Bước tới nội dung

Trận Stalingrad

Trận Stalingrad
Một phần của Mặt trận phía Đông trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Trung tâm thành phố Stalingrad sau cuộc chiến
Thời gian23 tháng 8 năm 1942 – 2 tháng 2 năm 1943
(5 tháng, 1 tuần và 3 ngày)
Địa điểm
Stalingrad, Nga Xô viết, Liên Xô
(nay là Volgograd, Nga)
48°42′B 44°31′Đ / 48,7°B 44,517°Đ / 48.700; 44.517
Kết quả

Liên Xô chiến thắng

Tham chiến
 Liên Xô
Chỉ huy và lãnh đạo
Thành phần tham chiến

Đức Quốc xã Cụm tập đoàn quân B:

  • Đức Quốc xã Tập đoàn quân số 6
  • Đức Quốc xã Tập đoàn quân thiết giáp số 4
  • Vương quốc România Tập đoàn quân số 3
  • Vương quốc România Tập đoàn quân số 4
  • Vương quốc Ý Tập đoàn quân số 8
  • Vương quốc Hungary (1920–1946) Tập đoàn quân số 2

Đức Quốc xã Cụm tập đoàn quân Sông Don

Liên Xô Phương diện quân Stalingrad:

Liên Xô Phương diện quân Sông Don

Liên Xô Phương diện quân Tây Nam

  • Tập đoàn quân cận vệ 1
  • Tập đoàn quân xe tăng 5
  • Tập đoàn quân 21
Lực lượng

Ban đầu:
270.000 quân
3.000 pháo
500 xe tăng
600 máy bay, 1.600 tới giữa tháng 9[1]
Vào thời điểm Hồng quân phản công:
k.1.040.000 quân[2][3][4]


500 xe tăng
10.250 pháo
732 (402 chiếc có thể hoạt động) máy bay[5][6]
Ban đầu:
187.000 quân
2.200 pháo
400 xe tăng
300 máy bay[7]
Giai đoạn phản công:
khoảng 1.143.000 quân[4][8]
894 xe tăng
13.451 pháo
1.115 máy bay[9]
Thương vong và tổn thất
  • 880,000[10]–1,500,000 thương vong[11]
  • Đức Quốc xã Đức Quốc xã:
    300,000+ Tập đoàn quân số 6 và Tập đoàn quân Xe tăng số 4)[12][13][14]
    400,000+ (tất cả đơn vị)[15]
  • Vương quốc Ý Italy:
    114,000[16]-130,000[17]
  • Vương quốc România Romania: 109,000[16]-200,000[17]
  • Vương quốc Hungary (1920–1946)Hungary: 120,000[17]-143,000[13]
  • Hiwi: 19,300–52,000
  • Tổng tổn thất: k.500,000 chết,[18][19] 235.000 bị bắt, 400.000 - 700.000 bị thương
  • 900 máy bay bị phá hủy
  • 1,500 xe tăng bị phá hủy
  • 6,000 pháo bị phá hủy
  • 744 máy bay; 1,666 xe tăng; 5,762 pháo bị thu giữ
478.741 chết, mất tích hoặc bị bắt
650.878 bị thương hoặc bị ốm
4.341 xe tăng bị phá hủy
15.728 pháo
2.769 máy bay [20]
Tổng: 1.129.529 '[21]<br /sualties3 = Tổng thương vong:
1,100,000–3,000,000+[22][23][24][25][26]
Trận Stalingrad trên bản đồ Nga thuộc châu Âu
Trận Stalingrad
Vị trí của Stalingrad (nay là Volgograd) trong nước Nga hiện đại của châu Âu

Trận Stalingrad (23 tháng 8 năm 1942  2 tháng 2 năm 1943)[27][28][29] là một trận đánh lớn diễn ra trong Chiến tranh Xô-Đức giữa Đức Quốc xã cùng với các nước thuộc địa và Hồng quân Liên Xô tại thành phố Stalingrad (nay là Volgograd) ở miền Tây Nam nước Nga. Trận đánh diễn ra từ tháng 8 năm 1942 đến ngày 2 tháng 2 năm 1943, và thường được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng và bước đầu làm xoay chuyển cục diện trong chiến tranh thế giới thứ 2, thậm chí là một trong những bước ngoặt lớn nhất của nền quân sự thế giới trong thế kỷ XX.[30][31] Đây cũng là trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới, với tổng số thương vong của hai bên lên đến 2,1 - 2,5 triệu quân, khiến nó trở thành trận chiến khốc liệt nhất trong toàn Thế chiến 2 và trong lịch sử toàn thế giới.[32][33][34][35][36] Trận chiến đặc trưng bởi những cuộc chiến đấu tầm gần đẫm máu và các cuộc không kích vào dân thường, nó trở thành biểu tượng của chiến tranh đô thị,[37][38][39][40] và là trận đánh trong đô thị lớn nhất cũng như tổn thất lớn nhất trong lịch sử quân sự.[41][42]

Số binh sĩ tham gia trận đánh này nhiều hơn hẳn các chiến dịch lớn khác trong Thế chiến 2, và nó cũng nổi tiếng vì mức độ ác liệt, tổn thất cực lớn cũng như thương vong cao về dân thường. Việc quân Đức thất bại trong việc đánh chiếm Stalingrad và việc Hồng quân Liên Xô phản công bao vây tiêu diệt 33 vạn quân của Tập đoàn quân số 6 (Đức Quốc Xã) cùng với nhiều lực lượng khác của phe Trục xung quanh thành phố đã dẫn tới một trong những thất bại quan trọng nhất của phát xít Đức trong thế chiến thứ hai. Với chiến thắng điểm ngoặt này, Hồng quân đã cầm chắc lợi thế của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.[43] Song, đây không chỉ là một bước ngoặt quyết định[30] và quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc mà còn cả của Chiến tranh thế giới thứ hai vì nó cùng với các chiến thắng ở Tunisia đã mang lại lợi thế và củng cố niềm tin thắng lợi cho toàn khối Đồng Minh,[44] và bắt đầu cho giai đoạn Hồng quân Liên Xô chủ động tổ chức phản công trên toàn mặt trận và đóng góp một phần đáng kể vào sự đầu hàng của phát xít Đức hai năm rưỡi sau đó.

Đợt tấn công Stalingrad của phát xít Đức tiến triển nhanh vào giai đoạn nửa sau năm 1942 dưới sự hỗ trợ mạnh mẽ của không quân Đức Luftwaffe, những trận oanh tạc của lực lượng này đã biến phần lớn thành phố trở thành đống gạch vụn. Tuy nhiên quân Đức nhanh chóng bị sa lầy trong những trận đánh đẫm máu trên đường phố và trong từng căn nhà; và mặc dù đã kiểm soát 90% thành phố nhưng quân Đức đã hoàn toàn thất bại trong việc triệt tiêu những ổ đề kháng cuối cùng của Hồng quân Liên Xô vốn bám trụ một cách vững chắc và kiên cường bên bờ Tây sông Volga, trong lúc đó thì thời tiết khắc nghiệt của mùa đông nước Nga đang đến gần. Cho đến nay, vẫn chưa nhà sử học nào có thể lý giải tại sao Adolf Hitler lại có một quyết định nóng vội như vậy.

Ngày 19 tháng 11 năm 1942, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch Sao Thiên Vương, một đợt tấn công vu hồi gồm hai gọng kìm đánh vào cạnh sườn của Tập đoàn quân số 6 (Đức Quốc xã) đóng tại Stalingrad. Đòn tấn công này đã hoàn toàn thay đổi cục diện của trận đánh: cạnh sườn yếu kém của quân Đức nhanh chóng sụp đổ tan tành và 33 vạn quân của Tập đoàn quân số 6 bị bao vây trong nội thành Stalingrad. Khi mùa đông đến, cái đói, cái lạnh khủng khiếp và những đợt tấn công liên tục của Hồng quân Liên Xô đã làm suy kiệt nhanh chóng lực lượng Đức, tuy nhiên mệnh lệnh không được đầu hàng của Hitler do niềm tin vào "sức mạnh ý chí", vấn đề danh dự nước Đức cùng các tính toán chiến lược khác đã buộc họ phải tiếp tục cố bám trụ mà không được tự ý phá vây. Vào tháng 12 năm 1942, phát xít Đức mở Chiến dịch Bão Mùa đông nhằm giải cứu đội quân bị vây nhưng thất bại, và theo sau đó là toàn bộ hệ thống tiếp vận cho khối quân bị vây cũng sụp đổ theo. Đầu tháng 2 năm 1943, sức kháng cự của khối quân này hoàn toàn bị dập tắt, và Tập đoàn quân số 6 bị tiêu diệt hoàn toàn vào ngày 2 tháng 2 năm 1943.[45] Đối với nước Đức thất thế, trận thua này là tin xấu nhất của họ, và sau thất bại này họ sẽ còn thua trận Kursk với tầm quan trọng chẳng kém.[46][47] Về phần mình, Hồng quân Liên Xô đã phải chịu tổn thất rất lớn lao trong chiến thắng quyết định này.[30][47]

Bối cảnh

Ngày 6 tháng 12 năm 1941, sau khi chặn đứng đà tiến công của phát xít Đức vào thủ đô Moskva, Hồng quân Liên Xô mở đợt phản công nhằm vào các lực lượng của quân đội phát xít Đức (Wehrmacht) đang công kích thành phố và đã đánh họ bật ra khỏi ngoại vi của thủ đô Xô viết.[48] Tuy nhiên đến mùa xuân năm 1942, cơ bản quân Đức chặn được đà phản công của Hồng quân và ổn định mặt trận tại phòng tuyến mới kéo dài từ Leningrad ở phía Bắc đến thành phố Rostov ở phía Nam. Có một số điểm lồi trên mặt trận được hình thành do các đợt phản công của quân Đức, chủ yếu ở Tây Bắc của Moskva và phía Nam của Kharkov, tuy nhiên các vị trí này không đe dọa nhiều đến quân Đức. Ở phía Nam, phát xít Đức đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ Ukraina và bán đảo Krym mặc dù lúc này Sevastopol và một phần bán đảo Kerch vẫn nằm trong tay Hồng quân Liên Xô.

Lúc này Bộ chỉ huy Đức, đứng đầu là Adolf Hitler, nhận thấy rằng không thể đánh thắng Liên bang Xô viết bằng một cuộc chiến tranh chớp nhoáng. Để đánh thắng phía Đức phải tính đến cách đánh tiêu hao: trước tiên phải thủ tiêu các nguồn lực vật chất để Liên Xô suy kiệt trước khi bị đánh bại hoàn toàn. Chiến cuộc mùa hè năm 1942 diễn ra với ý tưởng chỉ đạo chiến lược như vậy và với mục tiêu chiếm những nguồn cung cấp chiến lược quan trọng hàng đầu của Liên Xô - lúa mì, các nguyên liệu công nghiệp sống còn là điện, than, và đặc biệt là dầu mỏ. Tất cả những thứ đó đều nằm ở phía Nam nước Nga, ở dãy núi KavkazBaku - trung tâm công nghiệp khai thác dầu mỏ lớn nhất của Liên Xô - và đó là những mục tiêu tối thượng của chiến dịch.

Vai trò của Stalingrad

Việc chiếm được thành phố này có tầm quan trọng rất lớn đối với Hitler và cả Mussolini vì hai lý do chính. Thứ nhất, đây là một thành phố công nghiệp lớn nằm trên sông Volga - con đường giao thông vận tải mang tầm quan trọng chiến lược nối liền Biển Caspi và miền Bắc nước Nga. Sự quan trọng của nó đã được chính Adolf Hitler đã phải nói rằng "Nếu tôi không chiếm được các mỏ dầu tại Maikop và Grozny thì tôi đành phải kết thúc cuộc chiến này". Vì vậy việc để mất Stalingrad vào tay phát xít Đức sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận chuyển hàng hóa đến phía Bắc của đất nước cũng như tạo cho quân Đức một chỗ trú chân qua mùa đông. Thứ hai, việc đánh chiếm Stalingrad sẽ củng cố sườn phía Đông của quân Đức vốn đang tiến nhanh về vựa dầu tại vùng Kavkaz với mục tiêu cắt đứt nguồn cung ứng dầu hỏa cho Hồng quân Liên Xô.[49] Thêm nữa, thành phố này mang tên của lãnh tụ I. V. Stalin, việc đánh chiếm thành phố này cũng sẽ là một thắng lợi quan trọng về mặt tinh thần và tư tưởng.

Hồng quân Liên Xô nhận ra rằng họ đang chịu một sức ép nghiêm trọng về thời gian và nhân lực, vật lực, vì vậy tất cả những ai có thể cầm súng chiến đấu đều được điều về bảo vệ Stalingrad.[50] Vào thời kỳ này của chiến tranh, khả năng tác chiến cơ động cao của Hồng quân vẫn còn kém hơn so với phát xít Đức, tuy nhiên việc chiến đấu trong thành phố đã giúp giảm thiểu những thiệt thòi của Hồng quân vì nơi đây là địa bàn của việc giao tranh bằng vũ khí cầm tay của bộ binh chiếm ưu thế chứ không phải là nơi dành cho việc giao chiến giữa các lực lượng tăng thiết giáp.

Chiến dịch Blau

Cụm Tập đoàn quân Nam là lực lượng được chọn để mở mũi công kích hướng về những thảo nguyên miền Nam nước Nga sau đó tiến về khu vực Kavkaz để đánh chiếm những vựa dầu lớn của Liên Xô tại đây. Chiến dịch tấn công mùa hè nhằm vào miền Tây Nam Liên Xô mang mật danh Fall Blau ("Chiến dịch Blau"). Lực lượng thực thi chiến dịch này bao gồm các Tập đoàn quân số 6, số 17, Tập đoàn quân thiết giáp số 4 và số 1. Cụm Tập đoàn quân Nam đã chiếm đóng phần lớn lãnh thổ của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ukraina ngay từ năm 1941. Tập trung chủ yếu ở miền Đông Ukraina, đây là lực lượng sẽ đảm nhiệm vai trò mở mũi tấn công vào các thảo nguyên Tây Nam nước Nga.

Thống chế Paulus

Tuy nhiên Hitler lại can thiệp vào kế hoạch hành quân, ông ta chia Cụm Tập đoàn quân Nam thành hai phần: Cụm Tập đoàn quân A và Cụm Tập đoàn quân B. Cụm A, do Siegmund Wilhelm List chỉ huy, sẽ tiến công vào khu vực Kavkaz đúng như kế hoạch ban đầu cùng với các tập đoàn quân số 11, 17, tập đoàn quân thiết giáp số 1, số 4 và tập đoàn quân số 8 của Ý. Cụm B, bao gồm các tập đoàn quân số 6 (Friedrich Paulus chỉ huy) và số 2 của Đức, số 2 của Hungary, số 8 của Ý (điều từ cụm A qua vào giữa tháng 9), Tập đoàn quân thiết giáp số 4 của Hermann Hoth, có nhiệm vụ tiến về phía Đông đến sông Volga-dải phân cách của vùng an toàn của các nhà máy cùng các cơ sở quan trọng của Hồng quân cùng với thành phố Stalingrad. Chỉ huy của nhóm B là Thống chế Fedor von Bock, về sau được thay bằng Đại tướng Maximilian von Weichs.[52] Cả hai cụm đều được yểm trợ bằng tập đoàn không quân số 4 của thống chế không quân Wolfram von Richthofen. Hitler đã vi phạm nguyên tắc tối kỵ trong nghệ thuật chiến tranh là nguyên tắc tập trung binh lực: quân Đức tiến công đồng thời theo hai hướng ngày càng xa rời nhau, đây là tiền đề cho việc bị Liên Xô bao vây tiêu diệt về sau. Ông đã bỏ qua sự cảnh báo của các tướng lĩnh có kinh nghiệm về việc này.

Đồng thời, trong việc lập kế hoạch chiến cuộc hè 1942, Bộ Tư lệnh Tối cao của phát xít Đức đã phạm sai lầm nghiêm trọng do đánh giá quá thấp đối thủ và quá cao chính mình. Người Đức tỏ ra rất tự tin về việc chế ngự được Hồng quân vì bây giờ mùa đông khắc nghiệt của nước Nga không còn ảnh hưởng nhiều đến sức chiến đấu của họ nữa. Thật ra thì họ có lý khi tin như thế: dù Cụm tập đoàn quân Trung tâm Đức (Heeresgruppe Mitte) phải chịu nhiều thiệt hại nặng nề, 65% quân số của họ đã không phải tham gia vào những trận chiến mùa đông khắc nghiệt, họ đã được nghỉ ngơi và được tái trang bị; còn các cụm Tập đoàn quân Bắc và Nam cũng không phải chịu áp lực nào đặc biệt nghiêm trọng trong mùa đông vừa qua.[53]


Kế hoạch tác chiến của Chiến dịch Blau đã được soạn thảo từ cuối tháng 5 năm 1942. Tuy nhiên, một phần lực lượng Đức và Rumani đáng lẽ phải tham gia chiến dịch Blau thì hiện đang kẹt cứng tại Sevastopol. Phát xít Đức đã không thể chiếm được thành phố này cho đến tận tháng 6, và điều này đã làm trì hoãn việc thực thi kế hoạch Blau mấy lần. Tuy nhiên trong thời gian trì hoãn đó, phát xít Đức cũng tiến hành một đợt phản kích nhằm thanh toán một "điểm lồi" của Hồng quân Liên Xô tại Kharkov và hợp vây một khối lớn quân Liên Xô tại đây.

Cuối cùng thì chiến dịch Blau cũng chính thức mở màn vào ngày 28 tháng 6 năm 1942 khi các lực lượng của Cụm Tập đoàn quân Nam tấn công vào miền Nam Nga. Khởi đầu của chiến dịch diễn ra rất thuận lợi cho quân Đức. Các lực lượng Hồng quân gần như không có bất cứ hành động kháng cự quyết liệt nào trên những vùng thảo nguyên trống trải, thay vào đó họ nhanh chóng tháo lui về phía Đông. Thật ra Hồng quân đã vài lần cố gắng thành lập một phòng tuyến để ngăn đà tiến công của quân Đức, tuy nhiên tất cả đều thất bại bởi các đòn đánh bọc sườn của quân Đức. Quân Đức đã hai lần hợp vây và tiêu diệt hai khối lớn quân Liên Xô: một lần ở Tây Bắc Kharkov vào ngày 2 tháng 7 và lần thứ hai ở khu vực gần Millerovo thuộc tỉnh Rostov một tuần sau đó. Cùng lúc ấy, Tập đoàn quân số 2 (Hungary) và Tập đoàn quân xe tăng số 4 (Đức) đánh tan quân Liên Xô tại Voronezh, và chiếm thành phố này vào ngày 5 tháng 7. Quân Đức đã đánh tan phòng tuyến Sông Don của Hồng quân Liên Xô, đã tiến đến bờ sông Don, loại bỏ được mối nguy hiểm bị Hồng quân đánh vào sườn từ bàn đạp này.

Những thành công ban đầu của Tập đoàn quân số 6 ấn tượng đến mức Hitler lại can thiệp vào kế hoạch và điều Tập đoàn quân Thiết giáp số 4 nhập vào phần A của Cụm Tập đoàn quân Nam. Tuy nhiên, hệ thống đường giao thông trong khu vực không đủ cho cả tập đoàn quân thiết giáp số 4 và tập đoàn quân số 6, vì vậy quyết định này đã khiến quân Đức kẹt cứng trên các con đường; họ phải chật vật giải quyết mớ hỗn độn của hàng nghìn chiếc xe cơ giới đang làm tắc nghẽn các tuyến giao thông. Điều này khiến tiến độ hành quân bị chậm lại đến cả tuần và thế là Hitler lại lật đật điều tập đoàn quân thiết giáp số 4 về vị trí cũ.

Bộ binh Đức cùng với pháo tự hành Sturmgeschütz III đang tiến quân về trung tâm thành phố.

Dẫu sao đến cuối tháng 7, phát xít Đức đã dồn Hồng quân Liên Xô về bờ bên kia của sông Don. Ở tại khu vực này thì sông Don và sông Volga chỉ cách nhau 40 km, và quân Đức bắt đầu bố trí các kho tàng của họ ở bên bờ Tây sông Don, những kho tàng này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp liệu cho quân Đức ở giai đoạn sau của chiến dịch. Lúc này, Đức cũng bắt đầu bố trí quân của các nước chư hầu như Ý, HungaryRumani để bảo vệ khu vực cánh trái (ở phía Bắc) của quân Đức. Quân đội phát xít Ý thường không được ghi nhận về tinh thần chiến đấu, dù vẫn nhiều lần được biểu dương trong các thông cáo chính thức của Đức.[54][55][56][57] Họ không được quân Đức xem trọng và thường bị chỉ trích vì sự hèn nhát và tinh thần kém: thật ra thì khả năng chiến đấu kém của quân Ý chủ yếu là do trang bị vũ khí hết sức nghèo nàn và lạc hậu cùng với những chiến thuật cổ lỗ sĩ do các tướng lĩnh Ý sử dụng, vì vậy quân Ý thường xuyên nhận được lệnh phải rút lui hay tháo chạy. Tuy nhiên người Ý cũng có dịp thể hiện khả năng tác chiến tốt như trong trận Nikolayevka. Lúc này Tập đoàn quân số 6 của Đức chỉ còn cách Stalingrad có vài chục cây số; còn tập đoàn quân thiết giáp số 4 - lúc này đang ở phía Nam - liền chuyển hướng quay lên phía Bắc để hỗ trợ cho Tập đoàn quân số 6.

Ở phía Nam, Cụm Tập đoàn quân A đã tiến sâu vào khu vực Kavkaz nhưng đà tiến quân của họ bị chậm lại nhanh chóng do các tuyến hậu cần và tiếp vận đã kéo quá dài. Hai tập đoàn quân phát xít Đức tại đây nằm ở vị trí quá xa nhau và vì vậy chúng khó có thể ứng cứu nhau kịp thời. Chiến dịch Kavkaz của Đức đã diễn ra không suôn sẻ. Rõ ràng Bộ tổng chỉ huy quân đội Đức đã đánh giá sai về tình hình của quân mình và của đối phương; họ cũng không thấy hết những khó khăn của việc tác chiến vùng núi - nơi chỉ một lượng nhỏ quân phòng thủ có thể chống lại rất đông quân tấn công và các lực lượng cơ động của Đức không thể phát huy hết tác dụng. Quân Đức, sau những thắng lợi ban đầu tại vùng đồng bằng, khi bắt đầu tiếp cận dãy núi lớn Kavkaz đã mất đà tiến công, dần dần bế tắc trên hướng chính và bị chặn lại tại tuyến sông Terech và các đèo ngang của dãy Kavkaz. Ngược lại, tại hướng tấn công thứ yếu của cụm quân B thì tình hình lại rất thuận lợi cho quân Đức, như đã nói ở trên. Trên địa hình đồng bằng quân Đức rất giỏi trong tiến công cơ động. Dường như không gì cản nổi cuộc tiến công của phía Đức về phía sông Volga. Bộ chỉ huy Đức liền chuyển hướng tiến công, lấy cụm B làm hướng tấn công chính và điều các đơn vị từ cụm A sang để phát triển thành quả tiến công. Mục tiêu chính bây giờ là thành phố Stalingrad trên sông Volga.

Trung tướng V. I. Chuikov, Tư lệnh Tập đoàn quân số 62.

Bộ chỉ huy Đức nhận thấy chỉ riêng tập đoàn quân Paulus chưa đủ sức để chiếm Stalingrad nên ngày 31 tháng 7 năm 1942 Hitler ra lệnh điều tập đoàn quân xe tăng số 4 từ cụm tập đoàn quân A sang cho cụm B để tăng cường tấn công Stalingrad và từ 2 tháng 8 tập đoàn quân xe tăng này bắt đầu tấn công phía tây nam thành phố. Từ nay trọng tâm chú ý của Bộ chỉ huy Đức dồn chủ yếu cho chiến trường Stalingrad. Càng ngày Stalingrad càng thu hút nhiều binh lực của Đức từ các chiến trường khác: từ chỗ ban đầu chỉ có 13 sư đoàn với khoảng 27 vạn quân, đến cuối tháng 9 năm 1942 tại hướng Stalingrad đã có 80 sư đoàn quân Đức và đồng minh Hungary, ÝRumani, chiếm tỷ trọng rất lớn trên toàn chiến tuyến Xô - Đức. Phía Đức có 1.260 xe tăng, 17.000 pháo và cối, 1.640 máy bay[cần dẫn nguồn]. Theo kế hoạch tấn công của phía Đức tập đoàn quân số 6 tấn công tại mặt bắc và tây bắc Stalingrad và tập đoàn quân xe tăng số 4 tại phía nam và tây nam. Sau khi đột phá đến bờ sông Volga hai cánh quân này sẽ đánh dọc theo bờ sông tiến ngược chiều nhau và hợp vây quân đội Xô Viết phòng thủ thành phố.

Lúc này ý đồ của phát xít Đức đã quá rõ ràng, và Hồng quân bắt đầu xúc tiến việc phòng thủ thành phố Stalingrad. Họ đã đưa các lực lượng dự bị chiến lược là tập đoàn quân 62, 63, 64, tập đoàn quân cận vệ số 1 và các tập đoàn quân xe tăng số 1 và số 4 và rất nhiều các đơn vị khác. Nơi đây thành khu vực tập trung binh lực lớn nhất của cả hai bên trận đánh có quy mô vượt cả trận Moskva năm 1941. Ngày 1 tháng 8 năm 1942 I. V. Stalin bổ nhiệm Thượng tướng A. I. Yeryomenko vào vị trí Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam. Yeryomenko cùng với chính ủy N. I. Khrushchyov nhận nhiệm vụ phải bảo vệ bằng được Stalingrad.[58] Ranh giới phía Đông của Stalingrad chính là dòng sông Volga rộng lớn, và ở bên kia sông Hồng quân cũng bố trí thêm các lực lượng phụ trợ. Các lực lượng này hình thành nên một tập đoàn quân mới mang số 62 do Trung tướng V. I. Chuikov chỉ huy vào ngày 11 tháng 9 năm 1942. Tình hình lúc này phải nói là cực kỳ nghiêm trọng. Khi được hỏi bằng cách nào mà ông có thể hoàn thành nhiệm vụ, vị tướng trả lời: "Chúng tôi sẽ chiến đấu đến chết để bảo vệ thành phố."[59] Tức là nhiệm vụ của Tập đoàn quân số 62 là bảo vệ Stalingrad bằng bất cứ giá nào. Vai trò của Chuikov trong việc bảo vệ Stalingrad đã mang lại cho ông một trong hai danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết.

Giai đoạn phòng thủ Stalingrad

Cuộc tấn công ban đầu

Hồng quân Xô Viết hiểu rõ mối đe dọa và ý đồ của quân Đức, vì vậy họ nhanh chóng chuyển toàn bộ số lương thực, gia súc và các đầu máy, toa xe lửa,... của thành phố Stalingrad sang bờ bên kia sông Volga để những thứ này không lọt vào tay phát xít Đức. Tuy nhiên việc này khiến thành phố lâm vào tình trạng thiếu lương thực ngay từ trước khi quân Đức tấn công. Một số nhà máy trong thành phố vẫn tiếp tục sản xuất, chủ yếu là các nhà máy xe tăng T-34. Trước khi lục quân Đức tiến tới Stalingrad, không quân phát xít Đức Luftwaffe đã tiến hành không kích các vị trí trên sông Volga - con đường tiếp vận quan trọng cho Stalingrad - nhằm phá hoại khả năng tiếp vận đường thủy của Hồng quân Xô Viết. Từ ngày 25 đến ngày 31 tháng 7 năm 1942 đã có 32 tàu thủy của Liên Xô bị phá hủy và 9 chiếc khác bị phá hỏng nặng nề.[60]

Trận công kích Stalingrad mở đầu bằng một cuộc oanh kích của Tập đoàn quân Không quân số 4 (Luftflotte 4) do Thượng tướng Wolfram von Richthofen chỉ huy - đây là tập đoàn quân không quân mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Một nghìn tấn bom đã được dội xuống thành phố, khiến cuộc dội bom này là cuộc đánh bom đơn lẻ dữ dội nhất trong Thế chiến II trên Mặt trận phía Đông.[61][62] Ít nhất 90% các tòa nhà trong thành phố biến thành đống gạch vụn.[63] Mặc dù một số nhà máy vẫn còn hoạt động và các công nhân cũng trực tiếp tham gia chiến đấu. Trung đoàn viện binh Croatia số 369 là lực lượng quân chư hầu duy nhất[64] được tung vào Stalingrad trong đợt công kích thành phố. Nó chiến đấu với vai trò như một phần của sư đoàn Jäger số 100.

Một binh sĩ Đức với khẩu súng tiểu liên chiến lợi phẩm PPSh-41 lấy được của Liên Xô.

Georgy Zhukov, người từng là Phó Tổng tư lệnh và là Tư lệnh lực lượng phòng thủ Stalingrad trong trận chiến, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của trận đánh và nói rằng:[65]

Rõ ràng với tôi rằng trận Stalingrad có ý nghĩa quân sự và chính trị bậc nhất. Nếu Stalingrad thất thủ, bộ chỉ huy đối phương sẽ có thể cắt miền Nam đất nước khỏi trung tâm. Chúng ta có thể mất sông Volga — tuyến thủy lộ quan trọng mà dọc theo đó một lượng lớn hàng hóa từ vùng Kavkaz được vận chuyển.

Stalin lập tức điều động tất cả các lực lượng Hồng quân - mà ông có thể điều được - đến tác chiến tại khu vực bờ đông sông Volga, trong đó có một số vốn đóng ở xa tít tắp tận Siberia. Lúc đó thì toàn bộ số phà chở quân đã bị không quân Đức ném bom phá hủy, vì vậy binh lính được kéo bằng dây thừng từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Volga. Nhiều thường dân cũng được di tản sang bên kia sông.[66] Có tài liệu cho rằng Stalin đã cấm các thường dân rời thành phố vì ông tin rằng sự hiện diện của dân thường sẽ củng cố tinh thần chiến đấu cho các binh sĩ Hồng quân tại đây.[67] Nhân dân trong thành phố, gồm cả phụ nữ và trẻ em tham gia vào việc đào hào và xây dựng công sự. Số thương vong do trận không kích ngày 23 tháng 8 và những ngày sau đó còn gây tranh cãi, trong khoảng thời gian từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 8, các báo cáo của Liên Xô cho biết 955 người thiệt mạng và 1.181 người bị thương do bom đạn.[68] Tuy vậy, số dân thường chết vì ném bom được ước tính vào khoảng 40.000 người,[69][61] thậm chí tới 70.000 người,[63] tdù những ước tính này có thể bị thổi phồng.[70] Cũng có ước tính cho rằng có 150.000 người bị thương.[71]

Lực lượng Không quân Xô Viết (Voenno-Vozdushnye Sily - VVS) lúc này hoàn toàn bị không quân Đức Luftwaffe áp đảo. Trong các ngày 23-31 tháng 8, Hồng quân đã mất đến 201 máy bay, và mặc dù họ nhận được 100 máy bay trong tháng đó nhưng số máy bay còn sử dụng được chỉ là 192 chiếc, trong số đó 57 chiếc là máy bay tiêm kích.[72] Hồng quân tiếp tục tổ chức các đợt tiếp vận bằng đường không vào thành phố nhưng với việc quân Đức làm chủ bầu trời thì phải nói tổn thất của Hồng quân là không hề nhỏ. Tuy nhiên, nhờ việc các cơ sở sản xuất công nghiệp của Liên Xô đã được di dời an toàn về hậu phương, người dân Xô Viết đã có thể sản xuất được 15.800 máy bay trong nửa sau của năm 1942. Không quân Xô Viết lúc này đã có thể tích lũy một lực lượng dự bị mạnh để sau này họ hoàn toàn áp đảo đối thủ Luftwaffe.[73]

Khói bay trên thành phố sau cuộc ném bom của Luftwaffe trên ga trung tâm
Hồng quân đang chuẩn bị đối phó với một cuộc tấn công của quân Đức vào ngoại ô.

Rạng sáng ngày 23 tháng 8, Sư đoàn Thiết giáp 16 và Sư đoàn Cơ giới 3 của Đức xuất kích từ đầu cầu Vertyachy với lực lượng gồm 120 xe tăng và hơn 200 xe bọc thép chở quân. Đòn tiến công của Đức đã chọc thủng tuyến phòng ngự của Trung đoàn súng trường 1382 thuộc Sư đoàn súng trường 87 và Lữ đoàn xe tăng 137, buộc các đơn vị này phải rút về hướng Dmitryevka. Sư đoàn Thiết giáp 16 sau đó đánh thốc về phía sông Volga, được yểm trợ bằng các đợt oanh kích của máy bay cường kích Henschel Hs 129.[74] Đến khoảng giữa trưa, quân Đức vượt qua tuyến đường sắt đến Stalingrad tại ga Km 564, rồi cả hai sư đoàn tiếp tục lao nhanh về phía con sông. Khoảng 15:00, Chi đội xe tăng của Hyacinth Graf Strachwitz và Kampfgruppe của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Bộ binh cơ giới 64 thuộc Sư đoàn Thiết giáp 16 đã tới khu vực Latashanka, Rynok và Spartanovka, các ngoại ô phía bắc Stalingrad cũng như Nhà máy Máy kéo Stalingrad.[75]

Một nữ chiến sĩ Liên Xô kể về trận chiến rằng:[76]

Tôi từng hình dung chiến tranh như thế nào, mọi thứ bốc cháy, trẻ con khóc, mèo chạy tán loạn và khi chúng tôi tới Stalingrad thì đúng là như thế thật, chỉ là còn khủng khiếp hơn.

Một trong những đơn vị đầu tiên kháng cự tại khu vực này là Trung đoàn Phòng không 1077,[67] cbảo vệ Nhà máy Máy kéo Stalingrad và bến phà sông Volga gần Latashanka. Phần lớn quân số của trung đoàn là nam giới, nhưng các kíp chỉ huy, tính phần tử và sở chỉ huy đơn vị lại do phụ nữ đảm nhiệm. Một số phụ nữ cũng trực tiếp vận hành pháo phòng không. Trung đoàn nhận tin xe tăng Đức đang áp sát lúc 14:30, và Đại đội 6 của trung đoàn khống chế hẻm núi Sukhaya Mechatka báo cáo đã tiêu diệt 28 xe tăng Đức. Cùng ngày, Đại đội 3 của trung đoàn trên con đường giữa Yerzovka và Stalingrad giao chiến đặc biệt quyết liệt với Sư đoàn Thiết giáp 16, được ghi nhận là “bắn ăn miếng trả miếng.”[77] Hai nữ binh sĩ đã được khen thưởng vì hành động ngày hôm đó, và báo cáo của trung đoàn ca ngợi “sự kiên định và anh hùng đặc biệt” của những người nữ chiến sĩ. Trong hai ngày 23–24 tháng 8, trung đoàn mất 35 khẩu pháo, 18 người hy sinh, 46 người bị thương và 74 người mất tích. Lịch sử đơn vị của Sư đoàn Thiết giáp 16 cũng nhắc tới cuộc chạm trán này, cho biết đã phá hủy 37 khẩu pháo và bày tỏ ngạc nhiên khi đối phương một phần là phụ nữ.[78][77]

Cuối tháng 8, Cụm Tập đoàn quân B đã tiến tới bờ sông Volga tại khu vực phía Bắc Stalingrad. Tiếp đó là một nỗ lực nhằm tiến tới bờ sông ở phía Nam thành phố. Tới ngày 1 tháng 9 Hồng quân chỉ còn có thể tăng viện cho các đơn vị cố thủ trong nội thành bằng cách mạo hiểm tính mạng băng qua sông Volga dưới làn mưa bom đạn dày đặc của phát xít Đức.[79]

Cuộc chiến trong thành phố vào tháng 9

Chỉ huy phương diện quân Stalingrad, tướng K. K. Rokossovsky

Một bức thư tìm thấy trên thi thể một sĩ quan Đức mô tả sự điên rồ của trận chiến và mức độ tàn bạo của giao tranh đô thị:[42]

Chúng tôi phải tới được sông Volga. Chúng tôi nhìn thấy nó  chưa đầy một cây số. Máy bay và pháo binh luôn yểm trợ. Chúng tôi chiến đấu như điên dại nhưng vẫn không thể tới được bờ sông. Cả cuộc chiến ở Pháp còn ngắn hơn cuộc chiến vì một nhà máy bên bờ Volga. Hẳn chúng tôi đang đối đầu với những đội cảm tử. Họ dường như đã quyết chiến đấu đến người lính cuối cùng. Mà bên đó còn bao nhiêu người nữa? Bao giờ địa ngục này mới kết thúc?

Nhà sử học David Glantz nhận xét rằng trận chiến dai dẳng và tàn khốc này “giống trận đánh ở SommeVerdun năm 1916 hơn là kiểu chiến tranh chớp nhoáng quen thuộc của ba mùa hè trước.”[80]

Ngày 5 tháng 9 năm 1942, Tập đoàn quân số 24 và 66 của Liên Xô mở một đợt công kích nhằm vào Quân đoàn thiết giáp số 14 của Đức. Tuy nhiên không quân Đức đã oanh kích dữ dội các trận địa pháo và phòng tuyến của Hồng quân và buộc họ phải thoái lui mấy giờ sau đó. Thiệt hại của Hồng quân là 30 trong số 120 xe tăng tham gia trận đánh.[81]

Ngày 13 tháng 9, trận chiến giành chính thành phố bắt đầu. Quân Đức mở cuộc tấn công, tràn qua ngọn đồi nhỏ nơi đặt sở chỉ huy Tập đoàn quân 62 của Liên Xô; đồng thời nhà ga đường sắt bị chiếm, và quân Đức tiến đủ sâu để đe dọa bến đổ bộ trên sông Volga.[82]

Các chiến dịch của Hồng quân Xô Viết bị đe dọa nặng nề bởi lực lượng không quân Đức. Ngày 18 tháng 9 năm 1942, Tập đoàn quân cận vệ số 1 và Tập đoàn quân số 24 mở đợt tấn công vào lực lượng của Quân đoàn bộ binh số 7 của Đức tại Kotluban. Quân đoàn không quân số 8 đã điều các máy bay ném bom bổ nhào Stuka oanh kích các lực lượng Hồng quân và đẩy lui được họ. Phát xít Đức khẳng định rằng 41 trong số 106 xe tăng Liên Xô trong cuộc tấn công đó đã bị phá hủy, trong khi đó các máy bay tiêm kích Bf 109 đi theo hộ tống đã bắn hạ 77 máy bay Liên Xô.[83] Tập đoàn quân 62 và 64 buộc phải rút lui và bị ép chặt vào thành phố lúc này đã biến thành một pháo đài khổng lồ. Lúc này, ở giữa những đống gạch vụn của một thành phố đổ nát, các tập đoàn quân số 62, 64 và sư đoàn cận vệ số 13 tiếp tục củng cố các vị trí phòng ngự của họ trong từng ngôi nhà, từng công xưởng.

Để chống lại tập đoàn quân xe tăng số 4 của Đức, Hồng quân thành lập phương diện quân Đông Nam (từ sau 28 tháng 9 phương diện quân này đổi tên thành phương diện quân Stalingrad), tư lệnh là thượng tướng A. I. Yeryomenko gồm các tập đoàn quân 64, 57, 51 và tập đoàn quân cận vệ số 1 với tập đoàn quân 64 ở trung tâm phòng ngự. Phương diện quân này phòng ngự tại hướng nam và tây nam Stalingrad. Phương diện quân Đông Nam đã phòng thủ thắng lợi ngày 9 và 10 tháng 8 và phản công mãnh liệt buộc tập đoàn quân xe tăng Đức chuyển sang phòng ngự. Đến 17 tháng 8 tập đoàn quân xe tăng số 4 của Đức đã bị chặn lại tại tuyến phòng ngự vành đai thành phố và đến ngày cuối cùng cũng không thể đột phá được tới sông Volga.

Lính Đức trong trận Stalingrad

Chiến sự diễn ra mãnh liệt và căng thẳng và quyết định nhất là tại cánh bắc và tây bắc nơi đối đầu với Tập đoàn quân số 6 của Đức. Để phòng thủ hướng này Liên Xô thành lập phương diện quân Stalingrad, tư lệnh đầu tiên là nguyên soái Semyon Timoshenko, từ ngày 23 tháng 7 là trung tướng Vasily Gordov và sau đó là trung tướng Konstantin Rokossovsky (từ 28 tháng 9 phương diện quân này đổi tên thành phương diện quân Sông Don). Trong đó tập đoàn quân 62 là lực lượng chịu áp lực trực tiếp mạnh nhất của quân Đức. Tại đây Tập đoàn quân dã chiến số 6 Đức cố gắng đánh chia cắt tập đoàn quân 62 Xô Viết ra khỏi khối quân còn lại hòng tiêu diệt tập đoàn quân này.

Các trận đánh trong nội đô diễn ra cực kỳ ác liệt và đẫm máu. Cuộc chiến này điển hình của tính chất không khoan nhượng khi cả hai bên không chấp nhận bắt tù binh. Quân Đức một mặt theo lệnh của Führer ("Lãnh tụ", tức Hitler) phải chiếm bằng được thành phố mang tên Stalin biểu tượng của quân thù, mặt khác họ hiểu được tầm quan trọng phải chiếm thành phố làm chỗ trú chân cho mùa đông đang đến gần. Quân Đức tiến công rất mãnh liệt và dũng cảm. Quân Nga Xô Viết cũng tử thủ rất anh hùng và kiên cường, họ đã bị bao vây tất cả các phía, chỉ có thể nhận được tiếp viện bằng tàu bè chạy qua sông lớn Volga.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ thành phố và chặn đứng tư tưởng muốn rút lui của một số binh sĩ, I. V. Stalin đã ban hành mệnh lệnh số 227 vào ngày 27 tháng 7 năm 1942 quy định những binh sĩ và sĩ quan nào tự ý bỏ đi khỏi đơn vị mà không có mệnh lệnh văn bản sẽ bị đưa ra toà án binh. Mệnh lệnh nêu rõ:

Các công tác đảng, chính trị được tiến hành tại chiến hào để nâng cao tinh thần binh sĩ mặt khác biện pháp kỷ luật khắt khe nhất được thi hành. Các câu nói như "không lùi một bước", "không có đất cho chúng ta ở bên kia bờ sông Volga" trở thành khẩu hiệu. Trước sức kháng cự kiên cường của Hồng quân, người Đức đã chịu những thiệt hại rất nặng nề khi tiến sâu vào nội đô Stalingrad. Trong trận đánh phòng thủ Stalingrad, nổi bật nhất là tập đoàn quân 62 của Tư lệnh kiêm Trung tướng V. I. Chuikov. Đơn vị này đã kiên trì bám trụ trong thành phố, bảo vệ từng thước đất, từng căn nhà, thực sự theo đúng khẩu hiệu "không lùi một bước".

Các “đội chặn” gồm quân NKVD hoặc đơn vị thường trực được bố trí phía sau các đơn vị Hồng quân để ngăn đào ngũ và tụt lại, đôi khi xử bắn những kẻ đào ngũ hoặc bị coi là giả vờ ốm yếu[85] Trong trận chiến, Tập đoàn quân 62 có số vụ bắt giữ và xử bắn nhiều nhất: tổng cộng 203 trường hợp, trong đó 49 người bị xử bắn, 139 người bị đưa vào các đại đội hay tiểu đoàn trừng giới[86][87][88] Các đội chặn của Phương diện quân Stalingrad và Don đã bắt giữ 51.758 người từ đầu trận đến ngày 15 tháng 10, phần lớn được đưa trở lại đơn vị. Trong số bị bắt (đa số thuộc Phương diện quân Don), 980 người bị xử bắn và 1.349 người bị đưa vào các đơn vị trừng giới.[89][90][91] Trong hai ngày 13–15 tháng 9, đội chặn của Tập đoàn quân 62 bắt 1.218 người, hầu hết trao trả đơn vị, trong khi bắn 21 người và bắt giữ 10 người.[92] Beevor cho rằng 13.500 binh sĩ Liên Xô đã bị chính phía Liên Xô xử bắn trong trận Stalingrad,[93] tuy nhiên con số này còn gây tranh cãi.[94]

Hải quân đánh bộ Xô Viết đổ bộ lên bờ tây sông Volga.

Học thuyết quân sự của phát xít Đức lúc đó dựa trên nguyên tắc hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các binh chủng tăng thiết giáp, bộ binh, pháo binh, công binh và lực lượng máy bay cường kích. Đối phó lại, Hồng quân quyết định sử dụng chiến thuật "đánh áp sát" mà tướng Chuikov gọi là "ôm" lấy quân Đức. Điều này khiến phòng tuyến của quân Đức và của Hồng quân nằm ở các vị trí gần sát nhau, vì vậy nguy cơ quân Đức bị vạ lây bởi hỏa lực của pháo binh và không quân của đồng đội là rất cao - điều này khiến phát xít Đức tỏ ra ngần ngại khi sử dụng pháo binh và không quân, tiến tới vô hiệu hóa ưu thế không quân và làm giảm đáng kể ưu thế của pháo binh Đức. Đồng thời Hồng quân cũng hiểu rõ: kế hoạch phòng ngự tốt nhất là bám trụ vững chắc trong các tòa nhà nằm tại các vị trí chiến lược như các quảng trường và các con đường quan trọng, điều này có thể giúp họ bám trụ lâu dài trong thành phố. Vì vậy tất cả các tòa nhà cao tầng, công xưởng, nhà kho, nhà ở góc phố và các tòa nhà công sở đều bị biến thành những lô cốt được trang bị súng máy, súng chống tăng, pháo cối, súng bắn tỉa, được bao bọc bởi các bãi mìn, hàng rào kẽm gai cùng một lực lượng dự bị gồm 5-10 binh sĩ trang bị súng trường, súng tiểu liênlựu đạn để chiến đấu chống lại những nhóm lính Đức đột kích được vào trong các ngôi nhà.

Chiến sự bùng nổ ác liệt trong toàn thành phố: từng đống đổ nát, từng con đường, từng nhà máy, công xưởng, nhà kho, từng lầu gác đều phải đánh nhau đẫm máu giành đi giật lại nhiều lần. Các cống rãnh cũng là một chiến địa ác liệt nơi các binh sĩ quần nhau trong một mê hồn trận gồm những đường ống cống chằng chịt như mê cung. Phát xít Đức gọi kiểu chiến tranh trong thành thị (urban warfare) này là "chiến tranh chuột cống" (Rattenkrieg), nói một cách nửa đùa nửa thật rằng họ đã đánh chiếm xong nhà bếp trong khi đang phải vất vả giành giật phòng khách với quân địch. Trong một mớ bòng bong như vậy, tất cả các quy tắc của một trận đánh quy ước đều bị phá vỡ; lối tấn công quen thuộc của quân Đức - huy động một lượng lớn các binh đoàn cơ động hỗ trợ bởi tăng thiết giáp - bị thay thế bởi các trận đấu súng không kém phần ác liệt giữa các nhóm nhỏ binh sĩ giữa những đống gạch vụn ngổn ngang của những ngôi nhà, tòa công sở, tầng hầm và những tòa nhà nhiều tầng. Một số tòa nhà cao tầng - bị không quân Đức ném bom tơi tả - trở thành nơi xảy ra các trận giao chiến ác liệt kéo từ tầng này qua tầng khác: quân phát xít Đức và Hồng quân Xô Viết gần như trú đóng trong các tầng xen kẽ nhau và họ bắn nhau qua các lỗ hổng trên sàn và trần nhà.[95]

Đến ngày 12 tháng 9, khi rút vào nội đô, Tập đoàn quân 62 của Liên Xô chỉ còn 90 xe tăng, 700 súng cối và khoảng 20.000 quân.[96] Số xe tăng còn lại được dùng như các điểm cố thủ cố định trong thành phố. Đợt công kích đầu tiên của Đức ngày 14 tháng 9 nhằm “đánh úp” để chiếm thành phố: Sư đoàn bộ binh 295 thuộc Quân đoàn 51 đánh lên cao điểm Mamayev Kurgan, Sư đoàn 71 đánh ga đường sắt trung tâm và bến đổ bộ trung tâm trên sông Volga, còn Quân đoàn xe tăng 48 tiến công về phía nam sông Tsaritsa. Tuy ban đầu đạt kết quả, các mũi tiến công của Đức nhanh chóng chững lại trước lực lượng tăng viện Liên Xô được đưa qua sông Volga. Sư đoàn bộ binh cận vệ 13 của Trung tướng Aleksandr Rodimtsev được gấp rút vượt sông vào tăng cường cho lực lượng phòng thủ trong thành phố.[97] Được lệnh phản kích ở đồi Mamayev Kurgan và Ga số 1, đơn vị này tổn thất rất nặng. Dù vậy, quân của Rodimtsev cũng gây thiệt hại tương xứng cho đối phương. Đến ngày 26 tháng 9, Sư đoàn bộ binh 71 đối diện đã có một nửa số tiểu đoàn suy kiệt, thay vì toàn bộ đều ở mức “trung bình” về khả năng chiến đấu khi bắt đầu đợt tấn công 12 ngày trước đó.[98] Vì những hành động của mình, Rodimtsev là một trong hai người được phong Anh hùng Liên Xô ngay trong trận.

Tính chất tàn khốc của trận đánh được ghi lại trong nhật ký của trung úy Weiner (Sư đoàn xe tăng 24):[99]

Đường phố không còn đo bằng mét nữa mà bằng xác người… Stalingrad không còn là một thành phố. Ban ngày nó là khối mây khổng lồ của khói lửa chói lòa; là một lò nung khổng lồ rực sáng vì phản quang của những ngọn lửa. Và khi đêm xuống, những đêm bỏng rát, gào thét, đẫm máu đó, bầy chó lao xuống Volga, bơi tuyệt vọng sang bờ bên kia. Những đêm ở Stalingrad là nỗi kinh hoàng với chúng. Muông thú bỏ chạy khỏi địa ngục này; đá cứng cũng không chịu đựng được lâu; chỉ còn con người bám trụ.

Một trận chiến ác liệt kéo dài nhiều ngày đã diễn ra tại tháp chứa thóc khổng lồ ở phía nam thành phố.[100] Khoảng 50 chiến sĩ Hồng quân, bị cắt đứt tiếp tế, giữ vững vị trí suốt 5 ngày, đánh bật mười đợt xung phong trước khi cạn đạn và nước.[101] Sau đó chỉ tìm thấy khoảng 40 thi thể chiến sĩ Liên Xô, dù người Đức tưởng số lượng lớn hơn nhiều vì sức kháng cự mãnh liệt. Trong khi rút lui, quân Liên Xô đã đốt lượng lớn thóc để không rơi vào tay đối phương. Tháp chứa thóc và các silo này được Paulus chọn làm biểu tượng của Stalingrad cho phù hiệu kỷ niệm “chiến thắng” mà ông dự định thiết kế.[101]

Mamayev Kurgan đổi chủ nhiều lần chỉ trong vài ngày; giao tranh quanh ngọn đồi, ga đường sắt và Quảng trường Đỏ dữ dội đến mức đôi khi không thể biết ai đang tấn công và ai đang phòng thủ.[102]

Ảnh chụp Ngôi nhà Pavlov vào năm 1943

Ở một khu vực khác trong thành phố, một trung đội Liên Xô do Trung sĩ Yakov Pavlov chỉ huy đã gia cố một tòa nhà bốn tầng nhìn ra một quảng trường cách bờ sông khoảng 300 mét, về sau được gọi là “Ngôi nhà Pavlov”. Binh sĩ bố trí bãi mìn bao quanh, đặt các ổ súng máy ở cửa sổ và đục tường tầng hầm để cải thiện liên lạc.[96] Họ phát hiện khoảng mười thường dân Liên Xô ẩn náu trong tầng hầm. Trong suốt hai tháng bị vây hãm, đơn vị này không được thay quân cũng như tăng viện đáng kể. Tòa nhà bị phía Đức đánh dấu là Festung (“Pháo đài”) trên bản đồ. Pavlov được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì chiến công này. Tướng Chuikov ghi nhận hiệu quả khốc liệt của việc phòng thủ “Nhà của Pavlov”, nói rằng: “Nhóm nhỏ của Pavlov, chỉ bảo vệ một ngôi nhà, đã tiêu diệt nhiều lính địch hơn số quân Đức thương vong khi chiếm Paris.”.[103]

Máy bay tiêm kích I-16 của Không quân Xô Viết hoạt động trên vùng trời Stalingrad

Với tình hình bế tắc trước mắt, quân Đức bắt đầu chuyển những khẩu pháo hạng nặng vào nội đô thành phố, trong đó bao gồm cả khẩu siêu pháo Dora cỡ nòng 800 ly to đến mức phải được đặt trên một toa xe lửa và được đặt cách 15km ở phía Tây thành phố vào cuối tháng 8 năm 1942.[104] Tuy nhiên họ không dự định đem quân vượt sông Volga, tạo điều kiện cho Hồng quân bố trí một số lớn pháo binh ở bờ đông dòng sông và từ đó oanh kích các trận địa của quân Đức. Các đoàn xe tăng dũng mãnh của Đức trở nên vô tác dụng trong những đường phố chật chội với hàng đống gạch đá ngổn ngang có khi cao đến 8 mét.

Những binh sĩ bắn tỉa của cả hai phe cũng gây nhiều thiệt hại cho quân địch. Chiến sĩ bắn tỉa thành công nhất và cũng nổi tiếng nhất của trận đánh này là V. G. Zaytsev với thành tích bắn hạ 242[105] đến 400[106] binh sĩ và sĩ quan (đã được kiểm chứng) Đức trong trận đánh. Ông cũng là một trong những binh sĩ bắn tỉa đã đào tạo hơn 30 học viên với tổng thành tích bắn hạ 3 nghìn lính Đức. Tương truyền, ông cũng là người đã bắn hạ người lính bắn tỉa lừng danh Erwin König của phát xít Đức, dù nhiều ý kiến cho rằng đây chỉ là một nhân vật hư cấu. Trong giai đoạn cuối trận đánh, Zaytsev bị thương do trúng mảnh đạn pháo, ông được giải ngũ và trở về hậu phương làm công tác huấn luyện thế hệ lính bắn tỉa tiếp theo. Về sau Zaytsev đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết vì kỳ công của ông trong trận này.

Đối với cả Stalin và Hitler, Stalingrad nhiều khi trở thành một trận đánh mang ý nghĩa tinh thần và danh dự nhiều hơn là một trận chiến giành lấy một thành phố có vị trí chiến lược. Bộ Tổng tư lệnh tối cao STAVKA đã điều động rất nhiều đơn vị dự bị chiến lược từ khu vực Moskva về hạ lưu sông Volga và tập trung một lượng lớn máy bay từ toàn đất nước về khu vực chung quanh Stalingrad.

Các chỉ huy cấp cao của hai phe cũng chịu nhiều áp lực nặng nề: mắt của Paulus bắt đầu mắc phải tật máy giật khiến phần bên trái của mặt ông chịu nhiều đau đớn, còn Chuikov thì bị chàm bội nhiễm khiến đôi bàn tay của ông luôn luôn bị băng bó kín mít. Các binh sĩ của hai phe thì ngày nào cũng phải trải qua những trận cận chiến cực kỳ ác liệt và căng thẳng.

Chiến đấu trong khu công nghiệp

Hồng quân chiến đấu trong Nhà máy Thép Tháng Mười Đỏ

Sau ngày 27 tháng 9, phần lớn giao tranh trong thành phố chuyển ra phía bắc, về khu công nghiệp. Sau mười ngày tiến chậm trước sức kháng cự quyết liệt của Liên Xô, Quân đoàn 51 cuối cùng đã đứng trước ba nhà máy khổng lồ của Stalingrad: Nhà máy thép Tháng Mười Đỏ, Nhà máy vũ khí Barrikady và Nhà máy máy kéo Stalingrad. Họ cần thêm vài ngày chuẩn bị cho đợt tấn công dữ dội nhất, mở màn vào ngày 14 tháng 10,[107] mà Chuikov cho là ngày khốc liệt nhất của toàn trận.[108]Những đợt pháo kích và oanh tạc cực kỳ dữ dội đã mở đường cho các tốp xung kích Đức đầu tiên. Mũi chủ công do Sư đoàn thiết giáp 14 và Sư đoàn bộ binh 305 dẫn đầu đánh vào hướng nhà máy máy kéo, trong khi một mũi khác do Sư đoàn thiết giáp 24 chỉ huy đánh vào khu vực phía nam của tổ hợp khổng lồ.[109]

Werth nêu rõ những khó khăn mà Sư đoàn Siberia phải đối mặt: suốt một tháng, quân Đức đã mở 117 đợt công kích vào các trung đoàn của sư đoàn này, có ngày lên tới 23 đợt.[110] Mỗi đoạn hào, lô cốt, hầm bắn và đống đổ nát trong khu vực đều được biến thành một điểm tựa kiên cố với hướng tác chiến và hệ thống liên lạc riêng.[111]

Theo Beevor, “tổ hợp Đỏ Tháng Mười và nhà máy pháo Barrikady đã biến thành những pháo đài sát thương chẳng kém Verdun. Nếu có khác thì còn nguy hiểm hơn, vì các trung đoàn Liên Xô ẩn giấu quá tốt."[112] Mức độ nguy hiểm ở Nhà máy vũ khí Barrikady được thể hiện rõ qua lời kể trực tiếp của trung sĩ Đức Ernst Wohlfahrt, người chứng kiến 18 công binh Đức bị giết bởi một bẫy nổ của Nga.[113] Giao tranh tại Barrikady được mô tả là một trong những trận chiến tàn bạo và dữ dội nhất từng có, với nhận định rằng “chiến trường phía đông Barrikady rực lửa trong cuộc đụng độ bạo liệt và phung phí sinh mạng nhất mà thế giới từng chứng kiến”, và về cận chiến thì “không nơi nào tàn bạo, hung hãn, không khoan nhượng hơn Barrikady.”[114]

Đợt tấn công dữ dội của Đức đã nghiền nát Sư đoàn súng trường cận vệ số 37 do Thiếu tướng Viktor Zholudev chỉ huy, và đến chiều, mũi xung kích đi đầu đã tới Nhà máy Máy kéo rồi áp sát sông Volga, chẻ đôi Tập đoàn quân 62.[115] Để đối phó việc quân Đức đột phá ra Volga, bộ tư lệnh phương diện quân tung ba tiểu đoàn của Sư đoàn súng trường 300 cùng Sư đoàn súng trường 45 do Đại tá Vasily Sokolov chỉ huy, một lực lượng đáng kể hơn 2.000 quân vào trận ở khu Nhà máy Đỏ Tháng Mười.[116]

Lính Xô viết trong một xưởng của Nhà máy Đỏ Tháng Mười

Theo Werth:[117]

Tại đây, trong và quanh toà nhà chính của Nhà máy Đỏ Tháng Mười, giao tranh đã diễn ra suốt nhiều tuần. Địa ngục của pháo kích và cối, những đòn tập kích xe tăng và không kích, và cả đánh giáp lá cà; họ chiến đấu giành giật từng phân xưởng, nửa phân xưởng, thậm chí đến tận đầu một ống thoát nước.

Chiến sự tiếp tục bùng nổ bên trong Nhà máy Barrikady cho đến cuối tháng 10.[118] Khu vực do Liên Xô kiểm soát co lại chỉ còn vài dải đất hẹp dọc bờ tây sông Volga, và sang tháng 11, trọng tâm giao tranh tập trung quanh khu mà báo chí Xô viết gọi là “Đảo Lyudnikov”—một mảnh đất nhỏ phía sau Nhà máy Barrikady, nơi tàn quân của Sư đoàn súng trường 138 do Đại tá Ivan Lyudnikov chỉ huy đã đẩy lùi mọi đợt xung phong dữ dội của quân Đức và trở thành biểu tượng cho thế trận phòng thủ kiên cường của Stalingrad.[119]

Ở phía bắc Stalingrad, đến đầu tháng 11, Sư đoàn thiết giáp 16 gọi khu Rynok–Spartanovka là “Verdun nhỏ” vì “không còn một mét vuông nào mà không bị bom đạn cày xới.”[120]

Các cuộc không kích

Máy bay nèm bom bổ nhào Junkers Ju 87 Stuka bay trên thành phố

Từ ngày 5 đến ngày 12 tháng Chín, Tập đoàn quân Không quân số 4 đã thực hiện 7.507 phi vụ ném bom (938 mỗi ngày). Từ ngày 16 đến ngày 25 tháng Chín, Tập đoàn Không quân này thực hiện 9.746 phi vụ (975 mỗi ngày).[121] Với quyết tâm hủy diệt toàn bộ sức kháng cự của Hồng quân, các phi đội máy bay Stuka của Tập đoàn quân Không quân số 4 đã thực hiện tổng cộng 900 lần bay nhằm không kích các cứ điểm của Hồng quân tại Nhà máy máy kéo Felix Dzerzhinskiy vào ngày 5 tháng 10 năm 1942. Một vài trung đoàn Xô Viết bị đánh tan, riêng toàn bộ binh sĩ và sĩ quan của Trung đoàn bộ binh số 339 đã vĩnh viễn nằm lại trận địa sau đợt không kích vào sáng ngày 6 tháng 10.[122]

Không quân Đức vẫn chiếm ưu thế trên không cho đến tận đầu tháng 11 năm 1942 và sức kháng cự của không quân Xô Viết tại đây gần như là không đáng kể, tuy nhiên sau khi thực hiện gần 2 vạn lượt bay thì số máy bay của Đức cũng bị thiệt hại đáng kể: giảm từ 1.600 chiếc xuống còn 950 chiếc; đặc biệt lực lượng máy bay ném bom (Kampfwaffe) bị thiệt hại nặng nhất, chỉ còn 232 chiếc phi cơ so với 480 chiếc lúc đầu.[123] Người Đức đã nắm giữ ưu thế về chất lượng so với đối thủ Không quân Xô Viết và 80% sức mạnh không quân Đức đã được tập trung ở mặt trận Xô-Đức; có điều Tập đoàn quân Không quân số 4 đã không thể ngăn chặn nổi đà phát triển của không quân Xô Viết: đến đầu trận phản công Stalingrad, không quân Xô Viết đã áp đảo không quân Đức về số lượng.

Đến trung tuần tháng 10, Không quân phát xít Đức càng lúc càng tăng cường các hoạt động oanh tạc các đơn vị Hồng quân đang tử thủ tại bờ Tây sông Volga. Đến lúc này, các lực lượng phòng không và không quân Xô Viết đã hoàn toàn bị áp đảo. Tập đoàn quân Không quân số 4 đã thực hiện 2 nghìn lượt bay trong ngày 14 tháng 10 và dội 600 tấn bom vào các vị trí của Hồng quân xung quanh ba nhà máy ở phía Bắc Stalingrad.[124] Các đơn vị máy bay ném bom Stuka số 1, 2, và 77 đã dập tắt hỏa lực của các khẩu đội pháo Hồng quân tại bờ Đông sông Volga trước khi chuyển sang "thanh toán" các đội tàu đang vượt sông để tiếp viện cho số Hồng quân ở phía Bắc thành phố. Tập đoàn quân số 62 đã bị cắt làm đôi, do hệ thống tiếp vận qua sông Volga bị không quân Đức phá hoại nghiêm trọng và gần như bị tê liệt.

Lúc này, Hồng quân Xô Viết đã bị dồn vào một dải đất dài 1.000 thước Anh (910 m) dọc bờ sông Volga. Các đội bay Stuka của không quân Đức đã thực thi 1.208 lượt ném bom với quyết tâm thanh toán ổ kháng cự cuối cùng của Hồng quân trong thành phố.[125] Tuy nhiên, bất chấp những trận mưa bom mà phát xít Đức trút lên đầu họ (Stalingrad đã chịu sự oanh tạc dữ dội hơn cả Sedan hay Sevastopol), Tập đoàn quân số 62 với 47 nghìn binh sĩ còn lại vẫn đứng vững và quyết không để bất cứ binh sĩ nào của các tập đoàn quân số 6 và tập đoàn quân thiết giáp số 4 (Đức) chạm được tới bờ sông Volga.

Máy bay ném bom bổ nhào Junkers Ju 87 Stuka đang oanh tạc Stalingrad.

Các lực lượng máy bay ném bom của không quân Xô Viết (Aviatsiya Dal'nego Deystviya - ADD) đã chịu nhiều thiệt hại suốt 18 tháng vừa qua, vì vậy họ chủ yếu chỉ thực hiện các đợt oanh tạc vào ban đêm. Tổng cộng Hồng quân đã thực hiện 11.317 đợt oanh kích (đêm) vào khu vực giữa Stalingrad và sông Don từ ngày 17 tháng 7 đến 19 tháng 11. Do ném vào ban đêm nên các đợt không kích này chủ yếu nhằm gây hoảng loạn chứ không đem lại thiệt hại gì nhiều cho quân Đức.[126][127]

Tình thế của không quân Đức dần trở nên tồi tệ vào giữa tháng 11. Ngày 8 tháng 11 năm 1942, một lượng lớn máy bay Đức thuộc Tập đoàn quân Không quân số 4 bị điều tới Bắc Phi khi quân Anh-Mỹ đổ bộ lên Bắc Phi. Lúc này không quân phát xít Đức bị dàn quá mỏng trên toàn châu Âu và phải vất vả duy trì sức mạnh của họ ở khu vực phía Nam của mặt trận Xô-Đức.[128]

Như sử gia Chris Bellamy nhận xét, Đức đã phải trả một cái giá chiến lược đắt đỏ cho số lượng máy bay dồn vào Stalingrad. Luftwaffe buộc phải rút phần lớn không lực khỏi vùng Kavkaz giàu dầu mỏ, vốn là mục tiêu đại chiến lược ban đầu của Hitler.[129]

Không quân Hoàng gia Romania cũng tham gia các chiến dịch không kích của phe Trục tại Stalingrad. Từ ngày 23 tháng 10 năm 1942, các phi công Romania thực hiện tổng cộng 4.000 phi vụ, bắn hạ 61 máy bay Liên Xô. Phía Romania mất 79 máy bay, phần lớn bị đối phương chiếm ngay trên sân bay cùng với các căn cứ của họ.[130]

Quân Đức tiến tới bờ sông Volga

Tháng 8 năm 1942, sau ba tháng tiến quân chậm chạp, quân Đức cuối cùng cũng tới được bờ sông, chiếm khoảng 90% thành phố đổ nát và chia cắt lực lượng Liên Xô còn lại thành hai túi phòng ngự hẹp. Băng trôi trên sông Volga lúc này cản trở thuyền và tàu kéo tiếp tế cho quân phòng thủ Liên Xô. Dù vậy, giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, đặc biệt trên các sườn đồi Mamayev Kurgan và trong khu nhà máy ở phía bắc thành phố.[131] Từ ngày 21 tháng 8 đến 20 tháng 11, Tập đoàn quân số 6 của Đức tổn thất 60.548 người, gồm 12.782 tử trận, 45.545 bị thương và 2.221 mất tích.[132] Trận giành giật các bờ sông Volga được ghi nhận là “cuộc chiến tập trung và dữ dội bậc nhất có lẽ của cả cuộc chiến”.[133]

Chiến dịch phản công chiến lược Stalingrad

Nhận ra rằng quân Đức tỏ ra thiếu chuẩn bị để đối phó với một đợt phản công và phần lớn binh lực của họ thì đang nằm đâu đó tại phía Nam của mặt trận, Bộ Tổng tư lệnh tối cao STAVKA quyết định mở một số đợt phản công, trong đó có một chiến dịch nhằm thanh toán Tập đoàn quân số 6 đang nằm ở Stalingrad.

Đây là giai đoạn được đánh giá là then chốt về mặt chiến lược trong cuộc chiến, nó mở đầu cho giai đoạn thứ hai của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại (19 tháng 12 năm 1942 - 31 tháng 12 năm 1943) nói chung và của Chiến dịch mùa Đông 1942-1943 (19 tháng 11 năm 1942 - 3 tháng 3 năm 1943) nói riêng, lôi kéo sự tham gia của 15 Tập đoàn quân trên nhiều mặt trận cùng một lúc. Theo Zhukov, “những sai lầm tác chiến của Đức còn bị trầm trọng bởi công tác tình báo yếu kém: họ đã không phát hiện được sự chuẩn bị cho đòn phản công lớn gần Stalingrad, nơi có 10 tập đoàn quân dã chiến, 1 tập đoàn quân xe tăng và 4 tập đoàn quân không quân.”[134]

Tình hình quân Đức

Các chuyến bay Ju-52 tiếp tế cho quân Đức tại Stalingrad

Trong thời gian bị vây hãm, các đạo quân Đức cùng đồng minh Ý, Hungary và Romania giữ hai cánh bắc–nam của Cụm Tập đoàn quân B liên tục thúc giục tổng hành dinh xin chi viện. Quân đội số 2 Hungary được giao nhiệm vụ phòng thủ một đoạn mặt trận dài 200 km (120 dặm) ở phía bắc Stalingrad, giữa khu vực của quân Ý và thành phố Voronezh. Tuyến phòng ngự vì thế cực kỳ mỏng; có nơi chỉ một trung đội (thường 20–50 người) phải giữ cả đoạn dài 1–2 km. Lực lượng này cũng thiếu vũ khí chống tăng hiệu quả. Zhukov nhận xét: “So với quân Đức, quân các nước vệ tinh trang bị kém hơn, ít kinh nghiệm hơn và hiệu quả chiến đấu thấp hơn, ngay cả trong phòng ngự.”"[135]

Việc đánh chiếm thành phố vẫn tiếp tục cho đến ngày 18 tháng 11 nhưng không thành công trước sức kháng cự mạnh mẽ của Hồng quân. Mùa đông khắc nghiệt của nước Nga đã đến, quân Đức đã bị sa lầy - họ không thể chiếm thành phố mà mùa đông đã tới, với lại họ ở quá xa các lực lượng tiếp vận của mình. Tình hình quân Đức thực sự đã nguy ngập chí ít thì cũng báo hiệu cái gì đó như mùa đông năm 1941. Quân Đức và các chư hầu Ý, Hungary và Rumani - những lực lượng bảo vệ cạnh sườn của Tập đoàn quân số 6 đã liên tục yêu cầu OKH tăng viện.[136] Đoạn chiến tuyến dài 200 cây số ở phía Bắc Stalingrad nằm giữa quân Ý và Voronezh - tức cạnh sườn Bắc của Tập đoàn quân số 6 - được bảo vệ bởi Tập đoàn quân Hungary số 2; mà trang bị, tinh thần chiến đấu và khả năng chỉ huy của các sĩ quan quân chư hầu hoàn toàn kém hơn quân Đức. Việc này khiến chiến tuyến của quân phát xít trở nên rất mỏng và yếu tại khu vực này - có nơi một trung đội phải căng mình ra bảo vệ một chiến tuyến dài tới 1-2 cây số. Thêm vào đó, việc Hồng quân vẫn còn làm chủ một số bàn đạp trên bờ Tây sông Volga - ngay tại khu vực này - tạo thành một mối đe dọa lớn cho quân phát xít.[52]

Do dồn toàn bộ sự chú ý vào trận đánh trong đô thị, phe Trục suốt nhiều tháng đã lơ là việc củng cố tuyến phòng ngự tự nhiên dọc sông Don. Quân Liên Xô vì vậy giữ được các đầu cầu ở bờ hữu ngạn, từ đó có thể nhanh chóng mở các chiến dịch tiến công. Nhìn lại, những đầu cầu này trở thành mối đe doạ nghiêm trọng đối với Cụm Tập đoàn quân B.[137]

Tương tự, ở cánh nam của khu vực Stalingrad, đoạn mặt trận tây nam Kotelnikovo chỉ do Quân đội số 4 Romania trấn giữ. Phía ngoài đơn vị này, chỉ có một sư đoàn Đức—Sư đoàn Bộ binh Cơ giới số 16—phải căng mình che chở một chiều dài 400 km. Ngày 10 tháng 11, Paulus xin phép “rút Tập đoàn quân 6 về phía sau sông Don” nhưng bị bác bỏ.[138] Theo lời Paulus nói với sĩ quan tùy viên Wilhelm Adam: “Vẫn còn mệnh lệnh rằng không một tư lệnh cụm tập đoàn quân hay tập đoàn quân nào được quyền bỏ một ngôi làng, thậm chí một đoạn hào, nếu không có sự chấp thuận của Hitler.”[139] Tổng tham mưu trưởng của quân đội phát xít Đức, tướng Franz Halder bày tỏ lo ngại về mối quan tâm quá mức của Hitler về việc đánh chiếm thành phố và chỉ ra rằng nếu như cạnh sườn yếu kém của Tập đoàn quân số 6 không được củng cố thì quân Đức sẽ gặp thảm họa tại Stalingrad. Nhưng Hitler bảo Halder rằng Stalingrad sẽ bị đánh chiếm và cạnh sườn yếu kém của Tập đoàn quân số 6 sẽ được bảo vệ bởi "lửa nhiệt tình của chủ nghĩa quốc xã, rõ ràng đây là cái mà ta không thể trông chờ ở ông (Halder)" rồi thay ông bằng tướng Kurt Zeitzler vào giữa tháng 10.[140] Mặt khác, Hitler tin rằng Hồng quân không còn đủ lực lượng để tung ra một đợt phản công đủ lớn để đảo ngược tình thế, khi mà ở quanh khu vực Stalingrad giờ đây đã tập trung hơn 1 triệu quân Đức và chư hầu.

Chiến dịch Sao Thiên Vương

Phản công của Liên Xô tại Stalingrad
  Tuyến phòng ngự Đức, 19/11
  Tuyến phòng ngự Đức, 12/12
  Tuyến phòng ngự Đức, 24/12
  Hướng tiến quân của Liên Xô, 19–28/11

Trong khi phía Đức đang sa lầy trong việc chiếm thành phố thì quân đội Xô Viết đã tập trung một lực lượng lớn sẵn sàng phản công. Mùa thu năm 1942, hai Đại tướng của Hồng quân Liên Xô là Aleksandr VasilyevskyGeorgy Zhukov, những người phụ trách việc hoạch định chiến lược cho khu vực Stalingrad bắt đầu tập trung một lượng lớn binh lực ở khu vực thảo nguyên phía Bắc và phía Nam thành phố. Điểm yếu tại hai cạnh sườn của quân Đức đã được khai thác triệt để vì Hồng quân Xô Viết chủ trương công kích các đơn vị quân chư hầu yếu kém và né tránh quân Đức những khi có cơ hội - giống như những gì người Anh đã làm tại Bắc Phi. Kế hoạch phản công của Hồng quân là cố gắng kiềm chế và giữ chân lực lượng Đức ở chính diện trong thành phố trong khi đó mở các đòn vu hồi vào hai cánh của quân phát xít vốn đã bị kéo dài và được bố phòng yếu kém và sau cùng khóa chặt vòng vây đối với khối quân phát xít trong nội đô Stalingrad. Những nơi bị công kích có khoảng cách đủ xa so với nội đô Stalingrad để Tập đoàn quân số 6 của Đức đóng tại đây không có đủ thì giờ để điều quân đến ứng cứu.:221,226 Kế hoạch phản công của Liên Xô sử dụng đến nhiều biện pháp đánh lừa đối phương mà rốt cục đã bao vây và tiêu diệt được tập đoàn quân số 6 Đức cùng với nhiều lực lượng phát xít khác xung quanh thành phố, đã dẫn đến thất bại quy mô lớn thứ hai của Quân đội Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai.[141]

Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch, Đại tướng Zhukov đã đích thân đến thị sát mặt trận - một điều hiếm thấy đối với các sĩ quan cao cấp như ông. Nhận thấy tổ chức còn lỏng lẻo, ông yêu cầu hoãn một tuần so với ngày nổ súng dự kiến.[142] Chiến dịch phản công mang mật danh "Sao Thiên Vương" (Уран) và được phát động đồng thời với Chiến dịch Sao Hỏa nhằm vào Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Kế hoạch phản công của Hồng quân Xô Viết gần giống như những gì đã diễn ra tại bờ sông Halhin 3 năm về trước, lúc đó hai đòn đánh vu hồi liên tiếp của Zhukov đã bao vây sư đoàn số 23 của Lục quân Đế quốc Nhật Bản và tiêu diệt chúng.[143] Kế hoạch tấn công đã được Bộ tổng tư lệnh quân đội Xô Viết soạn thảo hết sức kỹ lưỡng, tính đến cả những kinh nghiệm xương máu của hơn một năm thất thế của quân đội Xô Viết. Dĩ nhiên, dấu ấn cá nhân của Đại tướng Zhukov và Vasilevsky rất lớn trong công việc này. Hai ông đã được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết nhờ công lao này. Và lần này, cũng như mùa đông 1941 trong trận phản công tại Moskva, các lực lượng nòng cốt để phản công lại là các sư đoàn mới tinh, trang bị tốt, giàu sức sống của các quân khu SiberiaViễn Đông Nga được điều tới.

Quân đội Liên Xô phản kích trên các đường phố Stalingrad

Ngày 19 tháng 11 năm 1942 tại cánh bắc mặt trận Stalingrad, lúc 7h30 Chiến dịch Sao Thiên Vương chính thức mở màn, theo kiểu vận động kinh điển của trận Cannae. Phương diện quân Tây Nam của tư lệnh trung tướng N. F. Vatutin gồm các ba tập đoàn quân với quân số nguyên vẹn (2, 5, 17), tập đoàn quân xe tăng số 5, tập đoàn quân cận vệ số 1 và tập đoàn quân số 21 (tổng cộng gồm 18 sư đoàn bộ binh, 8 lữ đoàn xe tăng, hai lữ đoàn bộ binh cơ giới, 6 sư đoàn kỵ binh và 1 lữ đoàn pháo chống tăng từ bàn đạp Seraphimovich đánh vào sườn phía Bắc của tập đoàn quân số 6 Đức, mục tiêu là khu vực bố phòng của tập đoàn quân Rumani số 3. Tổng binh lực Liên Xô được huy động cho chiến dịch phản công lên tới 1,1 triệu quân và 900 xe tăng, đối diện là lực lượng Đức và chư hầu với hơn 1 triệu quân.

Tuy tổng binh lực của hai bên xấp xỉ nhau, nhưng Hồng Quân có trong tay lợi thế lớn là yếu tố bất ngờ, cho phép họ tập trung binh lực áp đảo tại những mũi nhọn đột phá, trong khi quân Đức thì đang bị dàn mỏng. Quân Rumani đã nhận thấy những hành động chuẩn bị tấn công của Hồng quân Xô Viết và yêu cầu tăng viện nhưng bị từ chối. Bị dàn mỏng trên một chiến tuyến quá rộng, bị áp đảo về quân số cùng trang thiết bị, phòng tuyến của quân Rumani ngay lập tức bị cắt tan nát thành những mảnh vụn. Sau một ngày tấn công, phương diện quân của Vatutin đã tiến sâu được 25–35 km. Ngày 20 tại cánh nam Stalingrad, phương diện quân Stalingrad của tư lệnh thượng tướng A. I. Yeryomenko gồm tập đoàn quân 51, 57 và 64 tấn công vào sườn phải tập đoàn quân xe tăng số 4 Đức, mục tiêu là vị trí bố phòng của tập đoàn quân Rumani số 4 tại khu vực hồ Shasha. Lực lượng Rumani tại đây - vốn chủ yếu là các đơn vị bộ binh - cũng nhanh chóng sụp đổ. Sau khi chọc thủng tuyến phòng ngự đối phương các đơn vị cơ động của hai phương diện quân Xô Viết bằng hai mũi vu hồi, thọc sâu bằng xe tăng kết hợp cùng bộ binh cơ giới với tốc độ rất cao tiến tới hợp vây tại khu vực Kalach khoảng 30 km về phía tây Stalingrad.

Chỉ sau 3 đến 4 ngày tiến công, các lực lượng tiến công Xô viết đã gặp nhau tại Kalach và đã hợp vây hoàn toàn 22 sư đoàn đối phương, một bộ phận của tập đoàn quân xe tăng số 4 và toàn bộ tập đoàn quân số 6 Đức. Tổng cộng khoảng 33 vạn quân Đức đã rơi vào vòng vây siết chặt.[144] Về sau, toàn bộ cảnh này đã được phục dựng lại trong một bộ phim chiến tranh lừng tiếng của Liên Xô.

Tập đoàn quân số 6 bị bao vây

Thống chế Paulus tại mặt trận Nam Nga

Dến khi vòng vây khép chặt, khoảng 330.000 quân phe Trục gồm Đức, Romania, Ý và Croatia đã mắc kẹt bên trong.[145][146]Trong số này có 40.000–65.000 Hilfswillige (Hiwi),tức “phụ tá tình nguyện” được tuyển từ tù binh và dân thường Liên Xô. Lực lượng Hiwi thường đảm nhiệm vai trò bảo đảm hậu cần, nhưng do số lượng tăng nhanh, họ cũng được đưa ra chiến đấu ở tuyến đầu.[147][148] Theo Manstein, khoảng 29 vạn quân Đức và chư hầu Rumani[149][150] cùng với Trung đoàn bộ binh tăng viện Croatia số 369[64] và một số lực lượng bộ binh phụ trợ khác đã lọt trọn trong vòng vây. Trong "cái túi" (người Đức gọi là "cái vạc", tiếng Đức: Kessel) ở Stalingrad cũng có 1 vạn thường dân cùng với một số binh sĩ Xô Viết bị bắt làm tù binh. Có khoảng 5 vạn quân của Tập đoàn quân số 6 không nằm trong vòng vây. Hồng quân nhanh chóng dựng nên hai phòng tuyến xung quanh khối quân bị vây: một chiến lũy hướng vào phía trong và một chiến hào bao vây hướng ra phía ngoài.

Điều kiện trong Tập đoàn quân số 6 của Đức nhanh chóng tụt xuống mức gợi nhớ chiến tranh chiến hào Thế chiến I. Bộ đội phải cố thủ ngoài thảo nguyên trống trải, thiếu vệ sinh tối thiểu, khiến bệnh truyền nhiễm và kiết lỵ lan nhanh, làm suy kiệt binh sĩ.[151]Tính đến 19/11/1942, quân Đức trong “túi vây” còn khoảng 210.000 người (khoảng 50.000 ở ngoài vòng vây). Trong số bị kẹt: 10.000 tiếp tục chiến đấu, 105.000 cuối cùng đầu hàng, 35.000 được không vận sơ tán, và 60.000 tử vong.Dù tình hình Tập đoàn quân 6 tuyệt vọng, Bộ Tư lệnh Đức không rút quân từ Cụm Tập đoàn quân A ở Kavkaz để giải vây Stalingrad. Chỉ sau khi Liên Xô đột phá trong Chiến dịch Sao Thổ, đe dọa hợp vây cả Cụm A, lệnh rút quân mới được ban ra ngày 31/12 để tránh bị nhốt kín hoàn toàn.[152]

Binh lính Liên Xô với các thùng tiếp tế của Đức sau cuộc chiến
Binh sĩ Romania ở Stalingrad
Tù binh chiến tranh Đức
Xác chết quân Đức trong thành phố

Tại một hội nghị ngay sau cuộc bao vây của Liên Xô, các lãnh đạo quân sự Đức đã thúc giục mở một cuộc phá vây tại Stalingrad để rút về một phòng tuyến mới trên bờ Tây sông Don. Nhưng lúc đó Hitler đang ở tại khu nghỉ riêng của mình ở sườn núi Obersalzberg, thị trấn Berchtesgaden, Bavaria cùng Hermann Göring, người đứng đầu Không quân Đức Luftwaffe. Khi được Hitler hỏi, Göring trả lời rằng Không quân Đức có thể tiếp tế cho tập đoàn quân số 6 bằng một cầu hàng không.[153] Điều này sẽ cho phép quân Đức trong thành phố tiếp tục chiến đấu trong khi một lực lượng giải cứu được thành lập.[144] Một năm trước đó, một kế hoạch tương tự cũng đã được sử dụng thành công ở "cái túi" Demyansk, dù với một quy mô nhỏ hơn nhiều: chỉ có một quân đoàn với 50 ngàn quân bị vây ở Demyansk, trong khi bị vây tại Stalingrad là cả một tập đoàn quân với hơn 300 ngàn quân. Hơn nữa, lực lượng chiến đấu của Liên Xô đã tiến bộ rõ rệt cả về số lượng và chất lượng trong một năm qua. Nhưng việc đề cập đến sự thành công của chiến dịch hỗ trợ hàng không tại Demyansk đã củng cố quan điểm riêng của Hitler, và vài ngày sau kế hoạch đã được Hermann Göring tán thành. Trước đó, ngày 30 tháng 9 năm 1942 ông ta đã tuyên bố tại Cung văn hóa thể thao Berlin rằng quân Đức sẽ không bao giờ rời bỏ thành phố.

Quân đội Liên Xô đánh chiếm thị trấn Kalach, khép vòng vây quanh Tập đoàn quân 6 (Đức)

Người đứng đầu tập đoàn không quân số 4 Đức, thống chế Wolfram von Richthofen đã cố gắng ngăn quyết định này lại nhưng không thành công. Rõ ràng rằng việc tiếp viện cho "cái túi" bằng không quân là không thể được. Tập đoàn quân số 6 có quân số gấp đôi các tập đoàn quân thông thường, thêm vào đó 1 quân đoàn của Tập đoàn quân thiết giáp số 4 cũng đang bị vây. Khả năng vận chuyển của Không quân Đức sau trận Crete không hề được củng cố, và con số 117 tấn rưỡi họ có thể vận chuyển mỗi ngày sẽ là quá ít so với nhu cầu 800 tấn của lực lượng Đức đang bị vây.[154] Bản thân Paulus thông báo qua điện đàm rằng số quân bị vây cần tới 750 tấn hàng tiếp viện mỗi ngày[144] và khi Goring khoác lác về việc không quân Đức có thể vận chuyển đầy đủ quân nhu cho lực lượng bị vây, tướng Zeitzler đã vặn lại: "Ông có biết rằng số quân ở Stalingrad cần bao nhiêu quân nhu hàng ngày không ?... Bảy trăm tấn ! Mỗi ngày !"[155][156] Để bổ sung cho số lượng có hạn các máy bay vận tải Junkers Ju 52, các máy bay ném bom với các trang thiết bị không hề thích hợp đã được đem ra để làm nhiệm vụ vận tải, như những chiếc Heinkel He-117 (thật ra cũng có vài loại tỏ ra thích hợp hơn Ju 52, ví dụ như He-111). Nhưng Hitler đã ủng hộ kế hoạch của Goring và nhắc lại mệnh lệnh của mình rằng những tập đoàn quân đang mắc kẹt không được phép đầu hàng.[157][158]

Với việc ra lệnh cho lực lượng bị bao vây không được phép đầu hàng hoặc phá vây, số phận quân Đức trong vòng vây trở nên nguy kịch, dù binh sĩ Đức có dũng cảm tới đâu thì cũng không thể tồn tại mà không cần tiếp tế lương thực, đạn dược. Nhiều tướng lĩnh Đức sau này đã chỉ trích quyết định của Hitler, coi đó là sự liều lĩnh đến điên rồ, không bao giờ chịu chấp nhận rút lui của ông ta. Tuy nhiên, quyết định của Hitler cũng một phần xuất phát từ sự toan tính chiến lược chứ không hẳn chỉ là liều lĩnh. Để bao vây quân Đức tại Stalingrad, Hồng quân Liên Xô cũng phải tập trung về đây 7 tập đoàn quân với hơn 400.000 quân. Nếu quân Đức đầu hàng hoặc tháo lui sớm, Hồng quân sẽ rút lực lượng này tấn công về phía Đông nhằm chiếm Rostov, nếu họ thành công thì không chỉ Tập đoàn quân 6 mà cả Cụm Tập đoàn quân A và B của Đức (với hơn 500 ngàn quân) đang chiến đấu ở vùng Kavkaz cũng sẽ bị cắt đường tiếp tế và sẽ bị tiêu diệt, thất bại của Đức khi đó sẽ còn lớn hơn rất nhiều. Nói cách khác, Tập đoàn quân 6 phải chấp nhận hy sinh để các lực lượng khác của Đức có thời gian rút khỏi miền nam nước Nga càng nhanh càng tốt. Sau này, thống chế Paulus (chỉ huy quân Đức ở Stalingrad) xác nhận Bộ chỉ huy tối cao Đức yêu cầu ông ta cố thủ để giữ chân các binh đoàn chủ lực Liên Xô xung quanh Stalingrad nhằm yểm hộ cho cuộc rút quân của Cụm tập đoàn quân A khỏi khu vực Bắc Kavkaz, và "các tính toán chiến lược của quân đội Đức đòi hỏi phải làm như vậy".[159]

Sự tiếp tế bằng không quân đã thất bại gần như ngay lập tức. Hỏa lực phòng không hạng nặng và các máy bay tiêm kích của Liên Xô đã khiến không quân Đức tổn thất nặng. 266 máy bay Junker Ju 52 đã bị phá hủy, tương đương 1/3 số chuyển vận cơ của Đức trên mặt trận Xô-Đức. Ngoài ra còn có 165 máy bay ném bom He-111 làm nhiệm vụ vận chuyển, 42 chiếc Junkers Ju 86, 9 chiếc Fw 200, 5 chiếc He 177, 1 chiếc Ju 290 cùng gần 1.000 phi công nhiều kinh nghiệm.[5] Bốn phi đội vận tải của tập đoàn quân không quân số 4 (KGrzbV 700, KGrzbV 900, I./KGrzbV 1 and II./KGzbV 1) đã bị giải tán do không còn lực lượng.[62] Thời tiết mùa đông và hỏng hóc kỹ thuật cũng làm giảm hiệu quả của cuộc tiếp tế. Không quân Đức chỉ có thể vận chuyển 94 tấn/ngày, thậm chí đã không thể đạt chỉ tiêu 117 tấn/ngày như thực lực hiện có của nó. Ngày 19 tháng 12 họ đưa được nhiều hàng nhất: 289 tấn trong 154 chuyến bay. Thêm vào đó, hầu hết những hàng hóa chuyển được cho các đơn vị bị vây hầu như là không phù hợp: ví dụ một máy bay đáp xuống được chỉ chở toàn rượu vodka và binh phục mùa hè, một cái khác chở tiêu đen và kinh giới ô. Sự nhùng nhằng của Hitler trong việc xác định mục tiêu của Chiến dịch Bão Mùa đông (để cho quân Đức thoát vây hay để đánh khai thông đến thành phố) làm cho một số lượng lớn nhiên liệu dành cho cuộc phá vây được chuyến đến trong khi thức ăn và đạn dược cần thiết hơn nhiều.[160]

Các máy bay vận tải hạ cánh an toàn đã được sử dụng để di tản những chuyên gia kĩ thuật, những người bị ốm và bị thương ra khỏi vùng bị vây hãm. Khoảng 42 nghìn người tất cả đã được di tản. Nhiều phi công Đức đã bị sốc khi thấy những binh lính được lệnh gỡ hàng đã quá đói và mệt để có thể thực hiện nhiệm vụ. Tại Đức, tướng Kurt Zeitzler xúc động trước thảm cảnh của quân lính tại Stalingrad nên bắt đầu giới hạn khẩu phần ăn của chính mình về mức cả ngày chỉ ăn một bữa đạm bạc vào buổi trưa giống như họ. Sau vài tuần như vậy, ông sụt 26 cân Anh và trở nên hốc hác đến nỗi Hitler tức giận và đích thân ra lệnh cho Zeitzler phải ăn uống lại như bình thường.

Ban đầu, các máy bay tiếp vận cất cánh từ sân bay Tatsinskaya (phi công Đức hay gọi là 'Tazi'). Tuy nhiên sân bay này đã bị quân đoàn xe tăng số 24 của Trung tướng V. M. Badanov tấn công vào ngày 23-24 tháng 12 năm 1942. Do thiếu sự phòng bị, sân bay nhanh chóng ngập chìm trong biển lửa. 108 chiếc Ju-52 và 16 chiếc Ju-86 chạy thoát đến Novocherkassk - bỏ lại 72 chiếc Ju-52 cùng nhiều máy bay khác cho Hồng quân Xô Viết mặc sức phá hủy. Một căn cứ không quân khác được thành lập ở Salsk cách Stalingrad đến 200 dặm, khoảng cách xa như vậy càng cản trở việc tiếp vận đường không. Đến giữa tháng 1 quân Đức bỏ Salsk đến đóng tại Zverevo, gần Shakhty. Zverevo chịu số phận của Tatsinskaya vào ngày 18 tháng 1, lúc này có thêm 50 chiếc Ju-52 bị phá hủy.

Cuối cùng, tổng số tổn thất của không quân Đức trong việc tiếp vận cho số quân bị vây là:

Số lượng bị phá hủyLoại máy bay
269Junkers Ju 52
169Heinkel He 111
42Junkers Ju 86
9Focke-Wulf Fw 200
5Heinkel He 177
1Junkers Ju 290

Tổng cộng có 495 máy bay bị phá hủy, tương đương với 5 phi đội và hơn một quân đoàn không quân, như vậy là một nửa lực lượng không quân Đức dùng cho nhiệm vụ tiếp vận đã làm mồi cho hỏa lực Liên Xô. Thêm vào đó, hoạt động của không quân phát xít Đức ở các mặt trận khác cũng bị giới hạn nghiêm trọng để dồn sức cho việc tiếp vận Stalingrad. Cuối cùng việc tiếp vận bị đình lại để phục vụ cho việc huấn luyện không quân Đức.

Kết thúc trận chiến

Chiến dịch Bão Mùa đông

Thống chế Erich von Manstein

Kế hoạch “Bão Mùa Đông” của Manstein được xây dựng với sự tham vấn đầy đủ của Tổng hành dinh Quốc trưởng. Mục tiêu là đột phá tiếp cận Tập đoàn quân 6 và mở một hành lang để tiếp tế, tăng viện, Tập đoàn quân 6 có thể giữ chỗ đứng của mình trên bờ Volga “xét cho các hoạt động năm 1943 theo mệnh lệnh của Hitler. Tuy nhiên, Manstein hiểu rằng Tập đoàn quân 6 không thể sống sót qua mùa đông ở đó, nên ông chỉ thị bộ tham mưu soạn thêm một phương án phòng khi Hitler “tỉnh ngộ”.

Phương án thứ hai này bao gồm pha thoát vây tiếp theo của Tập đoàn quân 6 (nếu giai đoạn đầu thành công) và sáp nhập lại về Cụm Tập đoàn quân Don. Kế hoạch thứ hai được đặt tên là Chiến dịch “Sấm Sét”. Như Zhukov đã dự liệu, “Bão Mùa Đông” ban đầu định đánh hai mũi: một mũi xuất phát từ khu vực Kotelnikovo ở phía nam, cách Tập đoàn quân 6 khoảng 160 kilômét (100 mi); mũi kia khởi từ mặt trận sông Chir phía tây sông Don, chỉ hơn 60 kilômét (40 mi) tính từ rìa “cái chảo” (Kessel). Tuy nhiên, các đòn công kích liên tục của Tập đoàn quân xe tăng 5 của Romanenko dọc sông Chir đã loại bỏ khả năng xuất phát từ hướng này.

Đầu tháng 12 1942, để giải cứu quân Đức ở Stalingrad, 3 sư đoàn thiết giáp, 2 sư đoàn bộ binh, 3 sư đoàn lính dù thuộc tập đoàn quân tăng thiết giáp số 4 do tướng Hermann Hoth chỉ huy đã được điều từ Kavkaz đến khu vực hạ lưu sông Don. Nhưng các đơn vị này dù đã cố hết sức vẫn đều bị Hồng quân Xô Viết đẩy lùi ra xa, cách Stalingrad ít nhất 100 cây số nên không có cách nào để cứu tập đoàn quân số 6 đang bị vây. Chỉ riêng quân đoàn 48 là tiến sát Stalingrad nhất, chỉ còn cách 40 cây số.

Các tướng lĩnh dưới quyền đã đề nghị phương án vượt sông Don ở khu vực đối diện Stalingrad nhưng Thống chế Erich von Manstein phản đối vì cho rằng làm như thế là vô cùng mạo hiểm và khó thực hiện. Ông quyết định chọn khu vực Kotelnikovo nằm ở phía Đông Nam sông Don làm bàn đạp tấn công Stalingrad. Ngày 10 tháng 12, tướng Hermann Hoth đưa tập đoàn quân thiết giáp số 4 của mình vào trận. Quân đoàn 48 có nhiệm vụ vượt sông Don để phối hợp tác chiến với cánh quân của Hoth. Quân đoàn thiết giáp 57 thuộc tập đoàn quân thiết giáp số 4 được giao trọng trách thực hiện mũi tấn công chính. Yểm trợ cho mũi tấn công này là sư đoàn cơ giới số 23 ở sườn phải, sư đoàn thiết giáp số 17 ở sườn trái và sư đoàn thiết giáp số 6 là lực lượng hậu bị.

Vừa tham gia trận đánh, các đơn vị này đã ngay lập tức gặp sự kháng cự ác liệt của thiết giáp và bộ binh Liên Xô do thượng tướng A. I. Yeryomenko chỉ huy. Quân Đức trước đòn phủ đầu đã gần như bị chặn đứng, trong suốt 1 tuần lễ chỉ tiến lên chưa được 50 cây số. Nhưng đến ngày 17, sư đoàn bộ binh cơ giới số 23 đã liều lĩnh tổ chức 1 đợt tấn công quyết liệt và chiếm được 2 cây cầu bắc qua sông Aksai-Esaulov. Như vậy trở ngại tự nhiên lớn nhất là con sông đã bị người Đức khắc phục và giờ đây khoảng cách giữa 2 tập đoàn quân số 6 và số 4 của Đức chỉ còn 70 cây số.

Tuy nhiên, vào cùng thời điểm quân Đức tổ chức giải vây, Hồng quân đã quyết định mở chiến dịch Sao Thổ vào ngày 11 tháng 12 nhằm tiêu diệt các lực lượng Ý, Hungary, Rumani và Đức dọc sông Don. Mục tiêu ban đầu của chiến dịch là nhằm vào tập đoàn quân số 8 của Ý ở vùng trung lưu sông Don. Mở đầu chiến dịch, tập đoàn quân 63 của Liên Xô, bằng các xe tăng T-34 và máy bay đã tổ chức tấn công vào các vị trí phòng thủ yếu nhất của người Ý. Các vị trí này được bảo vệ bởi 2 sư đoàn bộ binh từ RavennaCosseria đã nhanh chóng bị đánh tan. Ngày 17 tháng 12, tập đoàn quân 21 và tập đoàn quân thiết giáp số 5 của Liên Xô đã tấn công vào các vị trí của quân Rumani ở cánh phải người Ý. Cũng cùng thời gian này, cánh trái người Ý, do các lực lượng Hungary trấn giữ cũng bị tập đoàn quân thiết giáp số 3 và một phần tập đoàn quân 40 Liên Xô tấn công. Tập đoàn quân cận vệ số 1 Liên Xô thì tấn công vào giữa các vị trí của quân Ý. Sau 11 ngày giao tranh, các lực lượng Ý đã bị áp đảo về số lượng, bị bao vây và sau cùng đã bị đánh bại. Tướng Paolo Tarnassi, tổng chỉ huy các lực lượng thiết giáp Ý tại Liên Xô cũng chết trận.[161]

Tập đoàn quân số 8 Ý bị xóa sổ đã tạo một lỗ hổng lớn trên tuyến phòng thủ của người Đức và điều này đã tạo điều kiện cho Hồng quân tiến về hướng Rostov. Nếu chiếm được Rostov, Hồng quân sẽ kiểm soát toàn bộ miền Nam nước Nga, chia cắt các lực lượng của quân Đức. Manstein trước việc Rostov bị đe doạ đã buộc phải rút sư đoàn xe tăng số 6 của tướng Hoth để điều lên hướng Tây Bắc cản đòn tấn công của Hồng quân. Đây là lực lượng hậu bị cho cuộc tấn công của Hoth với đầy đủ quân số và vũ khí nên quyết định này đã ảnh hưởng rất nhiều đến nỗ lực giải vây.

Quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã giành giật từng căn nhà ở Stalingrad

Tuy không còn lực lượng hậu bị, tướng Hoth vẫn cho quân tiến về phía trước để giải cứu Paulus và tập đoàn quân số 6. Sáng ngày 17 tháng 12, trung đoàn mô tô-súng máy số 128 thuộc sư đoàn cơ giới số 23 của Đức phòng thủ bờ bắc sông Aksai-Esaulov, ở đoạn giữa cầu đường sắt và cầu đường bộ qua sông. Sư đoàn 17 với 35 xe tăng tập trung bên cánh trái. Ngày hôm đó, lực lượng bộ binh Liên Xô với sự yểm trợ của xe tăng đã tấn công mạnh vào các căn cứ của quân Đức tại nhà ga Krugliakovo; ngoài ra 15 xe tăng Liên Xô khác cũng tổ chức tấn công cứ điểm Shestakovo do tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn cơ giới 23 chiếm giữ. Quân Đức chịu thiệt hại nặng nhưng đã chặn đứng được các đợt tấn công của Hồng quân đồng thời cũng xác định được các đơn vị Hồng quân tham gia đợt tấn công này gồm sư đoàn bộ binh 87 và lữ đoàn tăng thiết giáp số 13.

Đêm ngày 17 tháng 12, trung đoàn môtô-súng máy số 128 của Đức đã tổ chức tấn công thành công bên cánh phải. Nhân cơ hội đó, tướng Hoth quyết định tiếp tục tấn công về hướng Stalingrad. Ngày 18 tháng 12, Hitler đã từ chối cho tập đoàn quân số 6 đánh ra hướng tiến của tập đoàn quân tăng thiết giáp số 4 bất chấp thỉnh cầu của Manstein.[162] Đến ngày 18 tháng 12, quân Đức đã áp sát trong vòng 48 km (30 mi) tính từ các vị trí của Tập đoàn quân 6. Tuy nhiên, tính dự đoán được của chiến dịch giải vây khiến mọi lực lượng Đức trong khu vực đều đối mặt rủi ro lớn. Lực lượng đói khát bị vây ở Stalingrad không hề mưu toan phá vây hay bắt tay với mũi tiến công của Manstein. Một số sĩ quan Đức đề nghị Paulus bất chấp lệnh Hitler “tử thủ” để tự phá vây khỏi “cái chảo” Stalingrad. Paulus từ chối, vì lo các đòn công kích của Hồng quân vào sườn Cụm Tập đoàn quân Don và Cụm B, đang tiến về Rostov-na-Donu; ông cho rằng “bỏ Stalingrad quá sớm sẽ dẫn đến tiêu diệt Cụm Tập đoàn quân A ở Kavkaz”, và thực tế xe tăng của Tập đoàn quân 6 chỉ còn nhiên liệu cho một cú vươn 30 km về phía mũi nhọn của Hoth, sẽ vô nghĩa nếu không bảo đảm tiếp tế bằng đường không. Trước các câu hỏi của Paulus gửi Cụm Tập đoàn quân Don, ông nhận được trả lời: “Chờ lệnh, chỉ thực hiện ‘Sấm Sét’ khi có mệnh lệnh rõ ràng!” — “Sấm Sét” là mật lệnh khởi động cuộc phá vây.[163]

8 giờ sáng ngày 19 tháng 12, sư đoàn xe tăng số 17 bên cánh trái tổ chức vượt sông tiến về phía trước. Trinh sát cho biết trong vòng 1 ngày đêm trước đó, Liên Xô đã điều thêm rất nhiều quân đến khu vực này. Trưa ngày hôm đó, với sự yểm trợ của không quân và xe tăng, một trung đoàn bộ binh Liên Xô đã tổ chức tấn công quân Đức dọc tuyến đường sắt dẫn đến Stalingrad; một trung đoàn khác từ dưới khe hẻm bất ngờ tấn công lực lượng bộ binh cơ giới Đức. Phía sau lưng bộ binh Liên Xô có khoảng 70 xe tăng yểm trợ. Sau 9 tiếng đồng hồ phản công với hỏa lực mạnh, quân Đức đã đẩy lùi được Hồng quân Xô Viết. Ngày 20 tháng 12, quân đoàn tăng thiết giáp số 57 của Đức trở lại với nhiệm vụ tấn công Stalingrad giải vây cho tập đoàn quân 6. Nhưng hỏa lực cực mạnh của Hồng quân đã ngăn không cho quân Đức tiến về phía trước. Hai ngày tiếp theo đó, ở khu vực dọc tuyến đường sắt đã diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt, cả hai bên đều chịu những tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, sau mỗi tổn thất, Hồng quân lại được bổ sung lực lượng kịp thời trong khi quân Đức thì không thể. Điều này khiến quân Đức dần dần bị tiêu hao sinh lực. Ngày 23 tháng 12, đoàn xe tăng Đức đang tiến dọc theo tuyến đường sắt bỗng chạm trán đội hình gồm 80 xe tăng Liên Xô. Sau 4 tiếng chiến đấu quyết liệt, người Đức đã đẩy lùi được xe tăng Liên Xô.

Quân đội Liên Xô liên tục phản kích

Ngay trước đêm Giáng sinh, Hồng quân đã tập trung một lực lượng lớn và tổ chức tấn công. Quân Đức bị đánh bật khỏi khu vực tuyến đường sắt, trung đoàn môtô-súng máy số 128 bị đẩy lùi đến tận bờ sông. Bên cánh trái, trung đoàn hỗn hợp của Đức cũng bị thiệt hại nặng, phải rút lui về làng Romashki, nằm ở hậu tuyến của quân Đức. Chập tối, khoảng 20 chiếc xe tăng Liên Xô tấn công khu vực cầu đường sắt Shestakov trên sông Aksai-Esaulov, một nhóm xe tăng khác kết hợp với pháo binh tấn công căn cứ Romashkin. Một cuộc đấu pháo ác liệt đã diễn ra. Cuối cùng, pháo Liên Xô im tiếng khiến quân Đức lầm tưởng Hồng quân đã rút binh. Tuy nhiên vào rạng sáng, 30 chiếc xe tăng Liên Xô đã bất ngờ áp sát cầu Shestakov, đánh tan tiểu đoàn công binh Đức đang chiếm giữ cây cầu. Dưới sự yểm trợ của pháo binh, xe tăng Liên Xô chuẩn bị vượt sông bằng cầu đường bộ. Nhưng chỉ có một chiếc qua được còn đến chiếc thứ hai thì cây cầu không chịu nổi sức nặng nên đã sập.

Trong suốt ngày 24 tháng 12, Hồng quân nỗ lực vượt sông để tiêu diệt các đơn vị quân Đức đã quá mỏi mệt sau những trận đánh vừa qua. Tuy nhiên, những nỗ lực của Hồng quân ở bờ Nam sông Aksai-Esaulov ngày hôm đó đã không đạt được kết quả như mong đợi. Pháo chống tăng 88 li của Đức đã ngăn chặn hiệu quả xe tăng Liên Xô. Ngoài ra, bộ binh Liên Xô dù được sự yểm trợ của không quân và pháo binh cũng không thể chiếm được cây cầu đường sắt.

Ngày 25 tháng 12, bộ binh Hồng quân đã sửa chữa sơ bộ cây cầu đường bộ bị sập rồi dưới sự yểm trợ của 50 xe tăng đã kéo sang bờ nam sông Aksai-Eseulov, tiến thẳng đến căn cứ Romashkin, đánh tan trung đoàn môtô-súng máy số 128 và chiếm được cây cầu đường sắt ở gần ga Krugliakovo. Chỉ trong một buổi sáng, Hồng quân đã bắc được cây cầu khá vững chắc trên lưng 2 chiếc xe tăng bị rơi xuống sông. Xe tăng Liên Xô theo cây cầu này đã ào ạt vượt sông, đè bẹp mọi sự kháng cự của quân Đức. Tàn binh của quân đoàn tăng thiết giáp Đức số 57 cũng không thoát khỏi sự truy kích ráo riết của Hồng quân. Không lâu sau đó, quân đoàn này đã bị xóa sổ hoàn toàn. Như vậy là kế hoạch đột phá vòng vây của Cụm tập đoàn quân Sông Don do thống chế Manstein chỉ huy nhằm giải vây cho Paulus đã hoàn toàn phá sản.

Bây giờ mọi hy vọng giải vây đều tan thành mây khói, nhưng số quân ở Stalingrad vẫn không biết điều này và vẫn tin tưởng rằng "viện binh đang đến". Một số sĩ quan Đức đề nghị Paulus bỏ qua lệnh của Hitler mà tổ chức phá vòng vây, tuy nhiên ông từ chối vì ông rất ghét việc bất tuân thượng lệnh. Thêm vào đó, nếu mấy tuần đầu việc phá vây bằng các lực lượng cơ giới là khả thi thì bây giờ Tập đoàn quân số 6 đã lâm vào tình trạng thiếu nhiên liệu, đồng thời mùa đông khắc nghiệt của nước Nga cũng là một rào cản lớn cho việc này.

Chiến dịch Sao Thổ Nhỏ

Những bước tiến của Liên Xô trong Chiến dịch Sao Thổ Nhỏ

Ngày 16/12, Liên Xô mở Chiến dịch Sao Thổ Nhỏ (Operation Little Saturn), nhằm đột phá qua quân đội phe Trục trên sông Don (chủ yếu là quân Ý). Phía Đức triển khai “phòng ngự cơ động” bằng các đơn vị nhỏ giữ các thị trấn cho tới khi thiết giáp chi viện tới. Từ đầu cầu Mamon của Liên Xô, 15 sư đoàn – được ít nhất 100 xe tăng yểm trợ – đã tấn công Sư đoàn Cosseria và Sư đoàn Ravenna của Ý; dù bị áp đảo 9:1, người Ý ban đầu chiến đấu tốt, được phía Đức khen ngợi về chất lượng phòng thủ.[164] Nhưng đến 19/12, khi phòng tuyến Ý bắt đầu tan rã, bộ chỉ huy ARMIR ra lệnh cho các sư đoàn bị vỡ trận rút về tuyến mới[165]

Trận đánh buộc phía Đức đánh giá lại hoàn toàn tình hình. Cảm nhận đây là cơ hội cuối để phá vây, Manstein đã khẩn nài Hitler vào 18 tháng 12, nhưng bị từ chối. Paulus bản thân cũng nghi ngờ tính khả thi của một cuộc phá vây như vậy. Nỗ lực mở đường tới Stalingrad bị hủy bỏ và Cụm Tập đoàn quân A được lệnh rút khỏi Kavkaz. Tập đoàn quân 6 giờ không còn hy vọng được giải cứu. Dù có thể phá vây bằng cơ giới trong vài tuần đầu, đến lúc này Tập đoàn quân 6 thiếu nghiêm trọng nhiên liệu, và lính Đức khó lòng phá thủ tuyến Liên Xô bằng đường bộ trong mùa đông khắc nghiệt. Tuy vậy, trụ lại trên bờ Volga, Tập đoàn quân 6 vẫn giam chân một số lượng lớn đại quân Liên Xô.[166]

ONgày 23/12, kế hoạch giải vây Stalingrad bị hủy, lực lượng của Manstein chuyển sang phòng ngự để đối phó các đợt tấn công mới của Liên Xô.[167] Như Zhukov viết:

Giới lãnh đạo quân sự–chính trị của Đức Quốc xã không nhằm giải cứu họ, mà muốn họ chiến đấu càng lâu càng tốt để ghim chân lực lượng Liên Xô. Mục tiêu là tranh thủ thời gian tối đa để rút quân khỏi Kavkaz (Cụm Tập đoàn quân A) và gấp rút điều lực lượng từ các Phương diện quân khác tới hình thành một mặt trận mới đủ sức phần nào kiềm chế cuộc phản công của chúng ta.[168]

Trận đánh kết thúc

Thống chế Friedrich Paulus (phải) và các sĩ quan phụ tá Arthur Schmidt, Wilhelm Adam sau khi đầu hàng Quân đội Liên Xô.

Số phận tập đoàn quân số 6 xem như đã an bài. Gần 300.000 lính Đức phải lang thang tìm chỗ trú ẩn giữa những đống gạch vụn và 2 vạn thương binh phải nằm trong các tòa nhà đổ nát. Quân Đức không có đủ lương thực, thuốc men, đạn dược nên sức chiến đấu ngày càng suy yếu.

Việc chỉ đạo các hoạt động của quân Đức trong vòng vây ở Stalingrad giờ đây do đích thân Adolf Hitler thực hiện. Từ Đông Phổ cách xa hơn 2.000 km, ông đã đưa ra những mệnh lệnh, những lời động viên, thăm hỏi tới Friedrich Paulus cùng sĩ quan, binh lính của tập đoàn quân số 6.

Sau chiến dịch tấn công quy mô lớn ở khu vực sông Don, Hồng quân đã chiếm được 2 sân bay dã chiến của quân Đức nằm gần Stalingrad - ở Morozovsk và Tatsinskaya. Trước đây, từ 2 sân bay này, mỗi ngày quân Đức có khả năng thực hiện 3 chuyến không vận tiếp tế cho tập đoàn quân số 6. Tuy nhiên giờ đây, từ sân bay dã chiến gần nhất đến Stalingrad cũng phải mất 2 đến 3 tiếng đồng hồ, tốn rất nhiều nhiên liệu và khả năng bị phòng không Liên Xô bắn hạ rất cao. Ngoài ra, do điều kiện thời tiết khắc nghiệt của mùa đông nên không phải lúc nào các máy bay cũng có thể cất cánh được. Do đó, từ đầu tháng 1 năm 1943, mỗi ngày quân Đức chỉ thực hiện được 1 chuyến không vận tiếp tế.

Tình hình thương binh Đức tại Stalingrad ngày càng tồi tệ. Thuốc men, phương tiện y tế và cả phương tiện vận chuyển thiếu thốn. Trước đây, các thương binh thường được chở bằng xe đến đến sân bay Pitomnik để đưa về tuyến sau bằng máy bay. Nhưng khi mà nhiên liệu ngày càng khan hiếm thì thương binh buộc phải nằm lại. Con số thương binh tăng lên nhanh chóng. Sân bay Pitomnik liên tục bị vây hãm và pháo kích nên các phi công chở hàng tiếp tế thường không dám hạ cánh mà thả hàng xuống bằng dù.

Nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng Đức bị vây được giao cho Phương diện quân Sông Don của tư lệnh Trung tướng K. K. Rokossovsky. Sáng 8 tháng 1 1943, ba sĩ quan trẻ của Hồng quân, với một lá cờ trắng, đi vào phòng tuyến của quân Đức trên chu vi phía bắc của Stalingrad, trao cho tướng Paulus tối hậu thư của tướng Rokossovsky và thượng tướng pháo binh N.N. Voronov:

Paulus lập tức gọi cho Hitler về nội dung tối hậu thư và yêu cầu được tự do hành động nhưng bị bác bỏ. Ngoài ra 1 nguyên nhân khác khiến quân Đức không muốn đầu hàng là việc tập đoàn quân Phương Nam của thống chế Paul Ludwig Ewald von Kleist đang rút khỏi Kavkaz. Hiện tại đang có 3 tập đoàn quân Xô Viết bao vây Stalingrad và nếu quân Đức đầu hàng, Hồng quân sẽ tung những lực lượng này đến các chiến trường khác, mà khả năng lớn nhất là chặn đường rút của Kleist. Do đó, Paulus quyết định cầm cự để Kleist có thể rút lui an toàn.

Xác xe tăng Đức bị tiêu diệt trên chiến trường Stalingrad

Sau khi quân Đức tại Stalingrad từ chối đầu hàng, ngày 10 tháng 1 năm 1943, Hồng quân Liên Xô đã giáng cho quân Đức 2 mũi tấn công vô cùng hùng hậu từ hướng Tây và hướng Nam. Mũi tấn công ở hướng Nam gặp phải sự kháng cự quyết liệt nhưng ở mũi hướng tây Hồng quân tiến như chẻ tre. Sư đoàn tăng thiết giáp số 3 Đức ở tuyến trước bị đánh tan. Sáng ngày 11 tháng 1, Hồng quân tiếp tục tấn công. Ở hướng Tây, họ tiếp tục thắng lớn. Sư đoàn cơ giới số 29 và sư đoàn bộ binh số 376 của Đức bị tiêu diệt hoàn toàn. Các đơn vị khác bị đẩy sâu vào trong, lính Đức bị chết cóng rất nhiều.

Sau vài ngày nghỉ ngơi, ngày 16 tháng 1, Hồng quân lại tấn công dữ dội và tiến gần đến sân bay Gumrak, sân bay dã chiến duy nhất còn sót lại của tập đoàn quân số 6. Chiến thuật của người Nga giờ đây có sự thay đổi: hễ gặp kháng cự mạnh là họ chuyển sang tấn công vị trí khác. Paulus triệu tập cuộc họp cấp chỉ huy các quân đoàn, đưa ra đề nghị các đơn vị liều chết phá vòng vây. Nhưng các chỉ huy từ chối vì cho rằng hành động đó là tự sát.

Chiều ngày 19 tháng 1, các sĩ quan cao cấp và sĩ quan tham mưu được lệnh rời bỏ đơn vị để di tản bằng máy bay. Các sĩ quan tham mưu được đưa ra sân bay bằng xe máy - phương tiện vận chuyển duy nhất còn hoạt động được. Xác lính Đức ngổn ngang trong khu vực sân bay. Dù trong tình thế nguy kịch nhưng lính Đức vẫn giữ kỷ luật nghiêm, chỉ ai có giấy chứng nhận có chữ ký của tham mưu trưởng tập đoàn quân và thương binh nặng mới được ưu tiên lên máy bay. Vì Hồng quân đã tiến sát nơi đây và vì sân bay bị pháo kích liên tục, chỉ có 4 chiếc máy bay Đức hạ cánh trong ngày 19. Ngày 22 tháng 1, chiếc máy bay He 111 rời sân bay với 19 thương binh và đây là chuyến bay di tản cuối cùng của tập đoàn quân 6 tại Stalingrad.[170]


Ngày 23 tháng 1, Hồng quân chiếm được sân bay Gumrak.[171] Hi vọng giải thoát cho các sĩ quan cao cấp của tập đoàn quân 6 cũng chấm dứt. Ngoài ra, việc tiếp tế cho quân Đức giờ đây chỉ còn có thể thực hiện được bằng cách thả dù. Đại diện phía Liên Xô đi đến phòng tuyến của Đức ngày 24 tháng 1 với lời đề nghị mới với những yêu cầu và lời hứa như cũ nhưng Paulus, nhận lệnh của Adolf Hitler không đầu hàng đã không hồi âm.[172]

Tù binh Đức, Ý, Rumani và Hungary bị bắt trong trận Stalingrad

Khi ấy, thấy quân Đức đang đến hồi nguy kịch trong trận Stalingrad đẫm máu, Hitler ví von Tập đoàn quân thứ sáu của Đức với 300 người lính thành Sparta dưới quyền vua Leonidas I đã kiên dũng chiến đấu trước quân xâm lược Ba Tư trong trận Thermopylae năm xưa.[173] Đến ngày 28 tháng 1, một đại đoàn có thời hùng mạnh bị cắt ra làm 3 mảnh nhỏ, mảnh phía nam là nơi Paulus đặt tổng hành dinh trong một trung tâm bách hóa một thời phát đạt Univermag. Tình hình thiếu hụt quân lương và đạn dược đã trở nên vô cùng tồi tệ, lúc này Paulus hiểu rõ nỗ lực tiếp vận của không quân Đức đã phá sản hoàn toàn - tức số phận của Stalingrad đã được định đoạt. Ông cầu xin Hitler cho phép ông đầu hàng để giữ tính mạng cho các binh sĩ, tuy nhiên vào ngày 30 tháng 1 năm 1943, nhân kỷ niệm 10 năm Đảng Quốc xã lên cầm quyền, Hitler đã phong cho Paulus quân hàm Thống chế vì từ trước tới nay chưa có một Thống chế Đức nào đầu hàng quân địch. Hitler cho rằng Paulus sẽ chọn cái chết để bảo toàn danh dự cho mình, vì nếu ông đầu hàng thì ông sẽ trở thành sĩ quan cao cấp nhất của Đức bị Hồng quân bắt làm tù binh. Tuy nhiên, Paulus vốn là người theo Công giáo vì vậy ông cực lực phản đối việc tự sát. Ngày 31 tháng 1 năm 1943 Paulus quyết định đầu hàng, đây là lần đầu tiên trong chiến dịch ông chống lại lệnh "tử thủ" của Hitler:

Một tù binh Đức đang bị một binh sĩ Hồng quân áp giải.

Ngày 2 tháng 2 năm 1943, các lực lượng quân Đức còn ở Stalingrad cũng đã đầu hàng. Số tù binh Hồng quân bắt được trong trận này lên đến 91 nghìn người, bao gồm cả ba nghìn lính Rumani, bộ phận còn lại của sư đoàn bộ binh số 20, sư đoàn kỵ binh số 1 và Cụm tác chiến "Đại tá Voicu".[175] Các tù binh Đức - kể cả 24 tướng lĩnh - đói khát, cóng lạnh, nhiều người mang thương tích, tất cả đều mê mụ, đau khổ, níu lấy tấm chăn lấm máu phủ lên đầu chống lại giá lạnh ở -24 °C, đi khập khiễng trên lớp băng tuyết hướng đến các trại tù binh ở Siberia. Nghe tin về sự đầu hàng của Paulus, Hitler đã nói với các sĩ quan của mình:

Hitler cũng cảm thấy tức giận do quân đội của ông ta đã đầu hàng chứ không thể làm nên một "Thermopylae" hào hùng cho ông ta. Trong đợt tổng tấn công của Liên Xô từ ngày 19 tháng 11 năm 1942 đến 2 tháng 2 năm 1943, theo ghi nhận của Nguyên soái G. K. Zhukov tại hồi ký của ông thì trong toàn bộ chiến dịch, đã có 32 sư đoàn và 3 lữ đoàn Đức đã bị tiêu diệt; 16 sư đoàn bị thiệt hại từ 1/2 đến 3/4 quân số.Zhukov 1987, tr. 47 Như vậy đã có hơn 14 vạn sĩ quan và lính Đức bỏ mạng trong những ngày cuối tại Stalingrad.[178] Khoảng 34.000 thương binh và sĩ quan đã được di tản bằng hàng không. Trận Stalingrad kết thúc với thắng lợi hoàn toàn của Hồng quân Liên Xô.

Sau này, Hitler có đề nghị Stalin giao trả Thống chế Paulus, đổi lại Hitler sẽ trả tự do cho con trai của Stalin là Yakov (Yakov là trung úy, bị bắt làm tù binh năm 1941). Tuy nhiên, Stalin đã đặt lợi ích đất nước lên trên tình cảm cá nhân, trong thư trả lời Stalin đã có một câu nói nổi tiếng "Tôi sẽ không đổi một Thống chế để lấy một trung úy". Sau này Yakov đã chết trong trại tù binh của Đức Quốc xã.[47]

Thương vong

Đức và chư hầu

Phe Trục thua với tổng số quân Đức, Hungary, RumaniÝ thiệt hại khoảng 1.050.000 binh sỹ. Trong đó:

  • Tổng số quân Đức trong thành phố có 285.000 chết, bị bắt, mất tích hoặc bị thương. 300.000 thương vong khác hứng chịu bởi các Tập đoàn quân A, B và Sông Don đến giải vây. Tổng cộng là khoảng 585.000 thương vong.
  • Quân Rumani bị thiệt hại 158.854 lính trong tổng số 228.000 lính tham chiến. Quân Ý thương vong 114.520 lính (bao gồm 84.830 chết hoặc bị bắt, và 29.690 bị thương) trong tổng số 235.000 lính tham chiến. Quân Hungary thương vong 143.000 lính (bao gồm 83.000 chết hoặc bị bắt, 60.000 bị thương) trong tổng số 200.000 lính tham chiến. Cùng với đó là khoảng 5 vạn lính Hiwi (những người Liên Xô đánh thuê cho Đức) đã tử trận hoặc bị bắt.[179] Tổng cộng là khoảng 466.000 thương vong.

Trong thời gian bị vây hãm cuối chiến dịch, có khoảng 10 nghìn thương binh Đức được di tản khỏi trận địa bằng máy bay, khoảng 180 ngàn lính chết tại trận, 91 nghìn bị bắt làm tù binh. Trong số 91 nghìn tù binh, có 27 nghìn chết trong tuần đầu tiên[180] và chỉ có 5 nghìn sống sót trở về Đức trong năm 1955.:430[181] Tính ra trong số 91 nghìn tù binh chỉ còn khoảng 6% sống sót. Nếu không kể 5 nghìn người được di tản bằng đường hàng không, trong số 28,5 vạn quân bị hợp vây chỉ có khoảng 2% còn sống sót. Ngoài 91.000 tù binh bị bắt ở nội đô Stalingrad, Hồng quân Liên Xô còn bắt được hàng chục ngàn tù binh ở các khu vực lân cận, tổng cộng quân đội Xô viết đã bắt được 151.246 tù binh trong chiến dịch phản công thắng lợi. Tổng cộng toàn chiến dịch, Liên Xô bắt được 235.000 tù binh đối phương.[182]

Trong khi đó, trong hồi ký Nhớ lại và suy nghĩ của mình, nguyên soái Liên Xô G.K.Zhukov đưa ra con số tổn thất của quân Đức trong cả Mặt trận Volga (bao gồm Stalingrad và các vùng phụ cận) là gần 1,5 triệu người, khoảng 3.500 xe tăngpháo tiến công, 12.000 khẩu đại báccối, gần 3.000 máy bay, một số lớn khí tài quân sự. Báo Nước Nga ngày nay cũng đưa ra con số 1,5 triệu người chết, bị thương và bị bắt trên toàn khu vực Stalingrad.[183][184]

Hồng quân Xô Viết

Còn Hồng quân tuy chiến thắng nhưng cũng chịu thiệt hại tới 1,1 triệu người.[185] Một nguồn khác cho con số tương tự 1.129.169 thương vong trong đó 478.741 chết/mất tích và 650.878 bị thương hoặc bị ốm. Trong số đó, thương vong trong giai đoạn phòng ngự ở nội đô Stalingrad là 75 vạn người, thương vong trong giai đoạn phản công quân Đức là 37 vạn người. Có 278 binh sĩ Liên Xô bị bắn hạ vì tội đào ngũ khi quân thù tấn công.[186] Thiệt hại về thường dân là 4 vạn người chết trong nội đô Stalingrad do các cuộc không kích của phát xít Đức, khi tập đoàn quân thiết giáp số 4 và tập đoàn quân số 6 tiến vào thành phố. Số dân thường bỏ mạng ngoài thành phố không được thống kê.

Tính chung thiệt hại của cả hai bên từ 2 đến 2,5 triệu người, khiến Trận Stalingrad trở thành trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới.

Kết quả, đánh giá và ảnh hưởng

Kết quả

Đại thắng Stalingrad của Liên Xô đã đe dọa đến cả Cụm Tập đoàn quân Nam của Đức.[187] Đây được xem là bước ngoặt quyết định về chính trị, quân sự và tâm lý của Chiến tranh thế giới thứ hai[188] vì đây là lần đầu tiên quân đội vô địch của nước phát xít Đức bị đánh bại trong một trận đánh tiêu diệt lớn, với gần 1/4 quân số toàn chiến trường Xô-Đức bị tiêu diệt. Không chỉ vậy, rất nhiều trong số những đơn vị Đức bị tiêu diệt là những đơn vị tinh nhuệ, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu (ví dụ như Tập đoàn quân số 6 từng là chủ công trong chiến dịch đánh bại Pháp năm 1940), dù có động viên tân binh thì quân Đức cũng không thể thay thế những đơn vị này được. Số tổn thất về lực lượng và phương tiện ấy đã ảnh hưởng tai hại đến tình hình chiến lược chung và làm rung chuyển tận gốc toàn bộ bộ máy chiến tranh của nước Đức. Vì cả quân Đức, Ý, Hungary, Rumani đều bị tiêu diệt trên sông Volgasông Don nên uy tín của Đức với các nước đồng minh đã giảm đi rõ rệt. Bắt đầu có bất đồng, tranh cãi vì mất lòng tin vào bộ máy thống trị của Hitler, các nước bắt đầu mong làm thế nào thoát khỏi mạng lưới chiến tranh mà Hitler đã đẩy họ vào.Zhukov 1987, tr. 49 Theo Nguyên soái Zhukov, chiến thắng tại Stalingrad đã tạo thành một làn sóng vui mừng trên khắp thế giới cũng là một cổ vũ lớn đối với các dân tộc ở châu Âu đang nằm dưới sự chiếm đóng của Phát xít Đức.

Thảm bại ở Stalingrad - một bước ngoặt giúp cho Liên Xô nắm chắc lợi thế của mình - đã trở thành tin dữ nhất của nước Đức đang lúc thất thế. Thậm chí, thắng lợi này còn được xem là một trong những bước ngoặt quyết định cả lịch sử thế giới trong thế kỷ XX.[30] Cùng với những chiến thắng của quân Đồng Minh tại Tunisia, chiến thắng Stalingrad đã mang lại lợi thế và củng cố niềm tin thắng lợi cho toàn khối Đồng Minh.[44]

Về phía Đức, tuy thất bại ở Stalingrad nhưng quân đội phát xít Đức còn rất mạnh và nhiều tiềm lực. Sau đó chừng 6 tháng vào mùa hè năm 1943, quân Đức tổ chức một trận đánh lớn tại vòng cung Kursk như một nỗ lực cuối cùng nhằm giành lại thế chủ động tiến công chiến lược. Nhưng một lần nữa quân Đức lại thua trận và từ đó họ lún sâu vào thế bị động chống đỡ cho đến khi đầu hàng vào tháng 5 năm 1945. Trận Kursk cũng được xem là một bước ngoặt như trận thắng của Liên Xô tại Stalingrad vậy.[47] Quân Liên Xô đang thắng thế, lại hừng hừng khí thế báo thù, với đỉnh cao là trận Berlin vào năm 1945.[30]

Đánh giá

Một góc thành phố Stalingrad sau trận đánh

Chiến bại quyết định tại Stalingrad được xem là trận thua thảm hại nhất của người Đức kể từ sau trận Jena (1806) trong những cuộc chiến tranh của Napoléon, và có thể còn nghiêm trọng hơn cả trận NormandieTây Âu vào năm 1944[30][189] Mặc dù phát xít Đức đã chiếm 90% thành phố nhưng những lực lượng Hồng quân còn lại vẫn tử thủ một cách kiên cường và quyết liệt. Đến cuối trận đánh, Hồng quân đã bao vây và tiêu diệt Tập đoàn quân số 6. Một số lực lượng của Tập đoàn quân số 4 cũng bị thương vong trong trận phản công của Hồng quân tại đây.

Khả năng cơ động của quân Đức là một nguyên nhân quan trọng cho thành quả mà họ đạt được trong đầu trận đánh. Trước Stalingrad, Hồng quân chỉ có thể huy động một lượng lớn binh sĩ và giành được chiến thắng trong một trường hợp duy nhất: Moskva. Quân Đức có thể đi vòng qua Stalingrad, vốn có giá trị không lớn về mặt quân sự và những cơ sở vật chất đã được di dời, hoặc tập trung lực lượng hướng xuống phía Nam tới dãy Kavkaz. Tuy nhiên, Hitler lại chọn cách ngược lại, phung phí không biết bao nhiêu binh sĩ thiện chiến trong những trận đánh đẫm máu trong một thành phố tan hoang; điều này mang lại nhiều lợi thế cho các lực lượng Hồng quân đồn trú và giúp Hồng quân có thời gian huy động một lực lượng khổng lồ để thực hiện đòn vu hồi bao vây Tập đoàn quân số 6. Một vài tướng lĩnh Đức cho rằng Hitler đã phung phí một trong những đơn vị quân tinh nhuệ nhất chỉ vì danh dự cá nhân. Tập đoàn quân số 6 được tái lập trong Trận Kursk, tuy nhiên thành phần của nó chủ yếu là những binh sĩ mới được động viên và sức mạnh của nó rõ ràng không thể bằng như trước kia được nữa.:386

Việc Hitler theo đuổi cùng một lúc quá nhiều mục tiêu cũng là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự bại trận của phát xít Đức ở Stalingrad. Ở phía cực Nam, Cụm Tập đoàn quân A nhận nhiệm vụ đánh chiếm vựa dầu của Liên Xô tại Kavkaz - đặc biệt là tại vùng Baku của Azerbaijan. Đó mới là mục đích ban đầu của chiến dịch và cũng được đánh giá là yếu tố quyết định để nhanh chóng đánh bại Liên Xô. Tuy nhiên về sau, nhận thấy địa hình khu vực Kavkaz quá hiểm trở, Hitler đã điều bớt binh lực của Cụm Tập đoàn quân B để chuyển sang chiến đấu tại Stalingrad - và vì vậy phát xít Đức không có đủ quân lực để đe dọa đến Baku. Ngược lại, nếu Hitler từ bỏ việc đánh Kavkaz thì Đức cũng có thể dồn quân từ Cụm Tập đoàn quân A lên Stalingrad để củng cố cạnh sườn yếu của Cụm Tập đoàn quân B và thậm chí cũng có thể giúp đỡ lực lượng này trong việc tác chiến trong thành phố. Rõ ràng tham vọng của Hitler đã vượt quá khả năng của quân Đức.[190]Stalingrad cũng là nơi thể hiện ý chí và tính kỉ luật của cả hai phe tham chiến. Trong giai đoạn đầu, Hồng quân phải bảo vệ thành phố trước sự tấn công dữ dội của phát xít Đức. Tổn thất của họ lúc đó thật là khủng khiếp, ước tính rằng một tân binh tham chiến tại một số đơn vị tiền phương sẽ không sống sót quá một ngày, còn đối với một sĩ quan là ba ngày. Sự hi sinh của các chiến sĩ Hồng quân được bất tử hóa bởi dòng chữ khắc trên bức tường nhà ga xe lửa - vị trí đã "đổi chủ" đến 15 lần trong suốt chiến dịch - của một binh sĩ Hồng quân thuộc Sư đoàn Cận vệ số 13 (nguyên là Sư đoàn bộ binh số 100) của tướng Rodimtsev khi anh bị thương nặng và đang hấp hối:

Các binh sĩ Đức cũng thể hiện tính kỉ luật cao độ của họ trong thời gian họ bị Hồng quân bao vây. Đây là lần đầu tiên việc này được thể hiện khi một lực lượng quy mô khổng lồ của phát xít Đức nằm trong một tình thế hết sức khó khăn. Đặc biệt vào giai đoạn cuối của chiến dịch khi thực phẩm và quần áo bị thiếu hụt, nhiều lính Đức bị chết đói, chết rét nhưng kỷ luật của Tập đoàn quân số 6 vẫn được giữ nghiêm minh cho đến tận giờ phút cuối cùng, khi mọi người đều nhận thấy rằng kháng cự là vô ích. Bản thân Tư lệnh Friedrich Paulus cũng tuân thủ nghiêm ngặt mệnh lệnh của Hitler bất chấp các tướng lĩnh Đức khác - kể cả Von Manstein - khẩn khoản yêu cầu ông nhanh chóng mở một cuộc phá vây thoát ra ngoài.

Vinh danh

759.560 binh sĩ, sĩ quan Liên Xô được trao tặng huân chương vì đã lập công trong chiến dịch Stalingrad từ 17 tháng 7 năm 1942 đến 2 tháng 2 năm 1943

Trong trận Stalingrad này, dù đã hứng chịu tổn thất to lớn (hơn cả thiệt hại của quân Đức) mà Hồng quân hoàn toàn đánh bại một lực lượng tinh nhuệ hạng nhất trong quân lực Đức trên Mặt trận Nga - Tập đoàn quân thứ sáu của Paulus, chứ không phải là những đội hình yếu ớt và tuyệt vọng như ở trận Berlin vào năm 1945.[30][47] Vì sự dũng cảm và anh hùng của các chiến sĩ Hồng quân bảo vệ thành phố, năm 1945 Stalingrad được phong danh hiệu Thành phố Anh hùng. Tháng 10 năm 1967, 24 năm sau ngày diễn ra trận đánh,[191] tượng đài Mẹ Tổ quốc kêu gọi được dựng lên ngọn đồi Mamayev Kurgan, đỉnh cao của thành phố. Đây cũng là nơi xây dựng khu tượng đài nổi tiếng rất to lớn để ghi nhớ trận đánh và tên của hơn một triệu chiến sĩ Hồng quân Xô Viết đã hi sinh tại Stalingrad. Khu phức hợp nhằm kỷ niệm các liệt sĩ trận vong tại Stalingrad bao gồm cả những ngôi nhà đổ nát trong thành phố được mọi người giữ nguyên trạng nhằm kỷ niệm trận đánh. Những chứng tích về các trận đánh ở Kho thóc Lớn, ở ngôi nhà Pavlov vẫn được bảo tồn để mọi người tham quan. Khoảng 50 năm sau trận ác chiến, những đống xương khô hãy còn phủ đầy các ngọn đồi gần thành phố.[47] Và đến tận bây giờ hài cốt của các liệt sĩ và những mảnh sắt thép vụn vẫn được tìm thấy trên đồi Mamayev như một biểu tượng của sự hi sinh to lớn của các chiến sĩ cũng như của thắng lợi rực rỡ của Hồng quân tại trận đánh mang tính bước ngoặt này.

Huân chương Suvorov hạng nhất đã được trao tặng cho G.K.Zhukov, A.M.Vasilevsky, N.N. Voronov, N.F.Vatutin, A.I.Yeryomenko, K.K.Rokossovsky vì có thành tích góp phần vào công tác lãnh đạo chung đưa cuộc phản công ở Stalingrad đến thắng lợi to lớn. Rất nhiều tướng lĩnh, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ cũng được khen thưởng. Trung tướng Aleksandr Rodimtsev, Tư lệnh sư đoàn cận vệ số 13 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết. Còn, thống chế Đức Friedrich Paulus bị bắt làm tù binh, ông tham gia vào một tổ chức của các tướng lĩnh Đức bị bắt làm tù binh, với mục đích kêu gọi chế độ Hitler chấm dứt chiến tranh và đàm phán với Liên Xô. Ông được thả vào năm 1953 và trở thành thanh tra công an ở Đông Đức vào cuối đời. Ông qua đời tại đây vào năm 1957.

Sau khi I. V. Stalin chết (1953), cùng với trào lưu chống sùng bái cá nhân Stalin, ban lãnh đạo Liên Xô đã đổi tên thành phố Stalingrad thành Volgograd nhưng trận chiến vĩ đại ở đây vẫn mang tên là trận Stalingrad.

Chiến thắng tại Stalingrad đã giúp cho uy tín cũng như vị thế chính trị của Stalin, Liên Xô và phong trào cộng sản được nâng cao đáng kể trên toàn thế giới.[192] Tờ báo The Daily Telegraph của Anh đã ca ngợi tinh thần chiến đấu của binh sĩ Liên Xô và tuyên bố chiến thắng của Hồng quân tại Stalingrad đã "cứu vãn nền văn minh châu Âu".[193] Nước Anh cũng tổ chức một ngày lễ kỉ niệm được gọi là "Ngày Hồng quân" vào ngày 23 tháng 2 năm 1943, tròn 3 tuần sau chiến thắng này. Vua Geogre VI của Anh còn cho rèn một thanh gươm được gọi là Gươm Stalingrad, thanh gươm này về sau đã được đích thân Thủ tướng Anh Churchill trao tặng cho Stalin tại Hội nghị Tehran năm 1943.[194] Tổng thống Mỹ Roosevelt cũng đã gửi một bức điện chúc mừng chiến thắng của Stalin và Liên Xô, trong đó ông đã gọi trận đánh Stalingrad là "một trong những chương đáng tự hào nhất trong cuộc đấu tranh của các dân tộc trên toàn thế giới chống lại chủ nghĩa phát xít".[195]

Trong văn hóa đại chúng

Các điều kiện khắc nghiệt của trận chiến bao gồm mùa đông Nga khủng khiếp gây ra cái lạnh và cái đói cho quân Đức đã được thể hiện trong một số bộ phim của Đức, Nga Lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine, Anh và Hoa Kỳ. Trận đánh cũng được thể hiện trong một số tác phẩm văn học vì tầm quan trọng của nó trong việc đẩy lui quân xâm lược Đức và cả về sự khốc liệt và tàn bạo của chiến trường, nơi con số binh sĩ thương vong thuộc dạng kinh hoàng đến mức chưa từng có trước đây.

Vũ khí được sử dụng

Hồng quân Xô Viết: súng ngắn Tokarev TT-33, súng ngắn ổ quay Nagant 1895; súng tiểu liên PPSh-41, PPS-42 và PPS-43, PPD-40; súng trường Mosin Nagant M91/30 (phiên bản bình thường lẫn phiên bản bắn tỉa), Mosin Nagant M38 Carbine, súng trường bán tự động SVT-40; trung liên Degtyarov DP-28; súng máy Maxim M1910, súng máy hạng nặng DShK; lựu đạn F1, RPG-40 và RGD-33; xe tăng T-26, T-34, súng trường chống tăng PTRS-41 và PTRD, chai xăng...

Phát xít Đức: súng ngắn Luger P08, Walther P38, Walther PPK, súng tiểu liên MP-38MP-40, súng trường Karabiner 98k, súng trường bán tự động Gewehr 43 và Gewehr 41, trung liên FG-42, súng máy MG-34, súng máy MG-42, lựu đạn M24, súng chống tăng Panzerschreck, súng phòng không Flak-38, xe tăng Panzer II, Panzer III, Panzer IV, pháo tự hành StuG-3...

Chú thích

  1. Con số này tăng đến 1.600 vào tháng 9 do quân Đức rút khỏi Kuban và Nam Kavkaz: Joel Hayward 1998, trg 195
  2. Glantz & House 1995, tr. 346.
  3. Anthony Tihamér Komjáthy (1982). A Thousand Years of the Hungarian Art of War. Toronto: Rakoczi Foundation. tr. 144–45. ISBN 978-0-8191-6524-4. OCLC 26807671.
  4. 1 2 История Второй Мировой войны 1939–1945. В 12 томах. [History of the Second World War 1939–1945. In 12 volumes.] (bằng tiếng Nga). Quyển 6. Коренной перелом в войне. Воениздат. 1976. tr. 35.
  5. 1 2 Hayward 1998.
  6. Bergstrom 2005
  7. Bergström 2007, tr. 72.
  8. Glantz & House 1995, tr. 134
  9. Hayward 1998, tr. 224.
  10. Wilson, Peter H. (2023). Iron and Blood: A Military History of the German-Speaking Peoples since 1500 (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). Harvard University Press. tr. 580. ISBN 978-0-674-98762-3.
  11. Великая Отечественная война 1941–1945 годов. В 12 т. [The Great Patriotic War of 1941–1945, in 12 Volumes] (bằng tiếng Nga). Quyển 3. Битвы и сражения, изменившие ход войны. Кучково поле. 2012. tr. 421. ISBN 978-5-9950-0269-7.
  12. Walter Scott Dunn, Kursk: Hitler's Gamble, 1943, p. 1
  13. 1 2 Walsh 2000, tr. 165.
  14. Jochen Hellbeck, Stalingrad: The City That Defeated the Third Reich, p. 12
  15. DiMarco 2012, tr. 39.
  16. 1 2 Frieser et al. 2017, tr. 14.
  17. 1 2 3 Craig 1973, tr. xii.
  18. Bell 2011, tr. 104–105.
  19. Childers, Thomas (2017). The Third Reich: A History of Nazi Germany (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 1). Simon & Schuster. tr. 518. ISBN 978-1-4516-5113-3.
  20. Россия и СССР в войнах ХХ века - Потери вооружённых сил Lưu trữ ngày 5 tháng 5 năm 2008 tại Wayback Machine, Nga và Liên Xô trong các cuộc chiến tranh thế kỷ XX - Tổn thất của các lực lượng vũ trang, Moskow, Nhà xuất bản Olma-Press, 2001.
  21. Переслегин, Сергей Борисович; Панин, А. (2005). Сталинград: цена победы [Stalingrad: The Price of Victory] (bằng tiếng Nga). Terra Fantastica. tr. 118. ISBN 5-7921-0673-8.
  22. Popov, P. P.; Kozlov, A.V.; Usik, B.G. (2008). Turning Point: Recollections of Russian Participants and Witnesses of the Stalingrad Battle (bằng tiếng Anh). Leaping Horseman Books. tr. 142. ISBN 978-0-9751076-6-9.
  23. Hanson, Victor Davis (2020). The Second World Wars: How the First Global Conflict Was Fought and Won (bằng tiếng Anh) . Basic Books. tr. 136, 308. ISBN 978-1541674103.
  24. Rees, Laurence (1999). The War of the Century: When Hitler Fought Stalin (bằng tiếng Anh). BBC Books. tr. 177. ISBN 978-0-563-38477-9.
  25. Соколов, Борис (2014). Чудо Сталинграда [The Miracle of Stalingrad] (bằng tiếng Nga). Алгоритм. tr. 235–236. ISBN 978-5-4438-0489-7.
  26. Hoyt 1999, tr. 276.
  27. Roberts 2006, tr. 143.
  28. Biesinger (2006: 699): "On August 23, 1942, the Germans began their attack."
  29. "Battle of Stalingrad". Encyclopædia Britannica. By the end of August, ... Gen. Friedrich Paulus, with 330,000 of the German Army's finest troops ... approached Stalingrad. On 23 August a German spearhead penetrated the city's northern suburbs, and the Luftwaffe rained incendiary bombs that destroyed most of the city's wooden housing.
  30. 1 2 3 4 5 6 7 Peter Antill, Peter Dennis. Stalingrad 1942. tr. 7.
  31. "Battle of Stalingrad." Encyclopædia Britannica. 2009. Encyclopædia Britannica Online. 6 May. 2009.
  32. Winchester, Charles D. (2011). Hitler's War on Russia (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. tr. 91. ISBN 9781849089906.
  33. Roberts, Andrew (2012). The Storm of War: A New History of the Second World War (bằng tiếng Anh). HarperCollins. tr. 320, 324, 345. ISBN 978-0-06-122860-5.
  34. Hellbeck, Jochen (2015). Stalingrad: The City that Defeated the Third Reich (bằng tiếng Anh). PublicAffairs. tr. 1. ISBN 9781610394963.
  35. Krinko, Evgeniy F.; Medvedev, Maksim V. (ngày 1 tháng 2 năm 2018). "Demographic Consequences of the Stalingrad Battle". Vestnik Volgogradskogo Gosudarstvennogo Universiteta. Seriâ 4. Istoriâ, Regionovedenie, Meždunarodnye Otnošeniâ (bằng tiếng Anh và Nga). 23 (1): 91–104. doi:10.15688/jvolsu4.2018.1.9. ISSN 1998-9938.
  36. Hanson, Victor Davis (2020). The Second World Wars: How the First Global Conflict Was Fought and Won (bằng tiếng Anh) . New York: Basic Books. tr. 3, 136, 308. ISBN 978-1541674103.
  37. Anderson, Gregory K. (ngày 1 tháng 6 năm 2003). Urban Operations: Theory and Cases (Luận văn). Naval Postgraduate School. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
  38. Spencer, John; Geroux, Jayson (ngày 28 tháng 6 năm 2021). "Urban Warfare Project Case Study #1: Battle of Stalingrad". Modern War Institute (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2022.
  39. DiMarco 2012, tr. 27.
  40. Walsh, Stephen (2020). "The Battle of Stalingrad, September–November 1942". Trong Fremont-Barnes, Gregory (biên tập). A History of Modern Urban Operations (bằng tiếng Anh). Palgrave Macmillan. tr. 55. ISBN 978-3-030-27088-9.
  41. Intrec Inc (1974). "Weapons Effects in Cities. Volume 1". Technical Report qua DTIC.
  42. 1 2 Johnson, Kevin D (1991). "Intelligence Preparation of the Urban Battlefield". Advanced Military Studies qua DTIC.
  43. Jeansonne, Glen; Luhrssen, David (ngày 31 tháng 3 năm 2006). A Time of Paradox: America Since 1890 (bằng tiếng Anh). Lanham: Rowman & Littlefield. tr. 229. ISBN 0-7425-3377-8.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  44. 1 2 Ian Cawood, Britain in the Twentieth Century, các trang 225-227. Routledge, 19-12-2003. ISBN 0-415-25457-4.
  45. Shirer (1960), tr. 932.
  46. John Keegan. Six armies in Normandy: from D-Day to the liberation of Paris. tr. 134.
  47. 1 2 3 4 5 6 Moss, Walter G. (2005). A History of Russia: Since 1855 (bằng tiếng Anh). Quyển 2. Anthem Press. tr. 299–301.
  48. Shirer (1960), tr. 864.
  49. Shirer (1960), tr. 909.
  50. MacDonald (1986), tr. 94.
  51. Joel Hayward. (2000) Quá ít, quá trễ: Một nghiên cứu về thất bại của Hitler trong tháng 8 năm 1942 trước nền sản xuất dầu mỏ bị tổn hại của Liên Xô. Tạp chí Lịch sử Quân sự, tập 64, Chương 3, trang 769-794
  52. 1 2 Shirer (1960), tr. 915.
  53. Taylor & Mayer (1974), tr. 144.
  54. Thông cáo của Bộ tư lệnh Tối cao Đức (ngày 27 tháng 10 năm 1941). "Văn bản những thông cáo chiến tranh thường nhật". New York Times. Số 28 tháng 10 năm 1941. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  55. Thông cáo của Bộ tư lệnh Tối cao Đức (ngày 10 tháng 11 năm 1942). "Văn bản những thông cáo chiến tranh thường nhật về chiến sự tại nhiều khu vực". New York Times. Số 10 tháng 11 năm 1942. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  56. Thông cáo của Bộ tư lệnh Tối cao Đức (ngày 26 tháng 8 năm 1942). "Văn bản những thông cáo chiến tranh thường nhật về chiến sự tại nhiều khu vực". New York Times. Số 26 tháng 8 năm 1942. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  57. Thông cáo của Bộ tư lệnh Tối cao Đức (ngày 12 tháng 12 năm 1942). "Văn bản những thông cáo chiến tranh thường nhật". New York Times. Số 12 tháng 12 năm 1942. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009.
  58. Craig 1973, tr. 25,48.
  59. Beevor 1999, tr. 127.
  60. Bergström 2007, tr. 69.
  61. 1 2 Jones, Michael (2011). Total War: From Stalingrad to Berlin (bằng tiếng Anh). London: John Murray. tr. 36. ISBN 978-1-84854-246-4.
  62. 1 2 Bergström 2007, tr. 122.
  63. 1 2 "Unsung Witnesses of the Battle of Stalingrad". The National WWII Museum | New Orleans (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2023.
  64. 1 2 Pojić, Milan (2007). Hrvatska pukovnija 369. na Istočnom bojištu 1941–1943 [Trung đoàn Croatia 369 trên Mặt trận phía Đông 1941–1943] (bằng tiếng Croatia). Zagreb: Hrvatski državni arhiv (Văn khố Quốc gia Croatia).
  65. Chaney, Otto Preston (1971). Zhukov (bằng tiếng Anh). University of Oklahoma Press. tr. 216. ISBN 9780806144603.
  66. Craig 1973, tr. 25, 48.
  67. 1 2 Beevor 1998, tr. 106.
  68. Bergström 2007, tr. 73.
  69. Beevor, Antony (1999). Stalingrad (bằng tiếng Anh). United Kingdom: Penguin Books. tr. 106.
  70. Hayward 1998, tr. 188–189.
  71. Bellamy 2007, tr. 507
  72. Bergström 2007, tr. 74.
  73. Bergström 2007, tr. 86.
  74. Isaev 2019, tr. 178.
  75. Glantz & House 2009b, tr. 335–336.
  76. Hastings, Max (2011). "The Furnace: Russia in 1942". All Hell Let Loose: The World at War 1939-1945 (bằng tiếng Anh). HarperCollins. tr. 309.
  77. 1 2 Beevor 1998, tr. 108.
  78. Isaev 2019, tr. 179–180.
  79. Adam & Ruhle 2015, tr. 65.
  80. Glantz, David M.; House, Jonathan M. (2009). Armageddon in Stalingrad: September-November 1942 (bằng tiếng Anh). University Press of Kansas. tr. 705. ISBN 978-0-7006-1664-0.
  81. Bergström 2007, tr. 75.
  82. Winchester, Charles D. (2011). Hitler's War on Russia (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. tr. 93–94. ISBN 9781849089906.
  83. Bergström 2007, tr. 80.
  84. Vasilevsky 1984, tr. 156.
  85. Glantz & House 2009a, tr. 134–135.
  86. Krivosheev, G. I. (1997). Soviet Casualties and Combat Losses in the Twentieth Century. Greenhill Books. tr. 51–97. ISBN 978-1-85367-280-4.
  87. Соколов, Борис (ngày 5 tháng 9 năm 2017). ru:Чудо Сталинграда (bằng tiếng Nga). Litres. tr. section 7. ISBN 978-5040049417.
  88. Звягинцев, Вячеслав Егорович (2006). ru:Война на весах Фемиды: война 1941–1945 гг. в материалах следственно-судебных дел (bằng tiếng Nga). Терра. tr. 375. ISBN 978-5275013092.
  89. Reese, Roger (2011). Why Stalin's Soldiers Fought: The Red Army's Military Effectiveness in World War II . University Press of Kansas. tr. 164–165. ISBN 978-0700617760.
  90. Hill 2017, tr. 357.
  91. Ellis 2011, tr. 196–197.
  92. Glantz & House 2009a, tr. 134.
  93. Beevor 1998, tr. xiv
  94. Hellbeck, Jochen (2015). Stalingrad: The City that Defeated the Third Reich (bằng tiếng Anh). PublicMedia. tr. 17. ISBN 9781610394963.
  95. TV Novosti. "Nhớ lại trận đánh quyết định trong Thế chiến 2". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009.
  96. 1 2 Beevor 1998, tr. 198.
  97. Joly 2017a, tr. 81.
  98. Glantz & House 2009a, tr. 204.
  99. Kaplan, Robert (2023). "Stalingrad: The Hinge of History – How Hitler's hubris led to the defeat of the Sixth Army". Journal of Military and Veterans' Health. 31.
  100. Beevor 1998, tr. 139
  101. 1 2 Beevor 1998, tr. 140
  102. McLaurin, R. D.; Jureidini, Paul A.; McDonald, David S.; Sellers, Kurt J. (1987). "Modern Experience in City Combat". Technical Memorandum qua DTIC.
  103. Jacobsen, Eli G. "No Land Behind The Volga: The Red Army's Defense of Stalingrad and the Encirclement of the German 6th Army" (PDF). Reecansw.
  104. Hogg, Ian V. (2002). German Artillery of World War Two (bằng tiếng Anh). London: Greenhill Books. tr. 138.
  105. "Những tay bắn tỉa hàng đầu của Thế chiến 2". Chiến tranh kết thúc (wio.ru) (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009.
  106. "Danh sách tay bắn tỉa trong Chiến tranh thế giới thứ 2". SniperCentral.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009.
  107. Joly 2017a, tr. 340–360.
  108. Shapiro, Henry (ngày 23 tháng 12 năm 1942). "Defense of Stalingrad Called Miracle of Modern Warfare". Green Bay Press-Gazette. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2024.
  109. Joly 2017b, tr. 34.
  110. Werth 1946, tr. 279.
  111. Werth 1946, tr. 281.
  112. Beevor 1998, tr. 187
  113. Craig 1973, tr. 158
  114. Mark, Jason D. (2018). Island of Fire: The Battle for the Barrikady Gun Factory in Stalingrad (bằng tiếng Anh). Stackpole Books. tr. 92. ISBN 9780811766197.
  115. Glantz & House 2009a, tr. 380–383.
  116. Isaev 2017, tr. 242–243.
  117. Werth 1946, tr. 463.
  118. Joly 2017b, tr. 178–302.
  119. Joly 2017b, tr. 360–380.
  120. Glantz, David M.; House, Jonathan M. (2009). Armageddon in Stalingrad: September-November 1942 (bằng tiếng Anh). University Press of Kansas. tr. 698. ISBN 978-0-7006-1664-0.
  121. Hayward 1998, tr. 195.
  122. Bergström 2007, tr. 83.
  123. Hayward 1998, tr. 95.
  124. Hayward 1998, tr. 194-196.
  125. Bergström 2007, tr. 84.
  126. Bergström 2007, tr. 82.
  127. Golovanov 2004, tr. 265.
  128. 8.314 máy bay Đức đã được sản xuất từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1942, tuy nhiên số này không đủ để duy trì sức chiến đấu trên cả ba mặt trận.
  129. Bellamy 2007, tr. 516
  130. Tucker, Spencer C. (ngày 6 tháng 9 năm 2016). World War II: The Definitive Encyclopedia and Document Collection [5 volumes]: The Definitive Encyclopedia and Document Collection. ABC-CLIO. ISBN 978-1-85109-969-6 qua Google Books.
  131. Battle for Stalingrad: the 1943 Soviet General Staff study. (1990). Choice Reviews Online, 27(05), pp. 27-2848-27-2848.
  132. "Heeresarzt 10-Day Casualty Reports per Army/Army Group, 1942". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2017.
  133. Werth 1946, tr. 206.
  134. Zhukov 1974, tr. 110–111.
  135. Zhukov 1974, tr. 95–96, 119, 122, 124.
  136. Haupt, Cụm Tập đoàn quân Nam, trg 209-211
  137. Shirer 1990, tr. 915.
  138. The World At War. "Stalingrad." Original air date: 2 January 1974.
  139. Adam & Ruhle 2015, tr. 87–91, 95, 129.
  140. Shirer (1960), tr. 917.
  141. Glantz 2009a, tr. 108-119.
  142. Beevor 1998, tr. 117.
  143. "Bản đồ xung đột – Leavenworth Paper No. 2: Nomonhan, Japanese–Soviet Tactical Combat 1939 (Maps)". U.S. Army Command and General Staff College (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2009.
  144. 1 2 3 Shirer (1960), tr. 926.
  145. Manstein 2004, tr. 182
  146. Overy, Richard, biên tập (2023). The Oxford History of World War II. Oxford: Oxford University Press. tr. 121. ISBN 978-0-19-288408-4.
  147. Beevor (1998, tr. 184)
  148. Thomas, Nigel (2015). "Eastern Troops. Hilfswillige". Hitler's Russian & Cossack Allies 1941–45. Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1472806895.
  149. Дёрр, Ганс (1957). "Снабжение 6-й армии по воздуху (Схема 23)". Поход на Сталинград: Оперативный обзор ["Cuộc dạo chơi" tại Stalingrad – Tổng quan tác chiến; Tiếp tế đường không cho Tập đoàn quân 6 (Sơ đồ 23)] (bằng tiếng Nga). Москва: Воениздат.
  150. von Manstein, Erich (1999). "Глава 12 — Трагедия под Сталинградом" [Chương 12 — Bi kịch tại Stalingrad]. Утерянные победы [Những thắng lợi đã mất] (bằng tiếng Nga). Москва; Санкт-Петербург: АСТ; Terra Fantastica.
  151. Beevor 1998, tr. 283–284
  152. Thomas, Nigel (ngày 20 tháng 8 năm 2012). The German Army 1939–45 (3): Eastern Front 1941–43. Bloomsbury Publishing. ISBN 978-1-78200-219-2.
  153. Hayward 1998, tr. 234.
  154. Hayward 1998, tr. 310.
  155. Craig 1973, tr. 206-207.
  156. Bates, Aaron (tháng 4 năm 2016). "For Want of the Means: A Logistical Appraisal of the Stalingrad Airlift". The Journal of Slavic Military Studies. 29 (2): 298–318. doi:10.1080/13518046.2016.1168137.
  157. Weinberg 2005, tr. 451
  158. Hayward 1998, tr. 195
  159. Vasilevsky 1984, tr. 191.
  160. Walsh 2000, tr. 153.
  161. Tướng lĩnh Ý được báo cáo tử trận, New York Times, 15 tháng 1 năm 1943
  162. von Manstein 1982, tr. 332.
  163. Adam & Ruhle 2015, tr. 132–33, 138–143, 150, 155, 165.
  164. Müller 2012, tr. 83–84: "Trong suốt giai đoạn này, quân Đức đã khen ngợi tinh thần bền bỉ của lực lượng bộ binh Ý, những người đã giữ vững một cách ngoan cường ngay cả trong các trọng điểm bị cô lập, nhưng rồi cuối cùng họ cũng đã sụp đổ dưới sức ép không ngừng nghỉ này."
  165. Paoletti, Ciro (2008). A Military History of Italy. Westport, Connecticut: Praeger Security International. tr. 177. ISBN 978-0-275-98505-9. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009.
  166. Adam & Ruhle 2015, tr. 159, 166–67.
  167. Adam & Ruhle 2015, tr. 153.
  168. Zhukov 1974, tr. 137.
  169. Рокоссовский, Константин Константинович (1988). "Под Сталинградом". Солдатский долг [Nghĩa vụ quân nhân — “Ở Stalingrad”] (bằng tiếng Nga). Москва: Воениздат.
  170. Winchester, Charles. Hitler's War on Russia [Cuộc chiến của Hitler tại Nga] (bằng tiếng Anh). Osprey Publishing. tr. 111. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2009.
  171. Das Wolf - Third Reich militaria[liên kết hỏng] Tháng 1 năm 1943, cập nhật: 9 tháng 3 năm 2009
  172. Clark 1965, tr. 283.
  173. Tom Holland, Persian Fire: The First World Empire and the Battle for the West, trang XVII. Doubleday; BCE edition (ngày 2 tháng 5 năm 2006), English. ISBN 0-385-51311-9.
  174. Beevor, Antony (1999). Stalingrad: The Fateful Siege, 1942–1943 [Stalingrad, Cuộc bao vây định mệnh: 1942–1943] (bằng tiếng Anh). New York: Penguin Books. tr. 381.
  175. Pusca, Dragos; Nitu, Victor (ngày 4 tháng 12 năm 2009). "Trận Stalingrad — 1942". Các lực lượng vũ trang Rumani trong chiến tranh thế giới thứ hai. worldwar2.ro.
  176. Overy (1997), tr. 185.
  177. Victor, George (1998). "Hitler: The Pathology of Evil" (Brassey, Google Books). Potomac Books, Inc. tr. 208. ISBN 9781574882285.
  178. Tippelskirch, Kurt von (1999) [1954]. "Глава VII. Перелом — Сталинград" [Chương VII. Bước ngoặt — Stalingrad]. История Второй мировой войны [Lịch sử Chiến tranh Thế giới thứ Hai] (bằng tiếng Nga). Санкт-Петербург; Москва: Полигон; АСТ.
  179. Walsh, Stephen (2013). Stalingrad 1942–1943: The Infernal Cauldron (bằng tiếng Anh). Oxford: Osprey Publishing. ISBN 9781908273987.
  180. Rayfield (2004), tr. 396.
  181. Baird (1969), tr. 196.
  182. Evans, Richard J. (2008). The Third Reich at War: 1939–1945 (bằng tiếng Anh). London: Penguin Books. ISBN 9781101022306.
  183. "Nhớ lại Trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử". Russia Today. ngày 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009.
  184. "Сталинградская битва" [Trận Stalingrad]. Hrono.info (bằng tiếng Nga). ngày 4 tháng 12 năm 2009.
  185. "Battle of Stalingrad". Microsoft Encarta (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 2007). Microsoft Corporation. 2006.
  186. Pykhalov, Igor' (tháng 6 năm 2004). "Pravda o zagraditel'nykh otriadakh". Spetsnaz Rossii (bằng tiếng Nga).
  187. Geoffrey Parker. The Cambridge History Of Warfare. tr. 339-340.
  188. Geoffrey Roberts (ngày 28 tháng 7 năm 2003). "Victory on the Volga". The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2025.
  189. John Keegan. Six armies in Normandy: from D-Day to the liberation of Paris. tr. 17. OCLC 652043494.
  190. Walsh 2000.
  191. "Đài tưởng niệm lịch sử "Tới những anh hùng của trận Stalingrad" tại Mamayev Hill". Mamayev Hill – Official Website (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2008.
  192. Bell 2011, tr. 108.
  193. Bell 2011, tr. 95.
  194. Bell 2011, tr. 106.
  195. "Franklin D. Roosevelt: "Congratulations to Marshal Stalin on the Russian Victory at Stalingrad"". The American Presidency Project (bằng tiếng Anh). ngày 4 tháng 2 năm 1943.

Tham khảo

Tiếng Việt

  • Beevor, Antony (2018). Stalingrad – Trận chiến định mệnh. Trịnh Huy Ninh biên dịch. Hà Nội: Nhà xuất bản Hồng Đức; Công ty Cổ phần Sách Omega.
  • Chuikov, Vasily Ivanovich (1985). Trần Anh Tuấn (hiệu đính) (biên tập). Xta-lin-grát – trận đánh của thế kỷ (Hồi ký). Nguyễn Hữu Thân biên dịch. Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.
  • Shtemenko, Sergey Matveyevich (1985). Bộ Tổng tham mưu Xô-viết trong chiến tranh (Hồi ký). Trần Anh Tuấn biên dịch. Moskva: Nhà xuất bản Tiến Bộ.
  • Vasilevsky, Aleksandr Mikhailovich (1984). Sự nghiệp cả cuộc đời (Hồi ký). Moskva: Nhà xuất bản Tiến Bộ.
  • Zhukov, Georgi Konstantinovich (1987). Nhớ lại và suy nghĩ (Hồi ký). Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân.

Tiếng Anh

Liên kết ngoài

Tư liệu tiếng Việt

  • A. M. Vailevsky, Sự nghiệp cả cuộc đời (bản tiếng Việt), NXB Tiến bộ, Moskva, 1986
  • G. K. Zhukov, Nhớ lại và suy nghĩ - Tập 2 (bản tiếng Việt), NXB Quân dội Nhân dân, Hà Nội, 1987.
  • V. I. Tchuikov, Stalingrad - trận đánh của thế kỷ (bản tiếng Việt). NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội. 1985
  • S. M. Stemenko, Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh - Tập 1 (bản tiếng Việt), NXB Tiến bộ, Moskva, 1985

Tư liệu tiếng Nga

Tư liệu tiếng Đức

Tư liệu tiếng Xécbi

Tư liệu tiếng Anh

Điện ảnh