Kinh tế đồn điền


Kinh tế đồn điền (Plantation economy) là một mô hình kinh tế dựa trên hình thức sản xuất hàng loạt trong nông nghiệp, thường tập trung vào một vài loại cây trồng hàng hóa nhất định. Những loại cây này được canh tác trên các diện tích đất đai rộng lớn (gọi là các đồn điền) với lực lượng lao động chủ yếu là công nhân làm thuê (mộ phu) hoặc nô lệ. Về bản chất, nền kinh tế đồn điền dựa dẫm hoàn toàn vào việc xuất khẩu các loại cây công nghiệp như một nguồn thu nhập chính cho quốc gia hoặc thế lực cai trị, thực dân. Các loại cây trồng tiêu biểu trong hệ thống này bao gồm bông, cao su, mía, thuốc lá, vả, lúa, gòn, sisal, đàn hương đỏ (Pterocarpus santalinus), và các loài thuộc chi Indigofera dùng để sản xuất thuốc nhuộm chàm. Hiệu quả của các đồn điền tỷ lệ thuận với độ dài của chu kỳ thu hoạch, chu kỳ càng dài, việc quản lý đồn điền càng trở nên tối ưu. Tính kinh tế nhờ quy mô (Economies of scale) cũng đạt được mức lợi ích cao nhất khi khoảng cách vận chuyển đến thị trường tiêu thụ xa, đòi hỏi sự tập trung hóa trong khâu hậu cần (logistics). Các loại cây trồng đồn điền thường yêu cầu phải được sơ chế ngay sau khi thu hoạch. Trong số đó, mía, trà, cây thun và dầu cọ được coi là phù hợp nhất với mô hình đồn điền; trong khi dừa, cao su và bông có mức độ phù hợp thấp hơn một chút.[1]
Hình thành Kinh tế đồn điền
Nền kinh tế đồn điền mang các đặc điểm của một nhà máy công nghiệp được áp dụng vào nông nghiệp mà ngày nay gọi là công nghiệp hóa nông nghiệp, với tính công nghiệp hóa cao và quyền lực tập trung, thường thuộc sở hữu của các tập đoàn lớn hoặc các chủ sở hữu giàu có. Trong điều kiện thông thường, kinh tế đồn điền không đạt được hiệu suất cao bằng các nông hộ nhỏ lẻ, do những khó khăn cực lớn trong việc giám sát lao động trên một diện tích đất đai quá rộng lớn. Tuy nhiên, khi tồn tại khoảng cách địa lý xa xôi giữa nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ, việc chế biến tại chỗ giúp giảm đáng kể khối lượng nông sản và hạ thấp chi phí vận chuyển. Các đồn điền quy mô lớn, khi sản xuất một lượng hàng hóa khổng lồ, có khả năng tận dụng tính kinh tế nhờ quy mô để đầu tư vào các hệ thống máy móc chế biến đắt tiền, từ đó làm giảm chi phí sơ chế trên mỗi đơn vị sản phẩm. Lợi thế này được phát huy tối đa đối với các loại cây trồng nhiệt đới vốn được thu hoạch liên tục quanh năm, giúp máy móc vận hành hết công suất. Điển hình cho các loại cây trồng cần chế biến ngay tại đồn điền là cây mía đường, cây thun, dầu cọ và trà.[2]
Khi kinh tế đồn điền mở rộng, việc buôn bán nô lệ cũng gia tăng để đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng tăng.[3] Nô lệ đồn điền là một trang trại nông nghiệp sử dụng người bị nô dịch để làm lao động. Hệ thống đồn điền đạt đỉnh điểm vào nửa đầu thế kỷ XVIII, nhưng sau đó, vào giữa thế kỷ XIX, nhu cầu về bông từ các nước châu Âu tăng đáng kể, dẫn đến sự mở rộng của hệ thống đồn điền ở các vùng miền Nam Hoa Kỳ. Điều này đã khiến hệ thống đồn điền lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, cho đến khi nó chuyển đổi từ việc phụ thuộc vào lao động nô lệ cưỡng bức sang sử dụng chủ yếu lao động làm thuê lương thấp với một tỷ lệ nhỏ lao động cưỡng bức. Vào cuối thế kỷ XIX, các tập đoàn độc quyền đã đảm bảo lợi nhuận cao từ việc bán các sản phẩm đồn điền bằng cách bóc lột những người lao động giá rẻ, tuyển dụng cưỡng bức, chế độ gán nợ và nô lệ vì nợ ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.[4] Trong suốt cuộc Cách mạng Công nghiệp, các Nhà máy đã áp dụng một số phương pháp quản trị của các đồn điền nô lệ nhằm tổ chức và kiểm soát lực lượng lao động đang gia tăng.[5]

Người châu Phi da đen bị nô dịch được các thương nhân nô lệ châu Âu đưa từ châu Phi sang châu Mỹ. Họ được vận chuyển từ các Cảng ở Tây Phi đến các thuộc địa của châu Âu ở châu Mỹ. Theo một số ước tính, có khoảng 10 triệu người Phi đã được đưa đến châu Mỹ. Chỉ khoảng 6% cập bến các thuộc địa Bắc Mỹ, trong khi đa số được đưa đến các thuộc địa vùng Caribe và Nam Mỹ. Một lý do khiến nhiều người không thể đến được các thuộc địa là do dịch bệnh và đau ốm. Dưới boong tàu nô lệ, người da đen bị nhốt trong tình trạng chèn ép, không cựa quậy được. Do chất thải và nước tiểu lan khắp khoang tàu khiến những người bị giam giữ ngã bệnh và chết vì những căn bệnh nan y vô phương cứu chữa.[6]
Việc canh tác đường một loại cây trồng đồn điền cần tuân theo một hệ thống khoa học chính xác để thu lợi nhuận từ sản xuất. Các đồn điền đường ở khắp mọi nơi đều tiêu thụ lượng lao động không cân xứng, thường là người bị nô dịch, do tỷ lệ tử vong cao của những người lao động đồn điền. Những nô lệ làm việc trong đồn điền đường bị cuốn vào một nhịp độ lao động vất vả không ngừng nghỉ từ năm này sang năm khác. Mía được thu hoạch khoảng 18 tháng sau khi trồng và các đồn điền thường chia đất để đạt hiệu quả cao. Một lô đất được để Bỏ hoang, một lô đất đang trồng mía và lô cuối cùng đang được thu hoạch. Trong suốt mùa mưa từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm, nô lệ trồng cây, bón phân bằng phân động vật và làm cỏ. Từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm, họ thu hoạch mía bằng cách chặt cây sát mặt đất, róc lá và sau đó cắt thành các đoạn ngắn hơn để bó lại gửi đến nhà máy mía đường. Tại nhà máy, mía được ép bằng máy ép ba trục. Nước mía sau đó được nấu sôi hoặc làm sạch cho đến khi nó kết tinh thành đường. Một số đồn điền còn chưng cất mật rỉ, loại chất lỏng còn lại sau khi đường được nấu sôi hoặc làm sạch, để làm rượu rum. Sản phẩm đường sau đó được vận chuyển ngược trở lại châu Âu. Đối với người lao động nô lệ, quy trình này lại bắt đầu lại từ đầu.
Trên thế giới Kinh tế đồn điền
Tại Hoa Kỳ
Trong bối cảnh Mười ba thuộc địa, các đồn điền tập trung chủ yếu ở miền Nam, bao gồm các bang Maryland, Virginia, Bắc Carolina, Nam Carolina và Georgia. Khu vực này sở hữu nguồn đất đai màu mỡ phì nhiêu và mùa sinh trưởng kéo dài, là điều kiện lý tưởng cho các loại cây trồng như lúa và thuốc lá. Sự hiện diện của mạng lưới đường thủy dày đặc giúp việc vận chuyển nông sản trở nên dễ dàng hơn. Mỗi thuộc địa thường chuyên canh một hoặc hai loại cây trồng nhất định, trong đó Virginia nổi lên như một trung tâm sản xuất thuốc lá hàng đầu thế giới.[7] Các chủ đồn điền đã chuyển sang sử dụng nô lệ một cách ồ ạt do chi phí dành cho lao động giao kèo ngày càng tăng cao, bên cạnh đó, nhiều người lao động giao kèo đã rời bỏ đồn điền để tự lập trang trại riêng khi quỹ đất còn dồi dào. Ban đầu, thực dân Anh cưỡng bức người da đỏ bản địa làm lực lượng lao động, nhưng họ dễ bị nhiễm bệnh mầm bệnh từ châu Âu và đã chết hàng loạt với số lượng lớn.
Trước tình hình đó, các chủ đồn điền da trắng đã chuyển sang khai thác sức lao động của người châu Phi bị nô dịch (nô lệ da đen). Vào năm 1665, chỉ có chưa đầy 500 người gốc Phi ở Virginia, nhưng đến năm 1750, có tới 85% trong số 235.000 nô lệ sống tại các thuộc địa miền Nam, bao gồm cả Virginia. Người gốc Phi chiếm tới 40% tổng dân số vùng miền Nam lúc bấy giờ.[7] Theo Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 1840, cứ bốn gia đình ở Virginia thì có một gia đình sở hữu nô lệ. Có hơn 100 chủ đồn điền sở hữu trên 100 nô lệ mỗi người.[8] Tổng số nô lệ tại 15 bang miền Nam vào thời điểm đó lên tới gần 4 triệu người trong tổng dân số 12,4 triệu, chiếm tỷ lệ 32%. Vào thời điểm cực thịnh của chế độ nô lệ trước cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, chưa đầy một phần ba các gia đình miền Nam sở hữu nô lệ. Tuy nhiên, tại các bang như Mississippi và Nam Carolina, con số này tiếp cận mức một nửa dân số. Tổng số chủ nô là 385.000 người (bao gồm cả một số người Mỹ gốc Phi tự do tại Louisiana), chiếm khoảng 3,8% dân số các bang miền Nam và biên giới.
Ở châu Âu
Tây Âu là điểm đến cuối cùng của các sản phẩm đồn điền. Trong giai đoạn này, châu Âu bắt đầu tiến trình công nghiệp hóa mạnh mẽ và cần một lượng lớn nguyên liệu thô để sản xuất hàng hóa. Với vị thế là trung tâm quyền lực thế giới, các cường quốc châu Âu đã bóc lột Tân Thế giới và châu Phi để phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hóa. Châu Phi trở thành nguồn cung cấp nô lệ cho các đồn điền, Tân Thế giới sản xuất nguyên liệu thô cho các ngành công nghiệp tại châu Âu. Những hàng hóa thành phẩm có giá trị cao hơn sau đó lại được bán ngược lại cho cả châu Phi và Tân Thế giới. Hệ thống này phần lớn được vận hành và kiểm soát bởi các thương nhân châu Âu.[9]
Đông Nam Á
Tại Đông Nam Á, các thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan đã thiết lập hệ thống đồn điền quy mô lớn để sản xuất các mặt hàng nông sản hàng hóa bao gồm trà, tiêu, các loại gia vị khác, dầu cọ, cà phê và cao su. Hình thức sản xuất nông nghiệp quy mô lớn này vẫn tiếp tục duy trì và phát triển tại nhiều khu vực cho đến ngày nay.[10] Hệ thống này thường gắn liền với chủ nghĩa thực dân và chế độ cưỡng bức lao động để tối ưu hóa lợi nhuận từ cây công nghiệp. Ở Việt Nam, tiến trình hình thành và phát triển của nền kinh tế đồn điền tại Việt Nam gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, lịch sử ra đời của mô hình này vào thời Toàn quyền Paul Doumer bắt đầu triển khai các chính sách tô nhượng đất đai quy mô lớn nhằm phục vụ mục đích khai thác thuộc địa, dù các thử nghiệm trồng cà phê đã xuất hiện tại Quảng Trị hay Bắc Kỳ từ khoảng năm 1888, nhưng chính sách năm 1897 của Paul Doumer mở đầu cho thời kỳ đồn điền cao su làm trọng điểm kinh tế đồn điền Việt Nam thời thuộc địa của Pháp. Hệ thống này tạo ra một tầng lớp lao động "mộ phu" (dân đi phu), những người Việt nô lệ phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt tại các đồn điền cao su, cà phê và chè (có câu "cao su đi dễ khó về/khi đi trai tráng, khi về bủng beo"), hình thành nên bối cảnh xã hội Việt Nam thuộc địa bị bóc lột tàn tệ, "phu phen tạp dịch" trong suốt nửa đầu thế kỷ XX.
Trong văn hóa Kinh tế đồn điền

Hình ảnh kinh tế đồn điền dưới lăng kính văn hóa và điện ảnh thể hiện qua dòng phim truyền hình dài tập (Telenovela) Nam Mỹ đã phục dựng lịch sử đồn điền, đặc tả cảnh Casa-Grande (Dinh thự/Nhà lớn) là nơi ở của chủ đồn điền nắm quyền sinh sát, vận hành một thái ấp lãnh chúa chuyên chế. Khu Senzala (Khu lán trại nô lệ) là nơi ở của hàng trăm nô lệ với sự bóc lột cùng cực, những nô lệ da đen như công cụ biết nói, làm việc cật lực được cho ăn bã mía. Sự đối lập giữa vẻ xa hoa của Casa-Grande và sự tàn tệ của Senzala chính là chất liệu của các tác phẩm. Các bộ phim có thể kể đến như bộ phim Cô chủ nhỏ (Sinhá Moça) lấy bối cảnh các đồn điền Brasil. Cô chủ Sinhá Moça có tư tưởng bãi nô, xung đột với cha mình, trong phim có những cảnh đối xử tàn tệ với nô lệ, bị cho ăn bã mía, và tay Feitor Bruno đối xử tàn ác với nô lệ. Bộ phim Nô tỳ Isaura (phiên bản năm 1976 và được làm lại năm 2004 có tựa đề A Escrava Isaura) chuyển thể từ tiểu thuyết Nô tì Isaura, kể về Isaura (phiên bản 1976 do nữ diễn viên Lucélia Santos thủ vai[11]), một nữ nô lệ da trắng (con lai) trớ trêu khi có ngoại hình giống giới chủ nhưng vẫn phải chịu số phận của vật sở hữu. Phim tả cảnh đồn điền mía đường, nơi mà lòng tham của giới chủ ở việc tận thu hoa lợi, lợi tức rồi còn là sự chiếm hữu thân xác nữ nô lệ da trắng. Bộ phim Chuyện tình người nô lệ (tựa gốc Pobre negro/Người da đen khốn cùng) của Venezuela, công chiếu năm 1989, phát sóng tại Việt Nam năm 1999–2000 lấy bối cảnh đồn điền có sự tiếp xúc gần gũi giữa chủ và tớ, giữa các dòng máu da trắng, da đen dẫn đến một cuộc tình ngang trái giữa chàng trai nô lệ da đen và cô chủ da trắng.
Chú thích Kinh tế đồn điền
- ↑ Paige, Jeffery M. (1975). Agrarian Revolution.
- ↑ Paige, Jeffery M. (1978). Agrarian Revolution. Simon and Schuster. tr. 14–15. ISBN 978-0-02-923550-8.
- ↑ "How Slavery Helped Build a World Economy". National Geographic News. ngày 3 tháng 1 năm 2003.
- ↑ T. K. Pazhitnova: "Plantation System". The Great Soviet Encyclopedia, 3rd Edition (1970-1979).
- ↑ Karsten, Luchien (2013). Globalization and Time. Routledge. ISBN 9781136300349.
Hệ thống nhà máy hiện đại: Theo truyền thống, các phương pháp quản lý đầu tiên của Hoa Kỳ có nguồn gốc từ các đồn điền bông, nơi các giám sát nô lệ và quản nô đã trở thành 'nhóm quản lý lớn đầu tiên trong các doanh nghiệp tư nhân Hoa Kỳ'.
- ↑ Stephen Behrendt (1999). "Transatlantic Slave Trade". Africana: The Encyclopedia of the African and African American Experience
- 1 2 "The Southern Colonies: Plantations and Slavery". Creating America: A History of the United States (PDF) (Textbook). McDougal Littell. tr. 119–123.
- ↑ "The Slaves' Story". Frontline. PBS. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2006.
- ↑ "The Arrival of European Traders". The Abolition Project. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2013.
- ↑ Bosma, Ulbe (ngày 30 tháng 7 năm 2019). The Making of a Periphery: How Island Southeast Asia Became a Mass Exporter of Labor. Columbia University Press. ISBN 978-0-231-54790-1.
- ↑ Nữ chính 'Nô tì Isaura': Sự nghiệp thăng hoa, tình duyên lận đận
- Kinh tế nông nghiệp
- Lịch sử Virginia
- Chế độ nô lệ tại Bắc Mỹ
- Đồn điền