Bước tới nội dung

Keratinocyte

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ảnh hiển vi của tế bào sừng, tế bào đáy và tế bào sắc tố trong biểu bì.
Tế bào sừng (nhuộm màu xanh lá cây) trên da chuột.

Keratinocyte hay tế bào sừng là loại tế bào chính được tìm thấy trong lớp thượng bì, lớp ngoài cùng của da. Ở người, chúng chiếm 90% tổng số tế bào biểu bì da.[1] Các tế bào đáy ở lớp đáy (stratum basale) của da đôi khi được gọi là tế bào sừng đáy.[2]

Tế bào sừng tạo thành một hàng rào bảo vệ chống lại tác hại từ môi trường bằng nhiệt độ, tia UV, mất nước, vi khuẩn gây bệnh, nấm, ký sinh trùngvirus. Một số yếu tố cấu trúc protein, enzyme, lipid và peptide kháng khuẩn góp phần duy trì chức năng rào chắn quan trọng của da. Các tế bào sừng phân hóa từ các tế bào gốc biểu bì ở phần dưới của biểu bì và di chuyển lên bề mặt, cuối cùng trở thành các tế bào sừng và cuối cùng bị bong ra.[3][4][5][6] Hiện tượng này xảy ra cứ sau 40 đến 56 ngày ở người.[7]

Chức năng

Chức năng chính của tế bào sừng là hoạt động như một hàng rào bảo vệ. Chúng bảo vệ cơ thể khỏi các tác hại từ môi trường như nhiệt độ cao, tia UV, mất nước, vi khuẩn gây bệnh, nấm, ký sinh trùngvirus.

Các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào các lớp trên của biểu bì có thể khiến các tế bào sừng sản sinh ra các chất trung gian gây viêm, đặc biệt là các chemokine như CXCL10 và CCL2 (MCP-1), thu hút các bạch cầu đơn nhân, tế bào sát thủ tự nhiên, tế bào lympho Ttế bào tua đến vị trí xâm nhập của mầm bệnh.[8]

Cấu trúc

Một số protein cấu trúc (ví dụ: filaggrin, keratin), enzyme (ví dụ: protease), lipid và peptide kháng khuẩn (defensin) góp phần duy trì chức năng rào chắn quan trọng của da. Quá trình sừng hóa là một phần của sự hình thành rào chắn vật lý (sự hóa sừng), trong đó các tế bào keratinocyte sản sinh ra ngày càng nhiều keratin và trải qua quá trình biệt hóa cuối cùng. Các tế bào keratinocyte đã hóa sừng hoàn toàn tạo thành lớp ngoài cùng liên tục bị bong ra và được thay thế bởi các tế bào mới.[3]

Tương tác với các tế bào khác

Trong lớp biểu bì, tế bào sừng liên kết với các loại tế bào khác như tế bào hắc tố và tế bào tua. Tế bào sừng tạo thành các mối nối chặt với các dây thần kinh của da và giữ các tế bào Langerhans và tế bào lympho trong lớp biểu bì ở đúng vị trí. Tế bào sừng cũng điều chỉnh hệ thống miễn dịch: ngoài các peptide kháng khuẩn và chemokine đã đề cập ở trên, chúng còn là những chất sản sinh mạnh mẽ các chất trung gian chống viêm như IL-10 và TGF-β. Khi được kích hoạt, chúng có thể kích thích viêm da và kích hoạt tế bào Langerhans thông qua sự tiết TNFα và IL-1β (IL1B).

Tế bào sừng góp phần bảo vệ cơ thể khỏi bức xạ tia cực tím (UVR) bằng cách hấp thụ các thể melanosome, các túi chứa chất bảo vệ quang học nội sinh, từ các tế bào hắc tố biểu bì. Mỗi tế bào hắc tố trong biểu bì có một số nhánh tế bào vươn ra để kết nối nó với nhiều tế bào sừng. Melanin sau đó được lưu trữ bên trong các tế bào sừng và tế bào hắc tố ở vùng quanh nhân dưới dạng "mũ" trên nhân, nơi nó bảo vệ DNA khỏi tác hại của tia UV.[9]

Xem thêm

Tham khảo

  1. McGrath JA; Eady RAJ; Pope FM. (2004). "Anatomy and Organization of Human Skin". Trong Burns T; Breathnach S; Cox N; Griffiths C. (biên tập). Rook's Textbook of Dermatology (ấn bản thứ 7). Blackwell Publishing. tr. 4190. doi:10.1002/9780470750520.ch3. ISBN 978-0-632-06429-8. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
  2. James W, Berger T, Elston D (tháng 12 năm 2005). Andrews' Diseases of the Skin: Clinical Dermatology (ấn bản thứ 10). Saunders. tr. 5–6. ISBN 978-0-7216-2921-6. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
  3. 1 2 Gilbert, Scott F. (2000). "The Epidermis and the Origin of Cutaneous Structures.". Developmental Biology. Sinauer Associates. ISBN 978-0878932436. Trong suốt cuộc đời, các tế bào sừng hóa chết của lớp sừng sẽ bị bong ra (con người mất khoảng 1,5 gam tế bào này mỗi ngày*) và được thay thế bằng các tế bào mới, nguồn gốc của chúng là các tế bào phân chia của lớp Malpighi. Các tế bào sắc tố (melanocyte) từ mào thần kinh cũng cư trú trong lớp Malpighi, nơi chúng chuyển các túi sắc tố (melanosome) của mình cho các tế bào sừng đang phát triển.
  4. Houben E, De Paepe K, Rogiers V (2007). "A keratinocyte's course of life". Skin Pharmacology and Physiology. 20 (3): 122–32. doi:10.1159/000098163. PMID 17191035. S2CID 25671082.
  5. Ghazizadeh S, Taichman LB (tháng 3 năm 2001). "Multiple classes of stem cells in cutaneous epithelium: a lineage analysis of adult mouse skin". The EMBO Journal. 20 (6): 1215–22. doi:10.1093/emboj/20.6.1215. PMC 145528. PMID 11250888.
  6. Koster MI (tháng 7 năm 2009). "Making an epidermis". Annals of the New York Academy of Sciences. 1170 (1): 7–10. Bibcode:2009NYASA1170....7K. doi:10.1111/j.1749-6632.2009.04363.x. PMC 2861991. PMID 19686098.
  7. Halprin KM (tháng 1 năm 1972). "Epidermal "turnover time"--a re-examination". The British Journal of Dermatology. 86 (1): 14–9. doi:10.1111/j.1365-2133.1972.tb01886.x. PMID 4551262. S2CID 30165907.
  8. Murphy, Kenneth (Kenneth M.) (2017). Janeway's immunobiology. Weaver, Casey . New York, NY, USA. tr. 112. ISBN 9780815345053. OCLC 933586700.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  9. Brenner M; Hearing VJ. (May–June 2008). "The Protective Role of Melanin Against UV Damage in Human Skin". Photochemistry and Photobiology. 84 (3): 539–549. doi:10.1111/j.1751-1097.2007.00226.x. PMC 2671032. PMID 18435612.

Liên kết ngoài