Bước tới nội dung

Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hỗn hợp cà phê Đông Đức, gồm 51% cà phê, được sản xuất do tình trạng thiếu hụt nguồn cung.

Cuộc khủng hoảng cà phê Đông Đức là tình trạng thiếu cà phê vào cuối những năm 1970 ở Đông Đức do mất mùa và giá cả hàng hóa không ổn định, làm hạn chế nghiêm trọng khả năng mua cà phê trên thị trường thế giới của chính phủ. Hậu quả là, chính phủ Đông Đức đã tăng cường sự can thiệp vào châu Phi và châu Á, xuất khẩu vũ khí và thiết bị cho các quốc gia sản xuất cà phê.[1]

Tình hình Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Năm 1977, Đông Đức gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu trong nước về cà phê, một mặt hàng phải được mua bằng Westgeld [de], tức là các loại tiền tệ phương Tây có thể chuyển đổi tự do đang khan hiếm ở các nước thuộc Khối Đông Âu. Cuộc khủng hoảng cà phê đã gián tiếp dẫn đến những thay đổi trên thị trường cà phê thế giới. Cuộc khủng hoảng cà phê đã dẫn đến việc định hướng lại chính sách đối ngoại của Đông Đức[2] cũng như thắt chặt chi tiêu đáng kể.[3] Đặc biệt, chính phủ Đông Đức đã tham gia trao đổi hàng hóa với các nước thuộc Thế giới thứ ba, xuất khẩu vũ khí và xe tải để đổi lấy cà phê và năng lượng.[4]

Bối cảnh Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Trong khu vực chiếm đóng của Liên Xô, cũng giống như phần còn lại của châu Âu sau Thế chiến II, cà phê là một mặt hàng khan hiếm. Cà phê đầu tiên được nhập khẩu vào Đông Đức đến từ Liên Xô. Khi việc nhập khẩu này dừng lại vào năm 1954, điều này đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng loạt đầu tiên và làm gia tăng nỗ lực kiếm ngoại tệ để mua cà phê. Bắt đầu từ năm 1957, cà phê rang được sản xuất dưới thương hiệu Röstfein [de]. Bắt đầu từ những năm 1960, Đông Đức có thể cung cấp ổn định các nhu yếu phẩm cơ bản, nhưng các sản phẩm xa xỉ và ngoại nhập vẫn khan hiếm.[5] Điều này dẫn đến nhu cầu tăng cao đối với các mặt hàng xa xỉ có sẵn, chẳng hạn như bánh kẹo, thuốc lá, đồ uống có cồn và cà phê (3,6 kg (7,9 lb) mỗi người mỗi năm) vào những năm 1970. Đến những năm 1970, cà phê là một trong những mặt hàng quan trọng nhất trong ngân sách hộ gia đình Đông Đức, mặc dù quà tặng từ bạn bè và người thân ở phương Tây đáp ứng khoảng 20% ​​nhu cầu cà phê của cả nước.[6] Công dân Đông Đức chi trung bình 3,3 tỷ mark Đông Đức cho cà phê mỗi năm, một số tiền tương đương với chi tiêu cho đồ nội thất và gấp đôi số tiền chi cho giày dép.[7]

Khủng hoảng cà phê năm 1977 Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Khủng hoảng cà phê bắt đầu vào năm 1976. Giá cà phê tăng mạnh sau vụ thu hoạch thất bại ở Brazil, buộc chính phủ Đông Đức phải chi khoảng 700 triệu mác Tây Đức cho cà phê (khoảng 300 triệu đô la Mỹ, tương đương 1,59 tỷ đô la Mỹ ngày nay), gần gấp năm lần so với mức dự kiến ​​150 triệu mác mỗi năm.[8] Lãnh đạo Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa (SED) đã hạn chế nhập khẩu thực phẩm và hàng hóa xa xỉ, đồng thời cố gắng tích lũy đủ dự trữ ngoại tệ để nhập khẩu dầu mỏ.[9] Điều này xảy ra trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng những năm 1970, khi ảnh hưởng của cú sốc dầu mỏ năm 1973 chỉ bắt đầu ảnh hưởng đến Đông Đức vào giữa những năm 1970.[10]

Đề xuất ngừng sản xuất cà phê, do Alexander Schalck-Golodkowski đưa ra, đã có thể tránh được sau khi thành viên Bộ Chính trị Werner Lamberz khuyến khích trao đổi hàng hóa và bán vũ khí cho [11] các nước thuộc Thế giới thứ ba, chẳng hạn như EthiopiaMozambique. Loại cà phê rẻ nhất, "Kosta", đã bị ngừng sản xuất và chỉ còn các loại đắt tiền hơn. [12] Các lựa chọn thay thế khác đã được cung cấp, chẳng hạn như "Kaffee-Mix", một hỗn hợp 50% cà phê thật và cà phê giả, và không cần phải phân phối theo định mức. Kaffee-Mix bị gọi một cách miệt thị là "Erichs Krönung", ám chỉ Erich Honecker, lãnh đạo Đông Đức, và thương hiệu cà phê Jacobs Krönung của Tây Đức. Chính phủ Đông Đức cho rằng phần lớn dân số sẽ mua cà phê từ Westpakete do người thân ở Tây Đức gửi. Điều này làm tăng nhu cầu đối với món quà đáp lễ thông thường, bánh Stollen Dresdner, đồng thời gây khó khăn cho nền kinh tế Đông Đức vì nhiều nguyên liệu, chẳng hạn như hạnh nhân, nho khô và succade, cũng chỉ có sẵn dưới dạng hàng nhập khẩu. Đề xuất cấm tặng bánh Stollen của Alexander Schalck-Golodkowski đã không thành công.[13]

Người dân Đông Đức[14] đã phản đối mạnh mẽ Kaffee-Mix và coi tình trạng thiếu cà phê là một cuộc tấn công vào nhu cầu tiêu dùng quan trọng, vốn là một phần lớn của cuộc sống hàng ngày. Hỗn hợp cà phê này cũng làm hỏng một số máy pha cà phê, vì nó chứa các thành phần thay thế như bột đậu Hà Lan, có chứa protein nở ra dưới nhiệt và áp suất, làm tắc nghẽn bộ lọc.[15] Điều này dẫn đến nhiều lời phàn nàn, phản ứng phẫn nộ và các cuộc biểu tình.[16] Mặc dù giá cà phê trên thị trường quốc tế đã giảm và bình thường hóa vào năm 1978,[17] nhưng các vấn đề mà chính phủ Đông Đức phải đối mặt trong việc thu ngoại tệ vẫn tiếp diễn đến những năm 1980, kéo dài tình trạng thiếu hụt và dần dần làm tổn hại hình ảnh của giới lãnh đạo chính trị nước này. Người ta ước tính rằng 20-25% tổng lượng tiêu thụ cà phê của Đông Đức từ năm 1975 đến năm 1977 đến từ phương Tây trong các gói hàng cứu trợ.[13] Cà phê đã đạt được giá trị như một biểu tượng của sự thống nhất nội bộ nước Đức, vượt xa vai trò của nó như một mặt hàng tiêu dùng hay hàng hóa thông thường.[18]

Ảnh hưởng đến Tây Đức Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Tại Tây Đức, việc tăng giá cà phê năm 1977 không dẫn đến tình trạng thiếu hụt, nhưng đã dẫn đến việc áp dụng các loại cà phê rẻ hơn trong phân khúc giá thấp hơn.[13] Các thương hiệu cà phê như Tchibo và sau này là Eduscho bắt đầu thâm nhập vào thị trường bán chéo, bằng cách cung cấp cả cà phê và các mặt hàng phi thực phẩm. Những thay đổi này cũng có thể được quy cho ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng cà phê đối với Tây Đức.[13]

Ảnh hưởng đến sản xuất cà phê tại Việt Nam Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Cây cà phê Robusta đang nở hoa ở Đắk Lắk, Việt Nam

Mối quan hệ giữa Đông Đức và Việt Nam vô cùng thân thiết.[19] Sản xuất cà phê bắt đầu ở Việt Nam vào năm 1926 dưới thời Pháp thuộc.[20] Bắt đầu từ năm 1975, phần lớn song song với cuộc khủng hoảng cà phê ở Đông Đức, việc sản xuất cà phê Robusta bắt đầu ở Việt Nam. Cây Robusta phát triển nhanh hơn, chứa nhiều caffeine hơn, phù hợp với khí hậu của Tây Nguyên Việt Nam và dễ thu hoạch bằng máy móc hơn. Tuy nhiên, cà phê Robusta rẻ hơn và đắng hơn nhiều so với cà phê Arabica tiêu chuẩn.

Vào năm 1980 và 1986, hai hiệp ước đã được ký kết giữa Đông Đức và Việt Nam, theo đó Đông Đức cung cấp thiết bị và máy móc cần thiết cho sản xuất, tăng diện tích trồng cà phê từ 600 lên 8.600 ha (1.500 lên 21.300 mẫu Anh) và đào tạo người dân địa phương về kỹ thuật canh tác.[20] Đặc biệt, Đông Đức đã cung cấp xe tải, máy móc và hệ thống tưới tiêu cho Kombinat Việt-Đức mới thành lập, cũng như chi khoảng 20 triệu đô la cho một nhà máy thủy điện.[20] Đông Đức cũng xây dựng nhà ở, bệnh viện và cửa hàng cho 10.000 người được di dời đến khu vực này để sản xuất cà phê. Đổi lại khoản đầu tư này, Đông Đức dự kiến ​​sẽ nhận được một nửa sản lượng cà phê trong 20 năm tiếp theo.[20] Tuy nhiên, cà phê mất tám năm kể từ khi trồng cho đến vụ thu hoạch đầu tiên có thể sử dụng được, diễn ra vào năm 1990; vào thời điểm đó, nhà nước Đông Đức đã không còn tồn tại.[21]

Mặc dù mất đi khách hàng ban đầu, Việt Nam đã nhanh chóng khẳng định vị thế của mình sau năm 1990 là nhà sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil, đẩy phần lớn sản lượng cà phê truyền thống ở châu Phi ra khỏi thị trường. Sản lượng xuất khẩu đặc biệt được thúc đẩy bởi việc thiết lập lại quan hệ thương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Sản lượng dư thừa này đã dẫn đến sự sụp đổ giá cà phê toàn cầu vào năm 2001. Năm 2016, Đức vẫn là điểm đến xuất khẩu lớn nhất cho cà phê Việt Nam.[22]

Xem thêm Khủng hoảng cà phê Đông Đức

Tham khảo Khủng hoảng cà phê Đông Đức

  1. "Kaffee gegen Waffen: DDR und Äthiopien – eine schwierige Beziehung" [Coffee for Weapons: East Germany and Ethiopia - A Difficult Relationship]. Mitteldeutscher Rundfunk (bằng tiếng Đức). ngày 6 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
  2. Schmidt, Heike; Wirz, Albert (1998). Afrika und das Andere: Alterität und Innovation : Jahrestagung der VAD vom 3.–6.10.1996 in Berlin (Schriften der Vereinigung von Afrikanisten in Deutschland) (bằng tiếng Đức). Berlin-Hamburg-Münster: LIT Verlag. ISBN 3-82583395-X.
  3. Döring, Hans-Joachim (2007). Development policies and solidarity in the GDR, presented using examples of state cooperation with Mozambique and Ethiopia and the development-related education of independent groups. TU Berlin (Luận văn).
  4. Döring, Hans-Joachim (1999). "Es geht um unsere Existenz": Die Politik der DDR gegenüber der Dritten Welt am Beispiel von Mosambik und Äthiopien (bằng tiếng Đức). Ch. Links Verlag. tr. 115. ISBN 3-86153-185-2.
  5. Wünderich, Volker (2003). "Die "Kaffeekrise" von 1977". Historische Anthropologie. 11 (2): 240–262. doi:10.7788/ha.2003.11.2.240. S2CID 177063821.
  6. Wolle, Stefan (1999). Die heile Welt der Diktatur. Munich: Econ & List. tr. 328. ISBN 978-3861535546.
  7. Kaminsky, Annette (1999). Illustrierte Konsumgeschichte der DDR. ISBN 3-931426-31-9.
  8. "DDR: Die Bürger werden aufsässig". Der Spiegel. Số 43/1977. ngày 17 tháng 10 năm 1977. tr. 46, 53. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
  9. Steiner, André (2006). "Bundesrepublik und DDR in der Doppelkrise europäischer Industriegesellschaften Zum sozialökonomischen Wandel in den 1970er Jahren". Zeithistorische Forschungen/Studies in Contemporary History. 3. ISSN 1612-6041. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2019.
  10. Karlsch, Rainer; Stokes, Raymond G. (2003). Faktor Öl: Die Mineralölwirtschaft in Deutschland 1859-1974. ISBN 978-3406502767.
  11. Mohl, Arian (ngày 22 tháng 5 năm 2007). "Blaue gegen braune Bohnen: Die Stadt Luckenwalde will den DDR-Chefideologen Werner Lamberz mit einer Erinnerungsstelle würdigen". Märkische Allgemeine. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  12. Mitteilung des Ministeriums für Handel und Versorgung vom September 1977, Berlin (ADN).
  13. 1 2 3 4 Kaffee in beiden deutschen Nachkriegsstaaten: Konsum, Diskurs, Deutung und Beziehungen. Lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine Dissertation by Monika Sigmund, scientific collaborator since 2003 at the Forschungsstelle für Zeitgeschichte.
  14. Döring, Hans-Joachim (1999). "Es geht um unsere Existenz": Die Politik der DDR gegenüber der Dritten Welt am Beispiel von Mosambik und Äthiopien (bằng tiếng Đức). Ch. Links Verlag. tr. 121. ISBN 3-86153-185-2.
  15. "Kaffee in der DDR". die Kaffeetante. ngày 14 tháng 4 năm 2026. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017.
  16. Mühlberg, Felix (2004). Bürger, Bitten und Behörden. Geschichte der Eingabe in der DDR. Texte 11 der Rosa-Luxemburg-Stiftung. ISBN 3-320-02947-9.
  17. "Kosta, Rondo, Kaffeemix – Honeckers Kaffeekrise". Mitteldeutscher Rundfunk. ngày 16 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2019.
  18. "Kaffeeverband" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. Reader des deutschen Kaffeeverbandes, Stand 2004, retrieved August 2008.
  19. "IHK-Länderschwerpunkt Vietnam". Cologne Chamber of Industry and Commerce. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2004 qua ihk-koeln.de.
  20. 1 2 3 4 Schäfer, Bernd (2015). "Socialist Modernization in Vietnam: The East German Approach, 1976-1989". Trong Slobodian, Quinn (biên tập). Comrades of Color: East Germany in the Cold War World. Berghahn Books. tr. 107–109. ISBN 978-1-78238-705-3.
  21. "Vietnam und die DDR schließen "Kaffeeabkommen"" [Vietnam and East Germany Sign "Coffee Treaty"]. Mitteldeutscher Rundfunk. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016 qua daklakcoffee.de.
  22. Phuong, Ha (ngày 16 tháng 8 năm 2016). "Vietnamese coffee wins Germans' hearts". vnexpress.net. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017.