Bước tới nội dung

Kinh nghiệm Đào Viên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kinh nghiệm Đào Viên
Tóm tắtVương Quang Mỹ[1]
Mục đíchthực hiện Phong trào Tứ thanh
Kinh nghiệm Đào Viên
Phồn thể
Giản thể

Kinh nghiệm Đào Viên[2][3] (tiếng Trung: 桃园经验) là bản tổng kết về Phong trào Tứ thanh do Vương Quang Mỹ lãnh đạo từ tháng 11 năm 1963 đến tháng 4 năm 1964 tại Đội sản xuất Đào Viên, công xã Lư Vương Trang, huyện Phủ Ninh, tỉnh Hà Bắc.[4] Mô hình "Kinh nghiệm" này từng được Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc[5] công nhận và phổ biến rộng rãi trên toàn quốc.[6] Tuy nhiên, trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, kinh nghiệm này từng bị chỉ trích gay gắt như một ví dụ điển hình của "tả khuynh".[7]

Tác phẩm đại diện cho Kinh nghiệm Đào Viên là bản báo cáo của Vương Quang Mỹ có tiêu đề Tổng kết chung về kinh nghiệm của một đội sản xuất trong Phong trào Giáo dục Xã hội chủ nghĩa.[8]

Nội dung

Nội dung chính của kinh nghiệm này là sau khi các đội công tác giáo dục xã hội chủ nghĩa tiến vào nông thôn,[9] trước tiên, họ cần thực hiện việc "cắm rễ xâu chuỗi" (thăm hỏi người nghèo, kết nối các gia đình bần nông) và dần dần tổ chức hàng ngũ giai cấp từ quy mô nhỏ đến lớn. Tiếp theo là tiến hành đấu tranh tố khổ giấu mặt và phong trào "Tứ thanh"; sau đó tập trung giáo dục giai cấp một cách hệ thống và thực hiện đấu tranh chống lại kẻ thù; và cuối cùng là tiến hành xây dựng tổ chức.[10]

Đánh giá

Có ý kiến cho rằng Kinh nghiệm Đào Viên là một hình thức "tập dượt" cho Cách mạng Văn hóa, và nó đã cung cấp những kinh nghiệm nhất định cho cuộc cách mạng này, ít nhất là về mặt phương pháp, hình thức và hệ tư tưởng.[11]

Tham khảo

  1. "Wang Guangmei on "Taoyuan Experience"". Duowei News. ngày 11 tháng 8 năm 2016.
  2. Huang Shu-min; Shu-Min Huang (ngày 10 tháng 9 năm 2019). The Spiral Road: Change In A Chinese Village Through The Eyes Of A Communist Party Leader. Routledge. tr. 74–. ISBN 978-1-00-030599-9.
  3. Ying Ruocheng; Claire Conceison (ngày 17 tháng 10 năm 2008). Voices Carry: Behind Bars and Backstage during China's Revolution and Reform. Rowman & Littlefield. tr. 223–. ISBN 978-0-7425-5746-8.
  4. Letian Zhang; Fuqun Xi; Yunxiang Yan (ngày 17 tháng 4 năm 2018). Work Journals of Zhou Shengkang, 1961-1982 (2 vols.). Brill Publishers. tr. 336–. ISBN 978-90-04-35942-0.
  5. Yang Tianshi; Zhu Di (2005). Eyewitness Memory, Volume 1. Shanghai Lexicographical Publishing House. tr. 271–. ISBN 978-7-5326-1943-6.
  6. Lily Xiao Hong Lee; A. D. Stefanowska; Sue Wiles (1998). Biographical Dictionary of Chinese Women. M.E. Sharpe. tr. 530–. ISBN 978-0-7656-0798-0.
  7. Schoenhals, Michael (1996). China's Cultural Revolution, 1966-1969: Not a Dinner Party. M.E. Sharpe. tr. 114–. ISBN 978-1-56324-736-1.
  8. Timothy Cheek; Klaus Mühlhahn; Hans van de Ven (ngày 6 tháng 5 năm 2021). The Chinese Communist Party: A Century in Ten Lives. Cambridge University Press. tr. 99–. ISBN 978-1-108-84277-8.
  9. Bo Dingguo (2006). Historical Essays on Contemporary Chinese Literary Thought, 1956-1976. China Social Sciences Press. ISBN 978-7-5004-5414-4.
  10. Liu Ji; Zhang Yun; Zhu Jinyuan (1991). 中国共产党七十年, 1921-1991 [Seventy Years of the Chinese Communist Party, 1921-1991] (bằng tiếng Trung). Shanghai People's Press. ISBN 978-7-208-01097-0.
  11. Lu Xiaobing (ngày 4 tháng 11 năm 2016). 中國歷史是非 [The Rights and Wrongs of Chinese History] (bằng tiếng Trung). Haye Publishing House. tr. 19–. ISBN 978-1-68182-081-1.