Bước tới nội dung

Louis François I xứ Conti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Louis-François I de Bourbon-Conti
Chân dung bởi Alexis Simon Belle, khoảng năm 1730.
Thân vương xứ Conti
Tại vị4 tháng 5 năm 1727 – 2 tháng 8 năm 1776
Tiền nhiệmFrançois Louis I
Kế nhiệmLouis François II
Thông tin chung
Sinh13 tháng 8 năm 1717
Paris, Vương quốc Pháp
Mất2 tháng 8 năm 1776 (58 tuổi)
Paris , Vương quốc Pháp
Phối ngẫuLouise Diane của Orléans
Hậu duệLouis François II xứ Conti
Tên đầy đủ
Louis François de Bourbon
Hoàng tộcBourbon-Conti
Thân phụLouis Armand II, Thân vương xứ Conti
Thân mẫuLouise Élisabeth de Bourbon
Chữ kýChữ ký của Louis-François I de Bourbon-Conti

Louis-François de Bourbon-Conti[1], hay còn gọi là Louis François I, Thân vương xứ Conti (13 tháng 8 năm 1717 – 2 tháng 8 năm 1776), là một quý tộc người Pháp thuộc vương tộc Bourbon, người đã trở thành Thân vương xứ Conti giữ tước vị từ năm 1727 cho đến khi qua đời. Ông kế thừa tước hiệu sau khi phụ thân là Louis Armand II de Bourbon, Thân vương xứ Conti qua đời. Thân mẫu của ông là Louise Élisabeth de Bourbon, con gái của Louis III, Thân vương xứ Condé và Louise Françoise de Bourbon – con gái được hợp pháp hóa của Louis XIVMadame de Montespan. Do đó, Louis François là chắt ngoại của Louis XIV, thuộc hàng Prince du Sang (Thân vương huyết thống).

Ông có một em gái là Louise Henriette de Bourbon, người về sau sinh ra Philippe Égalité, nhân vật tai tiếng trong thời Cách mạng Pháp.

Louis François dàn dựng âm mưu chống lại Louis XV từ năm 1755 đến năm 1757, xuất phát từ sự phản đối chính sách đối ngoại thân Áo của nhà vua và sự thống trị của các bộ trưởng dưới thời Công tước xứ Choiseul. Là một người từng thân tín với hoàng gia, ông đã tập hợp các quý tộc bất mãn, tận dụng mối quan hệ huyết thống của mình và tìm kiếm các liên minh bên ngoài để phế truất nhà vua và thiết lập một chế độ nhiếp chính hoặc một chính quyền thay thế. Sự thất bại của âm mưu đã dẫn đến việc ông bị trục xuất khỏi Versailles.

Tiểu sử

Louis François I sinh ra ở Paris. Ông là con trai duy nhất còn sống của Louis Armand de Bourbon, Thân vương xứ Conti (1696–1727), và Louise Élisabeth de Bourbon (1693–1740). Louis đã trải qua thời thơ ấu tại Hôtel de Conti. Sau cái chết của cha vào ngày 23 tháng 7 năm 1727, ông kế vị tước hiệu Thân vương khi mới chín tuổi, Do chưa đủ tuổi thành niên, những năm đầu Louis giữ tước vị trên danh nghĩa dưới sự giám hộ của gia tộc, nhưng quyền lực thực tế mà đặc biệt là thân mẫu, người đã duy trì vị thế và ảnh hưởng của gia đình Conti tại triều đình Versailles. [2]Ông chỉ thực sự nắm quyền khi bước vào tuổi trưởng thành.

bước vào thời kỳ được nhiếp chính và giám hộ.[1] Trước năm 1727, Louis François mang tước hiệu danh dự Comte de La Marche[2] (tạm dịch là: Bá tước xứ La Marche hoặc Bá tước de La Marche).

Mặc dù các nguồn tư liệu đương thời không ghi chép cụ thể về gia sư hay việc giáo dục của ông, Louis François nhanh chóng được đưa vào các chức vụ quân sự đã trải qua một quá trình huấn luyện thực tiễn nghiêm ngặt từ thời niên thiếu, bao gồm cưỡi ngựa, chiến thuật và nghệ thuật lãnh đạo.

Lễ cưới của Louis François và Louise Diane tại Nhà nguyện Versailles, năm 1732.

Năm 1731, ở tuổi 14, Louis François thành hôn với Louise Diane xứ Orléans, Mademoiselle de Chartres, là em họ của thân mẫu ông, đồng thời là con gái út của Philippe II xứ Orléans, (người từng giữ chức Nhiếp chính nước Pháp trong thời niên thiếu của Louis XV) và Françoise-Marie de Bourbon, con gái của Louis XIV cùng Madame de Montespan.

Cuộc hôn nhân này được Thái Thân vương phi xứ Conti (mẹ Louis) cùng Thái Công tước phu nhân xứ Orléans (mẹ Louise) đích thân sắp đặt, nhằm củng cố liên minh giữa hai nhánh quyền thế nhất của gia tộc Bourbon. Tuy nhiên, hôn nhân đoản mệnh. Năm 1736, Louise Diane qua đời tại lâu đài Issy, sau khi sinh ra đứa con chết non. Cái chết của bà khiến Louis François rơi vào cảnh góa bụa khi còn rất trẻ. Sau biến cố ấy, ông lui về cư trú tại lâu đài L’Isle-Adam, gần Paris, nơi trở thành bản doanh riêng của nhánh Conti trong nhiều năm.

Năm 1740, Louis François từng đệ thỉnh cầu lên Louis XV, xin được kết hôn với con gái thứ hai, Henriette của Pháp. Tuy nhiên, quốc vương đã khước từ đề nghị này,[3] có lẽ vì những cân nhắc chính trị và ngoại giao rộng lớn hơn. Việc bị từ chối này cũng cho thấy, dẫu là Thân vương huyết thống, Louis vẫn không đủ địa vị để trở thành phò mã của chính thống của một vương nữ Pháp.

Sự nghiệp quân sự

Chân dung năm 1749.

Louis François cũng theo đuổi sự nghiệp quân sự. Khi Chiến tranh Kế vị Áo bùng nổ năm 1741, ông theo Công tước xứ Belle-Isle sang Bohemia. Những cống hiến của ông tại đây giúp ông được giao quyền chỉ huy quân đội tại Ý, nơi ông lập nhiều chiến công, nổi bật là cưỡng phá đèo Villafranca và chiến thắng tại trận Coni năm 1744.

Năm 1745, ông được điều sang Đức để kiềm chế quân Áo. Đến 1746, ông chuyển sang mặt trận Hà Lan, chỉ huy cuộc vây hãm Mons và giành thắng lợi. Tuy nhiên, do mâu thuẫn gay gắt với Thống chế xứ Sachsen, ông xin rút lui khỏi quân đội năm 1747, lui về lâu đài L’Isle-Adam.

Năm 1760, ông mua lại một vườn nho trứ danh ở Bourgogne với giá rất cao. Sau khi mua, ông gắn thêm họ của mình vào tên vườn nho, từ đó nó được gọi là Romanée-Conti. Ngày nay, nơi đây sản xuất ra những loại rượu vang đắt giá nhất thế giới.[4]

Ứng viên ngai vàng Ba Lan và ảnh hưởng tại triều đình

Cũng trong năm 1760, một phe quý tộc Ba Lan đề nghị Louis François tranh ngôi Quốc vương Ba Lan, trong bối cảnh vua August III được dự đoán sắp băng hà. Ông giành được sự ủng hộ cá nhân của Louis XV, song các đại thần của nhà vua lại chủ trương đưa nhà Wettin xứ Sachsen tiếp tục nắm ngai vàng, bởi Maria Josepha xứ Sachsen, Thái tử phi nước Pháp là con gái của August III. Sự bất đồng này khiến Louis XV thiết lập một mạng lưới thư tín bí mật, gửi chỉ thị riêng cho các đại sứ ở nước ngoài, song song và đối lập với đường lối chính thức của triều đình. Mạng lưới này về sau phát triển thành hệ thống mật báo nổi tiếng mang tên “Secret du Roi”.

Dù không giành được ngai vàng Ba Lan, Thân vương xứ Conti vẫn giữ được ân sủng của Louis XV cho đến năm 1755, khi Madame de Pompadour dùng thủ đoạn triều chính để phá hoại ảnh hưởng của ông. Quan hệ giữa hai người xấu đi nghiêm trọng; đến khi Chiến tranh Bảy Năm bùng nổ năm 1756, ông bị từ chối trao quyền chỉ huy quân đội sông Rhine. Tức giận, ông quay sang chống đối chính quyền, khiến Louis XV mỉa mai gọi ông là: “người anh em họ – luật sư của ta”.

Năm 1771, ông đứng đầu phe chống lại tể tướng Maupeou, ủng hộ các Nghị viện và tỏ ra đặc biệt thù địch với Turgot. Do lập trường chống triều đình quá mạnh mẽ, ông bị nghi ngờ có liên quan đến cuộc nổi loạn ở Dijon năm 1775.

Những năm cuối đời

Louis François khi về già.

Bị lưu đày khỏi triều đình, sau khi tham gia vào một liên minh Frondiste với những người Tin lành và vào các công việc của Nghị viện, ông đã an cư lập nghiệp một cách tao nhã với tư cách là Đại Tu viện trưởng của Hiệp sĩ Dòng Malta, cư trú tại Palais du Temple ở Le Marai .

Trong những năm cuối đời, ông xây dựng một bộ sưu tập nghệ thuật đồ sộ và danh tiếng, được trưng bày trong một phòng triển lãm riêng tại Temple. Sau khi ông qua đời, bộ sưu tập này được bán đấu giá từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1777, gây ảnh hưởng lớn đến thị trường nghệ thuật Paris trong nhiều thập niên sau đó. Trong số các tác phẩm nổi bật có bức English Tea Served in the Salon des Glaces at the Palais du Temple (1764) của Michel Barthélemy Ollivier, khắc họa Mozart thuở nhỏ đang chơi đàn clavichord (nay lưu giữ tại cung điện Versailles).

Ông thừa hưởng tình yêu văn chương từ phụ thân, là một vị tướng dũng cảm và lão luyện, đồng thời là người nghiên cứu lịch sử quân sự một cách nghiêm túc. Tình nhân của ông, Nữ Bá tước xứ Boufflers, một người phụ nữ uyên bác, chủ trì salon văn học tại tư dinh của ông ở Paris, quy tụ nhiều trí thức lớn. Thông qua bà, Louis François trở thành người bảo trợ của Jean-Jacques Rousseau.

Sau khi ông qua đời, con trai ông là Louis François Joseph de Bourbon (1734–1814) kế vị, trở thành Thân vương xứ Conti cuối cùng.

Con cái

TênChân dungSinh và mấtGhi chú
Louis François Joseph de Bourbon

Thân vương xứ Conti

1 tháng 9 năm 1734 -

13 tháng 3 năm 1814

Sinh tại Paris, ông ban đầu được biết đến với tước hiệu Bá tước de La Marche, trước khi kế thừa tước vị Thân vương xứ Conti. Ông kết hôn với người chị họ đời thứ nhất, Maria Fortunata d'Este, con gái của Francesco III d'Este, Công tước xứ Modena và Charlotte Aglaé xứ Orléans – em gái của mẹ ông. Cuộc hôn nhân này không có con hợp pháp. Ông qua đời tại Barcelona, Tây Ban Nha tuổi ở 79.
X de Bourbon[5]26 tháng 9 năm 1736Đứa trẻ sinh ra tại Lâu đài Issy nhưng bị chết non, mẹ của nó cũng qua đời sau khi sinh.

Tài liệu tham khảo

  •  Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Conti, Princes of". Encyclopædia Britannica (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press.
  1. 1 2 "Collections Online | British Museum". www.britishmuseum.org (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  2. 1 2 Gemeinhardt, David (ngày 7 tháng 6 năm 2025). "Who's Who: Conti". Versailles Century. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2026.
  3. Jules Soury: Les six Filles de Louis XV.Revue des Deux Mondes, 3e période, tập 3, 1874 (tr. 750-798).
  4. Wine Doctor: Côte de Nuits part 3
  5. X thay thế cho tên của đứa trẻ có nghĩa là đứa trẻ đó không có tên, trong trường hợp này là do đứa trẻ đã mất ngay sau khi sinh.