Bước tới nội dung

Lăng Song Thân Lê Văn Duyệt

Lăng song thân Lê Văn Duyệt
Lăng mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt
Di tích cấp tỉnh
Thông tin lăng mộ
Loại lăng mộlăng mộ; đền thờ
ThờLê Văn Toại; Nguyễn Thị Lập
Địa chỉViệt Nam Ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Tiền Giang (nay thuộc Đồng Tháp), Việt Nam, Việt Nam
Tọa độ10°22′22″B 106°15′59″Đ / 10,37278°B 106,26639°Đ / 10.37278; 106.26639
Thành lậpđầu thế kỷ 19[1]
Lễ hộiGiỗ song thân (ngày 9 tháng 3 âm lịch)[1]
Di tích cấp tỉnh
Lăng mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt
Phân loạiDi tích lịch sử – văn hóa
Ngày công nhậnngày 15 tháng 4 năm 2010[1]

Lăng song thân Lê Văn Duyệt (còn gọi lăng mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt) là một quần thể kiến trúc tưởng niệm tại ấp Thạnh Hòa, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cũ (nay thuộc Đồng Tháp), gắn với phần mộ ông Lê Văn Toại và bà Nguyễn Thị Lập, thân sinh của Lê Văn Duyệt.[1][2] Bia mộ còn phần ghi thời điểm lập bia, gồm tháng 5 năm 1814 (mộ bà Nguyễn Thị Lập) và tháng 2 năm 1821 (mộ ông Lê Văn Toại).[2][3] Lăng được tỉnh Tiền Giang xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh trong đợt công bố di tích đầu năm 2010 và tổ chức trao bằng công nhận vào tháng 4 năm 2010.[4][1]

Vị trí và quy mô

Quần thể nằm trong không gian vườn cây và mặt nước nội khu. Tuyến đường địa phương dẫn vào di tích thường gọi là "Đường Lăng".[3] Diện tích khuôn viên khoảng 8.500 m2, gồm cổng, khu đền thờ, hồ nước và khu mộ song thân trong tổng thể không gian thờ tự.[5][1][3]

Trong khuôn viên có các mộ phụ của thân quyến.[2][3][1]

Lịch sử hình thành

Niên đại lập bia trên hai mộ chính gắn với đầu thế kỷ 19. Bia mộ bà Nguyễn Thị Lập ghi thời điểm lập bia tương ứng tháng 5 năm 1814; bia mộ ông Lê Văn Toại ghi thời điểm lập bia tương ứng tháng 2 năm 1821.[2][3] Nội dung bia phục dựng đề danh người lập bia là Lê Văn Duyệt, kèm chức tước gắn với thời điểm lập bia tại Gia Định thành.[3][2]

Dấu vết đục xóa trên bia mộ tập trung ở phần tước vị và mỹ tự. Nội dung này gắn với vụ án sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, trong giai đoạn triều đình nhà Nguyễn xử án liên quan đến Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi.[2][6][3]

Kiến trúc và bố cục

Quần thể có bình đồ tổng thể dạng chữ nhật, tổ chức theo trục từ cổng qua khu thờ tự đến hai khu mộ chính; hồ nước và mảng cây xanh là các yếu tố cảnh quan trong bố cục nội khu.[5][3] Trục nhìn của quần thể hướng Nam và lệch Đông khoảng 20 độ.[5][3]

Khu đền thờ nằm phía trước khu mộ, đi kèm sân và hồ nước. Tuyến tiếp cận đi từ cổng vào qua không gian thờ tự rồi mới đến khu mộ phía sau.[5][1] Trong khuôn viên còn có các mộ phụ của thân quyến và một "mộ vọng" tưởng niệm Lê Văn Duyệt.[6][2]

Hai mộ chính có bố cục tương đồng: mỗi khu mộ gồm bình phong, bia mộ, nấm mộ (nhà mồ) và tường bao. Vật liệu chính gồm đá, vôi và ô dước, với kết cấu quách và hệ quynh thành bao quanh nấm mộ theo hai lớp.[2][5][7] Nấm mộ tạo hình theo dạng "nhà trở đòn dông dọc", cao trên 2 m.[2][5]

Khu mộ ông Lê Văn Toại có bình đồ chữ nhật khoảng 24,6 m x 25,5 m. Hệ bao quanh tổ chức thành hai vòng tường, với vật liệu hợp chất, gạch và đá ong.[5] Vòng thành ngoài khoảng 17,75 m x 21,12 m; vòng thành trong khoảng 10,9 m x 14,43 m.[5] Theo trục vào mộ lần lượt có cổng lăng, sân tế, cửa mộ, bình phong tiền, bia mộ, nấm mộ, bình phong hậu và các lớp tường thành. Nấm mộ có kích thước khoảng ngang 2,75 m, dài 3,6 m, cao 2,1 m.[5]

Khu mộ bà Nguyễn Thị Lập nằm song song với khu mộ ông Lê Văn Toại, cách nhau khoảng 25 m; mộ bà nằm lùi phía sau khoảng 6 m và có quy mô nhỏ hơn.[3][5] Kích thước khu mộ bà khoảng rộng 13,3 m và sâu 22,3 m. Bố cục cơ bản gồm bình phong, bia mộ, nấm mộ và hệ tường bao theo cùng hệ thức kiến trúc của quần thể.[5]

Bia mộ, văn tự và niên đại

Bia mộ bằng đá xanh khắc chữ Hán theo lối văn khắc truyền thống; bề mặt bia còn dấu vết nhiều hàng chữ bị đục xóa.[2][7][3] Phần ghi ngày tháng lập bia còn bảo tồn, giúp xác định mộ bà Nguyễn Thị Lập lập vào tháng 5 năm 1814 và mộ ông Lê Văn Toại lập vào tháng 2 năm 1821.[2][3]

Năm 2006, hai bia đá mới được dựng cạnh các mộ chính để phục dựng nội dung văn khắc dựa trên phần chữ còn lại và bản đọc bia. Bia mới khắc chữ mạ vàng, đặt song song với bia gốc để đối chiếu nội dung.[2][7]

Bảo tồn, tu bổ và sinh hoạt thờ tự

Một số hạng mục trong quần thể bị phá hủy hoặc biến dạng vào năm 1835.[3] Hiện trạng còn lại nổi bật gồm nhà mồ/nấm mộ và bình phong hậu, kèm một số trụ biểu ở các điểm góc và đoạn tường thành phía trong.[3] Di tích trải qua nhiều đợt tu bổ; trong đó có can thiệp vào năm 2005 với việc bổ sung và gia cố một số hạng mục như bình phong tiền và các đoạn tường bao bằng vật liệu xây dựng đương thời.[5][3]

Hệ quynh thành có dấu hiệu lún sát mặt đất ở vòng ngoài và lún sụt ở vòng trong; bề mặt cấu kiện xuất hiện rêu phong.[2][7] Việc dựng bia đá mới năm 2006 gắn với bảo tồn hệ thống văn tự: phần chữ trên bia gốc vẫn giữ để đối chiếu, còn bia mới cung cấp bản phục dựng đặt ngay tại chỗ.[2][7]

Sinh hoạt thờ tự diễn ra tại khu đền thờ trong khuôn viên. Lễ giỗ song thân tổ chức vào ngày 9 tháng 3 âm lịch, thường gọi là "giỗ Ông cố, Bà cố".[1] Sau khi được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh, việc quản lý và chăm sóc di tích gắn với hệ thống quyết định xếp hạng và lễ trao bằng công nhận vào tháng 4 năm 2010.[4][1]

Xếp hạng và quản lý

Di tích thuộc nhóm tám di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh được Tiền Giang cũ công bố xếp hạng đầu năm 2010.[4] Lễ trao bằng công nhận cho khu mộ song thân tại xã Long Hưng diễn ra vào tháng 4 năm 2010.[1]

Xem thêm

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 V.TR. (ngày 16 tháng 4 năm 2010). "Lăng mộ thân sinh tả quân Lê Văn Duyệt được công nhận di tích". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Ngọc Phan; Hoàng Phương (ngày 14 tháng 9 năm 2012). "Theo dấu người xưa - Kỳ 7: Nghi vấn quanh khu mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Lương Chánh Tòng (ngày 16 tháng 1 năm 2016). "Kỳ bí lăng mộ cổ: Lăng song thân Tả quân Lê Văn Duyệt". Thanh Niên. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  4. 1 2 3 "Tiền Giang xếp hạng tám di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh". Nhân Dân điện tử. ngày 3 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Ngô Thị Bảo Thiên (ngày 20 tháng 12 năm 2023). "Kiến trúc khu lăng mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa". Lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  6. 1 2 Diệp Hồng Phương (ngày 22 tháng 8 năm 2011). "Những ngôi mộ cổ dòng họ Lê Văn Duyệt - Kỳ 3: Thăng trầm mộ song thân Đức Tả quân". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.
  7. 1 2 3 4 5 Ngọc Phan; Hoàng Phương (ngày 12 tháng 8 năm 2012). "Theo dấu người xưa - Kỳ 7: Nghi vấn quanh khu mộ song thân Tả quân Lê Văn Duyệt". Thanh Niên. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2026.