Lý Hương Quân
Lý Hương Quân[李香君] | |
|---|---|
| Sinh | 1624 Tô Châu |
| Mất | 1654 Thương Khâu |
Lý Hương Quân (chữ Hán: 李香君, 1624 - 1654), còn gọi Lý Cơ (李姬) hay Lý Hương (李香), là một kỹ nữ tài hoa cuối thời nhà Minh và đầu thời nhà Thanh.
Nàng là một trong Tần Hoài bát diễm hay còn gọi là Kim Lăng bát diễm (金陵八艷) thời Minh mạt, gồm có: Mã Tương Lan, Biện Ngọc Kinh, Lý Hương Quân, Liễu Như Thị, Đổng Tiểu Uyển, Cố Hoành Ba, Khấu Bạch Môn, Trần Viên Viên.
Tiểu sử
Bà vốn mang họ Ngô (吳), sinh năm 1624 tại Tô Châu trong một gia đình quan lại nhỏ. Cha bà vốn là một võ tướng không gặp đúng thời, do gia nhập đảng Đông Lâm nên bị Ngụy Trung Hiền hãm hại, khiến cả nhà suy sụp. Năm 8 tuổi, bà đổi sang họ Lý (李), trở thành dưỡng nữ của một danh kỹ đương thời là Lý Trinh Lệ (李貞麗). Lý Trinh Lệ khi ấy nổi tiếng là hào phóng, thường xuyên giao du với người của Phục Xã hội, lại rất thân thiết với Trần Trinh Tuệ (陈贞慧), một trong "Minh mạt Tứ công tử", Lý Hương Quân từ nhỏ được mẹ nuôi yêu thương như con ruột, được dạy dỗ bài bản về âm nhạc, thơ ca, về sau cũng nổi danh không kém gì Trinh Lệ tại Tần Hoài.

Năm 15 tuổi, Lý Hương Quân quen biết và có tình cảm với Hầu Phương Trực (侯方域), thủ lĩnh của Phục Xã hội thời bấy giờ, cuối cùng trở thành thiếp của ông. Hầu Phương Trực, tự Triêu Tông (朝宗), xuất thân trong gia đình quan lại, con trai thứ ba của Binh bộ Thị lang Hầu Tuân (侯恂). Cưới về chưa được bao lâu thì gia cảnh thất thế, Binh bộ Thượng thư khi ấy là Nguyên Đại Trừng (阮大鋮) nghe danh Lý Hương Quân đã lâu nên muốn mua chuộc Hầu Phương Trực để giúp đỡ, thực chất là ngỏ ý tặng bà cho ông ta. Nhìn rõ bộ mặt thật, Hầu Phương Trực lập tức từ chối, từ đó Đại Trừng đem lòng oán hận ông.
Năm Sùng Trinh thứ 17 (1644), kinh đô thất thủ, tháng 5 cùng năm thì Hoằng Quang đế lên ngôi tại Nam Kinh. Hoằng Quang trọng dụng Nguyên Đại Trừng, hắn liền nhân cơ hội hãm hại Hầu Phương Trực, buộc Trực phải đến nương náu tại chỗ của Sử Khả Pháp. Vào năm sau (1645), Nam Kinh thất thủ, quân Thanh tiến hành đốt phá và giết chóc khắp nơi, buộc Lý Hương Quân phải đến ẩn nâu tại núi Tê Hà rồi trở thành ni cô tại đây, cùng với một danh kỹ khác trong Tần Hoài bát diễm là Biện Ngọc Kinh. Tháng 8 năm đó, Hầu Phương Trực tìm thấy tung tích của bà, hai người vượt qua sông Dương Tử, đi về phía quê hương của Trực là Thương Khâu sinh sống. Vì xuất thân ca kỹ, bà bị cha chồng đối xử khắc nghiệt, phải dọn đến khu điền trang của nhà họ Hầu sinh sống.
Năm Thuận Trị thứ 11 (1654), Lý Hương Quân qua đời trong tuyệt vọng khi mới 30 tuổi. Hầu Phương Trực vô cùng thống khổ, tự tay dựng bia mộ cho bà, đề chữ: "Nàng chết trong oán hận, phu quân của nàng (chỉ Trực) sống trong ân hận suốt đời".[1]
Huyền thoại "Đào Hoa phiến"

Tương truyền sau khi Hầu Phưong Trực rời khỏi Nam Kinh, bà bị Nguyên Đại Trừng ép gả cho một nhân vật có quyền thế (có thể ở đây chỉ Hoằng Quang Đế). Bà kiên quyết chống cự để giữ khí tiết, Đai Trừng tức giận sai người ra đánh, làm máu văng lên chiếc quạt lụa bên cạnh. Từ đó, Dương Văn Thông đã khéo léo dùng màu đỏ để vẽ thành cành hoa đào, qua đấy trở thành biểu tượng cho lòng son sắt, khí tiết kiên cường và tinh thần phản kháng của bà.
"Đào Hoa phiến" chính là tiền đề để nhà văn Khổng Thượng Nhâm (孔尚任) [zh] viết nên tác phẩm cùng tên gồm 44 hồi miêu tả chuyện tình của bà và chồng, là một trong "Tứ đại danh kịch" của Trung Quốc cổ đại bên cạnh Tây sương ký của Vương Thực Phủ, Mẫu đơn đình của Thang Hiến Tố và Trường Sinh điện của Hồng Thăng.[2][3][4]
Tham khảo
- Tần Hoài bát diễm
- Đào Hoa phiến
- Liễu Như thị
- Đổng Tiểu Uyển
- Mỹ nhân Trung Hoa
- Kỹ nữ Trung Quốc
- Người Tô Châu