bà không còn được xuất bản và chỉ được tái bản sau khi bà qua đời vào năm 1954.
  10. Chữ "tiền tuyến" trong thư của Mikhailov đã bị gạch bỏ ba lần, và điều đó, theo Cardona và Markwick, biểu thị mạnh mẽ rằng "ban lãnh đạo đảng chưa bao giờ có ý định điều động các lữ đoàn ra tiền tuyến".
  11. Kuntsevo Dacha là một dacha của Stalin nằm ở thành phố Kuntsevo (bây giờ là quận Kuntsevo thuộc Moskva). Nó còn được gọi với cái tên Ближняя дача (Blizhnyaya Dacha), nghĩa là "dacha gần".[30]
  12. Trước đó, vào cuối năm 1942, Bộ Dân ủy Quốc phòng Liên Xô đã thành lập một bộ phận chuyên sản xuất và phân bố quân phục nữ. Đến tháng 1 năm 1943, cùng với sự trở lại của quân hàm đeo ở cầu vai, một số thay đổi về đồng phục cũng được quy định. Đối với quân phục nữ, giờ đây chúng được phân thành các loại dã chiến, thường phục và lễ phục; thiết kế đa dạng cho các vai trò chiến đấu và phi chiến đấu khác nhau.
  13. Điều này được nêu ra trong điều 8 của Nghị quyết số 2470ss.

Tham khảo

Chú thích

  1. 1 2 3 Cardona & Markwick 2009, tr. 243.
  2. Cardona & Markwick 2009, tr. 240.
  3. Krylova 2010, tr. 164–165.
  4. Cardona & Markwick 2009, tr. 242.
  5. Krylova 2010, tr. 110–113.
  6. Krylova 2010, tr. 146.
  7. "Государственный Комитет Обороны Постановление № ГОКО-1488сс от 25 марта 1942 г." [Nghị quyết số 1488ss của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước (GOKO) ngày 25 tháng 3 năm 1942]. www.soldat.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2025.
  8. Barsukov 1997, tr. 184–185. Xem Lệnh số 0058.
  9. Cardona & Markwick 2009, tr. 242; Barsukov 1997, tr. 212–215. Cụ thể là Lệnh số 0284 ngày 14 tháng 4Lệnh số 0297 ngày 19 tháng 4.
  10. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Golodyaev 2020.
  11. Kapitonova 2023.
  12. Krylova 2010, tr. 167.
  13. 1 2 3 "Государственный Комитет Обороны. Постановление № ГОКО-2470сс от 3 ноября 1942 г." [Nghị quyết số 2470ss của Ủy ban Quốc phòng Nhà nước (GOKO) ngày 3 tháng 11 năm 1942]. www.soldat.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2025.
  14. 1 2 Krylova 2010, tr. 164.
  15. Cardona & Markwick 2009, tr. 245.
  16. Cardona & Markwick 2009, tr. 257; Faller & Maltseva 2017, tr. 67; Golodyaev 2020.
  17. Cardona & Markwick 2009, tr. 245; Krylova 2010, tr. 165.
  18. Cardona & Markwick 2009, tr. 245–246; Golodyaev 2020.
  19. Cardona & Markwick 2009, tr. 247. Nguyên văn: "Even more dramatic was the disillusionment of a Junior Sergeant Riazanova* [Dấu hoa thị được tác giả nghiên cứu sử dụng để chỉ rằng họ của người được đề cập là họ giả được sử dụng để bảo vệ danh tính của người đó. (phần chú thích trang đầu nghiên cứu)], who was to be expelled from the Komsomol for making such “counterrevolutionary declarations” [...] There she “conducted herself badly and threw down her Komsomol ticket, exclaiming, ‘Better to be with Hitler than here!’” ".
  20. Cardona & Markwick 2009, tr. 246–247.
  21. 1 2 3 4 5 "1-я отдельная женская стрелковая добровольческая бригада" [Lữ đoàn Bộ binh Tình nguyện nữ độc lập số 1]. БУК Омской области «Областной дом ветеранов» (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2025.
  22. 1 2 3 Cardona & Markwick 2009, tr. 257.
  23. Cardona & Markwick 2009, tr. 259; Golodyaev 2020.
  24. 1 2 Cardona & Markwick 2009, tr. 244; Golodyaev 2020.
  25. Cardona & Markwick 2009, tr. 259.
  26. Cardona & Markwick 2009, tr. 243–244; Faller & Maltseva 2017, tr. 67.
  27. Cardona & Markwick 2009, tr. 244; Krylova 2010, tr. 166; Golodyaev 2020.
  28. 1 2 3 Cardona & Markwick 2009, tr. 250.
  29. Cardona & Markwick 2009, tr. 244.
  30. Ying, Stephanie. "Joseph Stalin's Dacha: The Riches of Power Beyond Authority". Humanities 54: The Urban Imagination (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2026.
  31. Cardona & Markwick 2009, tr. 248–249; Golodyaev 2020.
  32. Krylova 2010, tr. 167–168; Golodyaev 2020.
  33. Cardona & Markwick 2009, tr. 250; Golodyaev 2020.
  34. Cardona & Markwick 2009, tr. 254.
  35. Cardona & Markwick 2009, tr. 253; Golodyaev 2020.
  36. Cardona & Markwick 2009, tr. 251–252.
  37. Cardona & Markwick 2009, tr. 255-256; Golodyaev 2020.
  38. Cardona & Markwick 2009, tr. 257-259.
  39. Cardona & Markwick 2009, tr. 260-261.
  40. Cardona & Markwick 2009, tr. 254, 261; Golodyaev 2020.
  41. Cardona & Markwick 2009, tr. 262.
  42. Cardona & Markwick 2009, tr. 241-242.
  43. Faller & Maltseva 2017, tr. 67–68; Murmartseva 1974, tr. 132–133; Golodyaev 2020.
  44. Faller & Maltseva 2017, tr. 67–68; Murmartseva 1974, tr. 132–133.
  45. 1 2 3 "ЖЕНСКАЯ РОТА" [Đại đội nữ]. ВОЕННЫЕ ДОРОГИ БИБЛИОТЕКАРЕЙ ВИТЕБЩИНЫ (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2025.
  46. Faller & Maltseva 2017, tr. 63–64.
  47. 1 2 3 Denisov 2005.
  48. 1 2 Faller & Maltseva 2017, tr. 64.
  49. "ДВЕНАДЦАТАЯ РОТА" [Đại đội số mười hai]. Московское Краснознаменное ВИУ в Калининграде (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2025.
  50. Alexievich 2023, tr. 274–276, 302–322.
  51. "БАЙРАК-ЛИЦКЕВИЧ Апполина Никоновна (Николаевна)" [Liskevitch-Baïrak Appolina Nikonovna (Nikolayevna)]. ВОЕННЫЕ ДОРОГИ БИБЛИОТЕКАРЕЙ ВИТЕБЩИНЫ (bằng tiếng Nga). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2025.

Sách và nghiên cứu

Trực tuyến

Đọc thêm

  • Kazakov, A., biên tập (1995). Женщины на защите Отечества 1941–1945 гг [Phụ nữ bảo vệ Tổ quốc 1941–1945] (bằng tiếng Nga). Moskva, Nga: Rossiiskii Komitet veteranov (Ủy ban Cựu chiến binh Nga). ISBN 9785296000224. OCLC 1340689094. OL 61274485M. Có ba quyển. Trong quyển III chứa hồi ký của Nina Morozova, người là chính trị viên của đại đội trinh sát; quyển II chứa lời kể của Tatiana Karelina, người là xạ thủ súng cối trong đại đội súng cối của tiểu đoàn bộ binh số 2.

Liên kết ngoài