Kinh Triệu Vi thị
Bài này không có nguồn tham khảo nào. (tháng 02 năm 2026) |
Kinh Triệu Vi thị (chữ Hán: 京兆韋氏) là một danh môn thế tộc trong lịch sử Trung Quốc mang họ Vi thuộc quận Kinh Triệu[1]. Dòng họ này phát triển mạnh từ thời nhà Hán, đến thời Tùy và Đường cực kỳ hưng thịnh, sinh sản ra hơn mười bảy vị Tể tướng quan trọng cho triều đình lúc bấy giờ.
Tiểu sử
Thủy tổ của gia tộc này là Vi Mạnh (韋孟), vào những năm đầu Tây Hán được bổ nhiệm làm Thái phó cho Sở Nguyên vương Lưu Giao. Đến thời hậu duệ của Lưu Giao là Lưu Mộng tính cách kiêu ngạo chuyên quyền, Vi Mạnh từng nhiều lần can gián nhưng bất thành nên đã đưa gia quyến đến vùng Trâu Lỗ[2]. Đến đời thứ 5 của Vi Mạnh là Vi Hiền (韦贤) nổi danh thông thạo thi thư, được triệu làm Bác sĩ, Cấp sự trung, thăng đến Quang lộc đại phu, Chiêm sự rồi Đại hồng lư, là thầy dạy của Hán Chiêu Đế, về sau lại cùng Hoắc Quang có công đưa Hán Tuyên Đế kế vị nên được ban chức Quan nội hầu, sau lại thăng Thừa tướng, tước Phù Dương hầu (扶陽侯), một đời minh bạch vinh quang nên được Tuyên Đế cực kỳ coi trọng.
Vi Hiền có bốn người con trai đều do chính thất sinh ra, ngoại trừ tam tử Vi Thuấn (韋舜) ở lại quê nhà trông coi thờ miếu tổ tiên, ba người còn lại đều dời đến Trường An làm quan, nổi trội nhất là tứ tử Vi Huyền Thành (韦玄成) được phép kế thừa tước Phù Dương hầu, lần lượt nhậm Thái thường, Thiếu phủ, Thái tử Thái phó, Ngự sử đại phu rồi Thừa tướng, đưa gia quyến chuyển đến Đỗ Lăng. Trong suốt thời nhà Hán, Vi thị là một trong hai gia đình duy nhất có cha con đều được bái làm Thừa tướng, vinh hiển vô cùng. Cháu gọi bằng chú của Vi Huyền Thành là Vi Thường (韦赏) làm Thái phó dưới thời Hán Ai Đế, sau cũng được ban chức Quan nội hầu, giúp Kinh Triệu Vi thị trở thành một sĩ tộc có tiếng tăm tại Quan Nội.
Nhánh tộc
Từ thời Tây Hán, gia tộc bắt đầu có sự phân nhánh một cách rõ ràng. Cụ thể bao gồm:
- Tây Phụ đạo (西府道):
- Quyến công phòng (眷公房): thủy tổ Vi Quyến (韋眷), thời Đường sản sinh hai vị Tể tướng.
- Tề công phòng (齊公房): thủy tổ Vi Phòng (韋任) thời Bắc Ngụy, thời Đường sản sinh hai vị Tể tướng.
- Định công phòng (定公房): thủy tổ Vi Tổng (韋總) thời Tùy, là nhánh có công trạng lừng lẫy nhất với sáu vị Tể tướng thời nhà Đường.
- Cửu Nhị công phòng (九二公房)
- Đông Phụ đạo (東府道): sản sinh một vị Tể tướng thời Đường.
- Nam Sơn đạo (南山道): sinh sống tại vùng núi phía Nam của Trường An, sản sinh bốn vị Tể tướng nhà Đường.
- Bắc Sơn đạo (北山道): sinh sống tại vùng núi phía Bắc của Trường An, sản sinh một vị Tể tướng nhà Đường.
Ngoài ra còn một số nhánh nhỏ như:
- Tiêu Diêu công phòng (逍遙公房): thủy tổ Vi Quý (韋夐), sản sinh hai vị Tể tướng.
- Lăng công phòng (陵公房): thủy tổ Vi Duy (韋瑱), sản sinh hai vị Tể tướng.
- Lang công phòng (浪公房): thủy tổ Vi Thự (韋曙), sản sinh một vị Tể tướng.
- Đại phu phòng (大夫房)
- Bành Thành Vi thị (彭城韋氏)
- Mạch Thành Vi thị (麥城韋氏)
Nhân vật nổi bật
- Vi Hiếu Khoan, danh tướng thời Bắc Chu.
- Vi Duệ, danh tướng nhà Lương.
- Vi quý phi, phi tần của Đường Thái Tông.
- Vi An Thạch, hai lần trở thành Tể tướng thời Đường.
- Vi hoàng hậu, vợ của Đường Trung Tông.
- Vi Bảo Hành, Tể tướng thời Đường Ý Tông.
Phả hệ
- Vi Trụ (韋冑), thời Tào Ngụy nhận tước An Thành Huyện hầu (安城縣侯).
- Vi Tiềm (韋潛)
- Vi Huệ Độ (韋惠度), nhậm Trung thư thị lang.
- Vi Thiên Hùng (韋千雄), nhậm Lược Dương thái thú.
- Vi Trịnh Tử (韋鄭子), nhậm Đại quận thái thú.
- Vi Thiến (韦瑱, 501 - 560), thời Hậu Tần nhậm Thượng thư lang, sau theo Lưu Nghĩa Chân xuống phương nam, nhậm Thuận Dương thái thú. Cuối cùng quy thuận Bắc Ngụy, nhậm Trung thư thị lang. Vợ là Trung Thành Quận quân Lũng Tây Lý thị (陇西李氏), con gái Nghiễm Châu thứ sử Lý Nghiệp (李业).
- Vi Tuấn (韦峻), thời Bắc Chu nhậm Xa kị Đại tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, tước Bình Tề Huyện công (平齐县公).
- Vi Sư (韦师), nhậm Hà Đông quận thái thú, thời Tùy nhậm Lại bộ Thị lang, tước Tỉnh Bình hầu (井陉侯), sau thăng Binh bộ Thượng thư, là người ngay thẳng liêm khiết. Qua đời tặng Biện châu thứ sử, hiệu Định (定).
- Vi Đức Chinh (韦德政), kế thừa tước vị Tỉnh Bình hầu, nhậm Cấp sự trung.
- Vi Đức Thiện (韦德蒨), nhậm Chính nghị đại phu, thời Đường nhậm Lãng châu thứ sử.
- Hậu duệ đời thứ 5: Vi Nguyên Trung (韋元貞), đỗ tiến sĩ.
- Hậu duệ đời thứ 6: Vi Khác (韋愨), đỗ tiến sĩ, nhậm Vũ Xương tiết độ sứ.
- Hậu duệ đời thứ 7: Vi Bảo Hành, tể tướng thời Đường Ý Tông, lấy sủng nữ của ông là Đồng Xương công chúa.
- Hậu duệ đời thứ 6: Vi Khác (韋愨), đỗ tiến sĩ, nhậm Vũ Xương tiết độ sứ.
- Hậu duệ đời thứ 5: Vi Nguyên Trung (韋元貞), đỗ tiến sĩ.
- Vi thị, Vương phi của Trường Ninh vương Dương Nghiễm (杨俨), trưởng tử của Phế thái tử Dương Dũng.
- Vi Sư (韦师), nhậm Hà Đông quận thái thú, thời Tùy nhậm Lại bộ Thị lang, tước Tỉnh Bình hầu (井陉侯), sau thăng Binh bộ Thượng thư, là người ngay thẳng liêm khiết. Qua đời tặng Biện châu thứ sử, hiệu Định (定).
- Vi Tuấn (韦峻), thời Bắc Chu nhậm Xa kị Đại tướng quân, Khai phủ nghi đồng tam tư, tước Bình Tề Huyện công (平齐县公).
- Vi Thiến (韦瑱, 501 - 560), thời Hậu Tần nhậm Thượng thư lang, sau theo Lưu Nghĩa Chân xuống phương nam, nhậm Thuận Dương thái thú. Cuối cùng quy thuận Bắc Ngụy, nhậm Trung thư thị lang. Vợ là Trung Thành Quận quân Lũng Tây Lý thị (陇西李氏), con gái Nghiễm Châu thứ sử Lý Nghiệp (李业).
- Vi Trịnh Tử (韋鄭子), nhậm Đại quận thái thú.
- Vi Thiên Hùng (韋千雄), nhậm Lược Dương thái thú.
- Vi Huệ Độ (韋惠度), nhậm Trung thư thị lang.
- Vi Âm (韋愔)
- Vi Đạt (韋達)
- Hậu duệ đời thứ 6: Vi Đĩnh Kiệt (韋挺傑), thời Bắc Chu nhậm Phủ quân tướng quân.
- Vi Tuân (韋遵), thời Bắc Chu nhậm Phiếu kị đại tướng quân, tước Long Môn Huyện công (龍門縣公).
- Vi Thông (韋通)
- Hậu duệ đời thứ 4: Vi Hiền (韋賢)
- Vi Hoan (韋歡)
- Vi Cảnh Lược (韦景略, 504 - 586), thời Tây Ngụy nhậm Gián nghị đại phu, Phiêu kị tướng quân, Hữu quang lộc đại phu, thời Bắc Chu nhậm Thanh châu thứ sử. Vợ là Thái Dương Huyện quân An Định Hoàng Phủ thị (安定皇甫氏), con gái Ung châu Đô đốc Hoàng Phủ Ki (皇甫机).
- Vi Toản (韦瓒), thời Tùy nhậm Nghi đồng tam tư, Thượng thư hữu thừa, tước Nam Bì Huyện bá (南皮县伯). Chính thê Vương Trọng Tư (王仲姿), cháu gái Quang lộc khanh Vương Tôn (王琳), con gái Nghĩa Tuy công Vương Thước (王铄); kế thê Dương Bình Quận quân Hà Đông Bùi thị (河东裴氏), con gái Kì Thành quận Thái thú Bùi Trọng Ngọc (裴仲玉).
- Vi Quý Vũ (韦季武)
- Vi Thúc Hải (韦叔谐), nhậm Khố bộ lang.
- Vi Thúc Khiêm (韦叔谦), nhậm Lại bộ khảo công lang.
- Vi Chương (韦璋), thời Tùy nhậm Lộ châu Tán trị.
- Vi Doãn (韦琬), nhậm Kinh Triệu doãn Chủ bộ.
- Vi Toản (韦瓒), thời Tùy nhậm Nghi đồng tam tư, Thượng thư hữu thừa, tước Nam Bì Huyện bá (南皮县伯). Chính thê Vương Trọng Tư (王仲姿), cháu gái Quang lộc khanh Vương Tôn (王琳), con gái Nghĩa Tuy công Vương Thước (王铄); kế thê Dương Bình Quận quân Hà Đông Bùi thị (河东裴氏), con gái Kì Thành quận Thái thú Bùi Trọng Ngọc (裴仲玉).
- Vi Cảnh Lược (韦景略, 504 - 586), thời Tây Ngụy nhậm Gián nghị đại phu, Phiêu kị tướng quân, Hữu quang lộc đại phu, thời Bắc Chu nhậm Thanh châu thứ sử. Vợ là Thái Dương Huyện quân An Định Hoàng Phủ thị (安定皇甫氏), con gái Ung châu Đô đốc Hoàng Phủ Ki (皇甫机).
- Vi Hoan (韋歡)
- Hậu duệ đời thứ 6: Vi Đĩnh Kiệt (韋挺傑), thời Bắc Chu nhậm Phủ quân tướng quân.
- Vi Đạt (韋達)
- Vi Mục (韋穆)
- Hậu duệ đời thứ 3: Vi Giai (韋楷), thời Tây Tấn nhậm Kiến uy tướng quân.
- Vi Quỳ (韋逵), thời Hậu Yên nhậm Đại trường thu khanh.
- Vi Lãng (韦阆), nhậm Hàm Dương quận, Vũ Đô quận thái thú.
- Vi Phạm (韦范), thời Bắc Ngụy ban tước Cao Bình nam (高平男).
- Vi Nghĩa (韋義), đại thần thời Bắc Ngụy và Tây Ngụy, nổi tiếng thanh liêm.
- Vi Nghệ (韋藝), danh tướng nhà Tùy.
- Vi Xu (韋樞), thời Tùy nhậm thứ sử.
- Vi Đãi Giá (韋待價, ? - 689), Tể tướng dưới thời Võ Tắc Thiên. Vợ là Phu nhân Lũng Tây Lý thị (陇西李氏), con gái Giang Hạ vương Lý Đạo Tông (李道宗).
- Vi Xu (韋樞), thời Tùy nhậm thứ sử.
- Vi Nghệ (韋藝), danh tướng nhà Tùy.
- Vi Nghĩa (韋義), đại thần thời Bắc Ngụy và Tây Ngụy, nổi tiếng thanh liêm.
- Vi Đạo Trân (韋道珍), thời Bắc Ngụy nhậm Phù Phong quận, Phùng Dực quận thái thú.
- Vi Ung (韋邕), nhậm Gián nghị đại phu.
- Vi Hồng Trụ (韋鴻胄), thời Bắc Chu nhậm Bản châu Đại đô đốc, tước Tân Phong Chiêu công (新豐昭公).
- Vi Ung (韋邕), nhậm Gián nghị đại phu.
- Vi Phạm (韦范), thời Bắc Ngụy ban tước Cao Bình nam (高平男).
- Vi Chân Gia (韋真嘉), thời Bắc Ngụy nhậm Thị trung.
- Vi Húc (韋旭), nhậm Hữu tướng quân. Qua đời tặng Tư không, Kí châu thứ sử, hiệu Văn Huệ (文惠).
- Vi Hiếu Khoan, danh tướng thời Nam Bắc triều. Có ba người vợ: chính thê Hoằng Nông Dương thị (弘农杨氏), con gái Tế Bắc quận công Dương Khản (杨侃); kế thê Trịnh Bì La (郑毗罗, ? - 553) xuất thân sĩ tộc Huỳnh Dương Trịnh thị (荥阳郑氏), con gái Hiển Thân huyện nam Trịnh Tăng Phúc (郑僧覆); tam kế thê Nguyên Ấu Nga (元幼娥, ? - 610), con gái Thường Sơn vương Nguyên Thục (元淑).
- Vi Na Duy (韦那罹), nhậm Nghi đồng tam tư, tước Trung Bình Huyện công (中平县公).
- Vi Kham (韦谌, 541 - 590), tước Nhị châu thứ sử, tước Nhương Huyện công (禳县公).
- Vi Chi (韦㧾, 549 - 577), nhậm Trụ quốc, Ngũ châu thứ sử, tước Hà Nam Quận công (河南郡公), hiệu Trinh (贞). Vợ là Hà Nam Đạt Hề thị (河南达奚氏, ? - 598), con gái Trịnh Hoàn công Đạt Hề Vũ (达奚武).
- Vi Viên Thành (韦圆成), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, Nghi đồng tam tư, Đại tướng quân, tước Văn Quốc Tĩnh công (郧国静公).
- Vi quý phi, phi tần của Đường Thái Tông.
- Vi Khuông Bá (韦匡伯, 574 - 617), tước Thư Quốc Ý công (舒国懿公).
- Vi Tư Tề (韦思齐), thời Đường nhậm Thượng thư hữu thừa.
- Vi Tư Nhân (韦思仁)
- Vi thị, lấy Vương Huyền Ưng (王玄应), con trai Vương Thế Sung.
- Vi chiêu dung, tên Ni Tử (尼子, 607 - 656), phi tần của Đường Thái Tông.
- Vi Đàn Đặc (韦檀特), lấy Phạm Dương huyện lệnh Dương Chính Bản (杨政本).
- Vi Phương Tựu (韦方就, 572 - 623), tước Hà Nam Quận công (河南郡公). Vợ là Phong Ninh công chúa (丰宁公主), cháu gái Tùy Văn Đế.
- Vi Quan (韦观), đỗ tiến sĩ.
- Vi Tiêm Uyển (韦纤婉, 549 - 577), lấy Phổ An quận Công chúa (普安郡公主), con gái Tân Thái quận công Giải Tư Khôi (解斯恢).
- Vi thị, chính thê của Nguyên Đức Thái tử Dương Chiêu (杨昭), sinh Tùy Dượng Đế.
- Vi Viên Thành (韦圆成), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, Nghi đồng tam tư, Đại tướng quân, tước Văn Quốc Tĩnh công (郧国静公).
- Vi Thọ (韦寿, 552 - 593), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, Đại tướng quân, tước Hoạt quốc công (滑国公). Vợ là Phu nhân Sử Thế Quý (史世贵, ? - 585), con gái An Chính Liệt công Sử Ninh (史宁).
- Vi Bảo Loan (韦宝鸾), kế thừa tước vị Hoạt quốc công.
- Vi Nghĩa Tiết (韦义节), thời Đường nhậm Hình bộ thị lang, tước Tương Thành công (襄城公).
- Vi Minh Hoa (韦茗华), phong Tương Vũ Quận quân (襄武郡君), lấy Đông Dương quận công Đỗ Kính Đồng (杜敬同).
- Vi thị, lấy Thường Sơn huyện công Dương Nhạc (杨岳).
- Vi Tễ (韦霁), nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư, tước An Ấp Huyện bá (安邑县伯). Vợ là Nguyên Ấu Nga (元幼娥), con gái Thường Sơn vương Nguyên Thục (元淑).
- Vi Tân (韦津, 562 - 629), nhậm Nghi đồng đại tướng quân, tước Vũ Dương Quận công (武阳郡公). Vợ là Phu nhân Nguyên Khái Nữ (元咳女, ? - 610), con gái Thuận Dương Lương công Nguyên Hiếu Phương (元孝方).
- Vi Côn (韦琨), tước Vũ Dương Trinh hầu (武阳贞侯).
- Vi thị, lấy Nhiêu An Huyện nam Vương Sư Trung (王师忠).
- Vi Vô Lậu (韦无漏), tước Vĩnh An Huyện hầu (永安县侯).
- Vi Trường Anh (韦长英), lấy Ung châu Đô đốc Hoàng Phủ Đạo (皇甫道).
- Vi Quýnh (韦敻, 502 - 578), được phong chức tại Ung châu nhưng chủ động xin từ chức, được người đương thời gọi Cư sĩ, được Bắc Chu Minh Đế gọi là "Tiêu Diêu công" (逍遥公).
- Vi Thế Khang (韦世康, 531 - 597), tước Hán An Huyện công (漢安縣公), thời Tùy nhậm Lễ bộ, Lại bộ Thượng thư, qua đời tặng Đại tướng quân, hiệu Văn (文). Vợ là Tương Nhạc công chúa (襄乐公主), con gái Tây Ngụy Văn Đế.
- Vi Phúc Tử (韦福子), nhậm Biệt giá.
- Vi Phúc Tự (韦福嗣, ? - 614), thời Tùy nhậm Nội sử Xá nhân, có tài văn chương.
- Vi Tông (韦悰), thời Đường nhậm Tư nông khanh. Vợ là Bùi Trinh (裴贞) xuất thân gia tộc Hà Đông Bùi thị (河东裴氏), cháu gái Bình châu thứ sử Bùi Nột Chi (裴讷之).
- Vi Hoằng Biểu (韋弘表), làm quân sư cho Tào vương Lý Minh.
- Vi Huyền Trinh (韋玄貞), nhậm Phổ Châu Tham quân. Vợ là Bác Lăng Thôi thị (博陵崔氏), con gái Viên ngoại lang Thôi Phượng Cửu (崔凤举).
- Vi hoàng hậu, kế thê của Đường Trung Tông.
- Hậu duệ đời thứ 2: Vi Trạc (韦濯), nhậm Hữu uy vệ tướng quân.
- Vi Hiền phi, phi tần của Đường Đức Tông.
- Hậu duệ đời thứ 2: Vi Chiêu Huấn (韦昭训), nhậm Hữu lang tướng.
- Kế Vương phi của Thọ vương Lý Mạo.
- Vi Huyền Trinh (韋玄貞), nhậm Phổ Châu Tham quân. Vợ là Bác Lăng Thôi thị (博陵崔氏), con gái Viên ngoại lang Thôi Phượng Cửu (崔凤举).
- Vi Hoằng Biểu (韋弘表), làm quân sư cho Tào vương Lý Minh.
- Vi Cảnh (韦憬), thời Đường nhậm Lại bộ Lang trung.
- Vi Tông (韦悰), thời Đường nhậm Tư nông khanh. Vợ là Bùi Trinh (裴贞) xuất thân gia tộc Hà Đông Bùi thị (河东裴氏), cháu gái Bình châu thứ sử Bùi Nột Chi (裴讷之).
- Vi Phúc Tưởng (韦福奖)
- Vi Sĩ Ngạn (韦士彦)
- Vi thị, lấy Thượng Minh Cung công Dương Kỉ (杨纪).
- Dương quý phi, phi tần của Đường Cao Tổ.
- Vi Quang (韦洸, ? - 590), thời Tùy nhậm Trụ quốc, Tổng quản Nghiễm Châu, tước Tương Dương Kính công (襄阳敬公).
- Vi Hiệp (韦协, 564 - 598), thời Tùy nhậm Trụ quốc, tước Tương Dương An công (襄阳安公).
- Vi Uẩn (韦恽), thời Đường nhậm Khai phủ nghi đồng tam tư.
- Vi Quán (韦瓘, 535 - 577), thời Tùy nhậm Nghi đồng tam tư, Tùy châu thứ sử, tước Kiến An Huyện tử (建安县子). Vợ là Vạn Xuân Huyện quân Phạm Dương Lô thị (范阳卢氏), con gái Dung Thành bá Lô Nhu (卢柔).
- Vi Vạn Khoảnh (韦万顷)
- Vi Nguyên Chỉnh (韦元整), nhậm Thái trung đại phu, Nhị châu thứ sử. Vợ là Tấn Nguyên Quận quân Vương Uyển (王婉), cháu gái bên ngoại của Đường Thái Tông Trưởng Tôn Hoàng hậu.
- Hậu duệ: Vi Nguyên Khuê (韋元珪)
- Vi thị, nguyên phối Hoàng thái tử phi của Đường Túc Tông.
- Hậu duệ: Vi Nguyên Khuê (韋元珪)
- Vi Nguyên Chỉnh (韦元整), nhậm Thái trung đại phu, Nhị châu thứ sử. Vợ là Tấn Nguyên Quận quân Vương Uyển (王婉), cháu gái bên ngoại của Đường Thái Tông Trưởng Tôn Hoàng hậu.
- Vi Nhân Cơ (韦仁基), nhậm Tế Bắc quận thừa, Long châu thứ sử.
- Trưởng nữ, lấy Nghi quận hầu Huỳnh Dương Mao thị (荥阳毛氏).
- Nhị nữ, lấy người thuộc An Định Lương thị (安定梁氏).
- Tam nữ, lấy người thuộc Lũng Tây Lý thị (陇西李氏).
- Vi Vạn Khoảnh (韦万顷)
- Vi Nghệ (韦藝, 538 - 595), thời Tùy nhậm Đại tướng quân, Tổng quản Doanh Châu, tước Ngụy Hưng Hoài công (魏兴怀公). Vợ là Phu nhân Phong Bảo Diễm (封宝艳), con gái Trung Tử công Phong Tử Hội (封子绘).
- Vi Vực (韦或), tước An Cát công (安吉公).
- Vi Trùng (韦冲, 540 - 605), thời Tùy nhậm Dân bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phong Huyện hầu (义丰县侯).
- Vi Đĩnh (韋挺, 590 - 647)
- Vi Đãi Giá (韦待价, ? - 689), Tể tướng dưới thời Võ Tắc Thiên, Tổng quản An Tức đạo, tước Phù Dương Quận công (扶陽郡公).
- Vi Vạn Thạch (韦万石), thời Đường nhậm Thái thường thiếu khanh, Lại bộ Lang trung.
- Vi Kỉ Nguyên (韦几原), chết yểu, làm lễ minh hôn với con gái Thái tử Phó xạ Thôi Tư Mặc (崔思默).
- Vi thị, lấy Tề vương Lý Hựu (李祐), con trai Đường Thái Tông.
- Vị thị, vốn lấy tông thất Bắc Ngụy, sau khi chồng qua đời thì tư thông với em rể, con trai Tùy Dạng Đế là Tề vương Dương Giản (杨暕). Sự việc bại lộ, Vi thị bị Dạng Đế hại chết.
- Vi thị, lấy Tề vương Dương Giản (杨暕).
- Vi Đĩnh (韋挺, 590 - 647)
- Vi Ước (韦約), thời Tùy nhậm Thái tử tẩy mã, Nghi đồng tam tư, tước Quan Thành công (观城公).
- Vi Khắc Kỉ (韦克己), nhậm Lũng Châu trường sử.
- Vi Hậu Kỉ (韦后己), nhậm Tán kị thị lang.
- Vi thị, lấy Ngụy quận phủ lang Nguyên Kiền Cái (元虔盖).
- Vi Thế Khang (韦世康, 531 - 597), tước Hán An Huyện công (漢安縣公), thời Tùy nhậm Lễ bộ, Lại bộ Thượng thư, qua đời tặng Đại tướng quân, hiệu Văn (文). Vợ là Tương Nhạc công chúa (襄乐公主), con gái Tây Ngụy Văn Đế.
- Vi Hiếu Cố (韦孝固), thời Bắc Chu nhậm Lại bộ Lang trung, qua đời tặng Ung châu thứ sử, tước An Bình Cung tử (安平恭子).
- Vi Tử Thiên (韦子迁), khi mất tặng Lạc châu thứ sử.
- Vi Thuận (韦顺), nhậm Tần châu thứ sử.
- Vi Hiếu Khoan, danh tướng thời Nam Bắc triều. Có ba người vợ: chính thê Hoằng Nông Dương thị (弘农杨氏), con gái Tế Bắc quận công Dương Khản (杨侃); kế thê Trịnh Bì La (郑毗罗, ? - 553) xuất thân sĩ tộc Huỳnh Dương Trịnh thị (荥阳郑氏), con gái Hiển Thân huyện nam Trịnh Tăng Phúc (郑僧覆); tam kế thê Nguyên Ấu Nga (元幼娥, ? - 610), con gái Thường Sơn vương Nguyên Thục (元淑).
- Vi Húc (韋旭), nhậm Hữu tướng quân. Qua đời tặng Tư không, Kí châu thứ sử, hiệu Văn Huệ (文惠).
- Hậu duệ đời thứ 3: Vi Giai (韋楷), thời Tây Tấn nhậm Kiến uy tướng quân.
- Vi Tiềm (韋潛)
- Không rõ sinh phụ:
- Vương phi của Hàn vương Lý Nguyên Gia (李元嘉), con trai Đường Cao Tổ.
- Vương phi của Bành Tà vương Lý Nguyên Tắc (李元則), con trai Đường Cao Tổ.
- Vi Tư An (韋思安), phò mã của Tấn An công chúa (晉安公主), con gái Đường Thái Tông.
- Vi Tiệp (韦捷), phò mã của Thành An công chúa (成安公主), con gái Đường Trung Tông.
- Vi phi (韋妃), phi tần của Đường Túc Tông.
- Vi Nhượng (韦让), phò mã của Trịnh Quốc Ôn Nghi Công chúa (郑国温仪公主), con gái Đường Thuận Tông.
- Vi Xử Nhân (韦处仁), phò mã của Nghĩa Phong Công chúa (义丰公主), con trai Đường Mục Tông.
Suy tàn
Nhà Đường diệt vong, Chu Ôn tiến hành thảm sát hàng loạt quý tộc thuộc nhiều thế gia khác nhau bao gồm cả Kinh Triệu Vi thị, gọi là sự biến Bạch Mã Dịch. Từ thời Ngũ đại Thập quốc, hậu duệ gia tộc bắt đầu di cư ra khỏi Trường An để đi về nhiều nơi phía nam. Sang đến thời Tống, tuy không còn nằm trong hàng ngũ thế gia nhưng Kinh Triệu Vi thị vẫn có nhiều người đỗ đạt làm quan, ngoài ra có thuyết cho rằng Hiển Nhân Hoàng hậu - sinh mẫu của Tống Cao Tông xuất thân từ gia tộc này.