Bước tới nội dung

Honda Civic

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Honda Civic
2022 Honda Civic Hybrid
Tổng quan
Nhà chế tạoHonda
Thân và khung gầm
Phân loạiSubcompact car (19732000)
Compact car (2001present)
Liên quanAcura EL
Acura CSX
Honda Civic Hybrid
Honda Civic GX
Honda Civic Type R
Honda Civic Si
Honda Civic SiR
Honda City
Honda Civic VTi
Honda Civic Vi-Rs
Honda Civic Vi
Niên đại
Tiền nhiệmHonda N360
Honda Z600

Honda Civic là một dòng xe ô tô sedan được phát triển và sản xuất bởi tập đoàn Honda. Đây là một trong những dòng xe bán chạy nhất trong lịch sử với hơn 27 triệu chiếc tính đến năm 2021.[1]

Tổng quan

Civic được giới thiệu lần đầu vào tháng 7 năm 1972 với phiên bản coupe hai cửa, sau đó là phiên bản hatchback ba cửa vào tháng 9 cùng năm. Những thế hệ ban đầu của Civic nổi tiếng nhờ khả năng tiết kiệm nhiên liệu, đáng tin cậy và thân thiện với môi trường. Về sau, các phiên bản mới hơn thường được biết đến với hiệu suất tốt và phong cách thể thao, đặc biệt là các phiên bản Civic Si, SiR và Type R.[2][3]

Civic được thay đổi nhãn mác cho nhiều thị trường quốc tế ví dụ như với nhiều mẫu dưới tên Honda Ballade và Honda Domani/Acura EL. Khung gầm của Civic được ứng dụng cho nhiều mẫu xe như CR-X sport compact, CR-X del Sol targa convertible, và mẫu thể thao đa dụng cỡ nhỏ Honda CR-V.

Bối cảnh

Sau khi khẳng định vị thế là một nhà sản xuất xe máy hàng đầu trong thập niên 1950, Honda bắt đầu sản xuất ô tô vào năm 1963.[4] Honda đã giới thiệu mẫu xe N360 thuộc dòng xe mini, tuân thủ tiêu chuẩn Kei car dành cho thị trường Nhật Bản, vào năm 1967. Chiếc xe này có thiết kế động cơ đặt ngang phía trước và dẫn động cầu trước (FF), bố cục sau đó cũng được áp dụng cho các mẫu Honda 1300 (1970) và Civic (1972).[5] Mẫu Civic đã mang lại cho Honda thành công thị trường đầu tiên khi cạnh tranh với các nhà sản xuất xe cỡ nhỏ tiêu chuẩn, vốn là phân khúc đang phát triển trong bối cảnh doanh số của dòng Kei car chững lại và suy giảm vào đầu thập niên 1970.[6]

Đây là mẫu xe đầu tiên của Honda tạo được ảnh hưởng trên thị trường xuất khẩu. Nó trở thành một trong những thiết kế ô tô có ảnh hưởng nhất thập niên 1970, với các mẫu Volkswagen Golf (1974), Ford Fiesta (1976) và Fiat Ritmo (1978) thể hiện sự tương đồng khi cùng sử dụng bố cục động cơ đặt ngang, dẫn động cầu trước (transverse-FF), kiểu dáng hatchback hình thang cụt, nằm trong phân khúc giữa xe mini và sedan compact. Renault 5 được giới thiệu sáu tháng trước khi Honda Civic ra mắt vào tháng 7.[7][8] Sau đó, Honda đã mở rộng thiết kế FF-compact[a] của Civic để sản xuất các mẫu xe lớn hơn và cao cấp hơn như Accord (1976) và Prelude (1978). Tại Nhật Bản, Civic là mẫu xe cỡ nhỏ hiện đại đầu tiên theo phong cách châu Âu, mang lại một mức độ danh giá chưa từng thấy trong phân khúc này. Civic nhanh chóng truyền cảm hứng cho các nhà sản xuất nội địa Nhật Bản đáp trả bằng những mẫu xe như Mazda Familia AP, Daihatsu Charade và Mitsubishi Mirage.[9]

Trước đây thuộc phân khúc xe cỡ nhỏ, kể từ năm 2000 Honda Civic đã được xếp vào loại xe cỡ vừa. Theo hướng dẫn phân loại kích thước xe của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA), một chiếc xe có tổng dung tích khoang hành khách và hành lý từ 110 đến 119,9 foot khối (3.110 đến 3.400 L) được coi là xe cỡ trung. Vì vậy, mẫu sedan Civic thế hệ thứ mười về mặt kỹ thuật là một chiếc xe cỡ trung nhỏ, mặc dù trên thị trường nó vẫn cạnh tranh trong phân khúc xe vừa.[10] Trong báo cáo của Cục Bảo hiểm Canada về 10 mẫu xe bị đánh cắp nhiều nhất năm 2005, các mẫu Honda Civic Si được liệt kê với thứ hạng 2000 Civic Si 2 cửa (#1), 1999 Civic Si coupe (#2), 1994 Civic Si hatchback 2 cửa (#5), 1995 Civic Si hatchback 2 cửa (#8).[11] Honda Civic cũng liên tục là mẫu xe chở khách phổ biến nhất tại Canada.

Tại Nhật Bản, khi khách hàng ngày càng chuyển sang sử dụng minivan và các mẫu xe cỡ nhỏ như Honda Fit, việc sản xuất Civic non-hybrid đã kết thúc vào tháng 8 năm 2010.[12] Tuy nhiên, Civic đã được tái giới thiệu tại thị trường Nhật Bản với sự ra mắt của mẫu thế hệ thứ mười vào năm 2017.[13]

Thế hệ đầu tiên (1972)

Civic sedan thế hệ đầu tiên

Honda Civic thế hệ đầu tiên được giới thiệu vào ngày 11 tháng 7 năm 1972, nhưng được bán ra tại Nhật Bản dưới dạng mẫu năm 1973. Xe được trang bị động cơ bốn xi-lanh, làm mát bằng nước, dung tích 1.169 cc (71,3 cu in) và có các tính năng như phanh đĩa trước trợ lực, ghế vinyl bucket ngả lưng, ốp giả gỗ trên bảng điều khiển, cùng các tùy chọn máy điều hòa không khí và radio AM/FM. Civic có nhiều phiên bản như sedan fastback hai hoặc bốn cửa, hatchback ba hoặc năm cửa, cũng như station wagon năm cửa. Do khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, nhu cầu của người tiêu dùng đối với các loại xe tiết kiệm nhiên liệu tăng cao. Động cơ của Civic có thể chạy bằng xăng pha chì hoặc không chì, mang lại sự linh hoạt về lựa chọn nhiên liệu so với các xe khác. Động cơ Compound Vortex Controlled Combustion (CVCC) ra mắt vào tháng 12 năm 1973, với thiết kế nắp xi-lanh cho phép quá trình đốt cháy hiệu quả hơn. Nhờ đó, hệ thống CVCC không cần bộ chuyển đổi xúc tác hoặc xăng không chì để đáp ứng tiêu chuẩn khí thải năm 1975 của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đối với hydrocarbon và carbon monoxide.[14] Năm 1976, Civic được mở rộng nền tảng từ mẫu hatchback ba cửa để phát triển thành mẫu xe mới mang tên Honda Accord.


Thế hệ thứ hai (1979)

Civic hatchback thế hệ thứ hai

Honda Civic thế hệ thứ hai được giới thiệu vào tháng 6 năm 1979 dưới dạng mẫu năm 1980. Xe có kích thước lớn hơn, kiểu dáng góc cạnh hơn và được trang bị động cơ mạnh mẽ hơn. Tất cả các động cơ Civic lúc này đều sử dụng thiết kế CVCC, bổ sung thêm một van thứ ba cho mỗi xi-lanh; điều này giới thiệu công nghệ đốt cháy xoáy tiết kiệm nhiên liệu (lean-burn swirl technology). Thế hệ này có tùy chọn động cơ 1.335 cc (“1300”) và 1.488 cc (“1500”), với công suất thay đổi đáng kể tùy theo thị trường Nhật Bản, châu Âu, Bắc Mỹ và các khu vực khác. Xe được cung cấp ba loại hộp số: số tay 4 cấp (trên bản tiêu chuẩn), số tay 5 cấp, và hộp số bán tự động 2 cấp mà Honda trước đây gọi là “Hondamatic”. Civic thế hệ thứ hai được sản xuất dưới nhiều kiểu dáng như hatchback 3 cửa, sedan 4 cửa, hatchback 5 cửa, và wagon 5 cửa.

Thế hệ thứ ba (1983)

Civic hatchback thế hệ thứ ba

Honda Civic thế hệ thứ ba được ra mắt vào tháng 9 năm 1983 dưới dạng mẫu năm 1984. Các phiên bản hatchback 5 cửa và wagon riêng biệt được gộp lại thành một mẫu "shuttle wagon" hay "wagovan", thường được gọi vui là "breadbox" (hộp bánh mì) vì ngoại hình, với tên chính thức là Honda Civic Shuttle. Một kiểu dáng coupe hai chỗ mới – CRX – cũng được giới thiệu, nổi bật với kích thước nhỏ gọn và trọng lượng nhẹ. Thế hệ thứ ba Civic đánh dấu sự xuất hiện của dòng động cơ D-series bốn xi-lanh, bao gồm động cơ CVCC 1,5 L cho công suất 57 kW (76 hp). Năm 1984 cũng chứng kiến sự ra mắt của phiên bản hiệu suất cao Si dành cho thị trường Nhật Bản, với hệ thống treo nâng cấp và động cơ DOHC ZC 1,6 L cho công suất 96 kW (130 hp). Tại Mỹ, các mẫu Si được bán dưới dạng Civic Si hatchback 3 cửa và CRX Si, sử dụng động cơ SOHC 12 van 1,5 L với công suất 68 kW (91 hp), tích hợp hệ thống phun nhiên liệu điện tử. Một cấu hình 4WD với giá đỡ hộp số khác biệt được giới thiệu lần đầu vào năm 1984, và được nâng cấp vào năm 1987. Tại Mỹ, xe đạt mức tiêu thụ nhiên liệu khoảng 8,4 L/100 km (34 mpg-UK; 28 mpg-US) trên đường cao tốc. Hệ thống 4WD ban đầu vận hành bằng nút bấm, nhưng từ năm 1987 được cải tiến để bánh sau sẽ tự động kích hoạt khi bánh trước mất độ bám. Hệ thống mới này gọi là "Realtime", sử dụng "viscous coupler" nối hai trục truyền động giữa cầu trước và cầu sau. Hộp số tay có thêm cấp số thứ sáu đồng bộ, gọi là "SL" (Super-Low), dùng để tạo mô-men xoắn cao ở tốc độ rất thấp. Ý tưởng Realtime vẫn được sử dụng cho đến ngày nay, nhưng đã có nhiều cải tiến công nghệ so với hệ thống đầu tiên. Từ năm 1985, Civic tại Nhật Bản được phân phối độc quyền qua Honda Primo, với các biến thể bán tại Honda VernoHonda Clio[b]. Một phiên bản sedan 4 cửa mang tên Ballade được sản xuất theo thỏa thuận bởi Mercedes-Benz Nam Phi, với các mẫu gồm 1300, 1500, 1500i và 1600i DOHC 1.6 injection.

Thế hệ thứ tư (1987)

Civic hatchback thế hệ thứ tư

Tháng 9 năm 1987, Honda Civic thế hệ thứ tư được giới thiệu với kích thước lớn hơn và đường viền nắp ca-pô thấp hơn. Nhiều phiên bản và cấp độ trang bị khác nhau được cung cấp cho các thị trường trên toàn thế giới. Đáng chú ý nhất là phiên bản SiR dành cho thị trường Nhật Bản, trang bị động cơ B16A 1,6 lít DOHC VTEC bốn xi-lanh. Tất cả các mẫu Civic tại Mỹ đều sử dụng hệ thống phun nhiên liệu điện tử, trong khi ở các thị trường khác vẫn còn phiên bản dùng bộ chế hòa khí. Thế hệ thứ tư cũng đánh dấu sự ra đời của hệ thống treo sau độc lập hoàn toàn trên toàn bộ dòng sản phẩm.[15] Ngoài ra, mẫu Honda CRX vẫn là một phần của gia đình Civic, với các phiên bản base, HF và Si tại Mỹ. Một phiên bản sedan 4 cửa mang tên Ballade được sản xuất theo thỏa thuận bởi Mercedes-Benz Nam Phi, với các mẫu 1500 16V, 1600i 16V và 1600i 16V DOHC. 800 chiếc xe đầu tiên được sản xuất tại nhà máy Honda mới xây ở Alliston, Ontario, Canada là các mẫu SE (Special Edition). Những phiên bản đặc biệt này có nẹp hông màu trắng đồng bộ với thân xe trắng, gương đôi cùng màu, và một dải sọc xanh quấn quanh trên nẹp thân. Nội thất cũng được nâng cấp, cùng với ống xả mạ crôm.

Thế hệ thứ năm (1991)

Civic hatchback thế hệ thứ năm

Honda Civic thế hệ thứ năm được giới thiệu vào tháng 9 năm 1991 dưới dạng mẫu năm 1992. Xe có kích thước lớn hơn và kiểu dáng khí động học hơn. Phiên bản wagon lúc này chỉ còn bán tại thị trường Nhật Bản, nơi mẫu wagon thế hệ trước vẫn tiếp tục sản xuất đến năm 1995. Hiệu suất tiết kiệm nhiên liệu của mẫu HF trước đó được thay thế bằng VX hatchback, với mức tiêu thụ theo chuẩn EPA đạt 48/55 dặm trên mỗi gallon Mỹ (4,9/4,3 L/100 km; 58/66 mpg-UK), trở thành mẫu xe tiết kiệm nhiên liệu nhất của Honda thời điểm đó. Tại Bắc Mỹ, phiên bản Si sử dụng động cơ SOHC VTEC 1,6 lít, trong khi VX dùng công nghệ VTEC-E. Phiên bản Si tại Nhật Bản lại trang bị động cơ DOHC không VTEC D16A9 1,6 lít. Tiếp nối truyền thống thể thao của Civic SiR nguyên bản, Honda tiếp tục bán nhiều biến thể tương tự của Civic thế hệ thứ năm tại Nhật Bản, châu Á và châu Âu, vẫn mang tên Civic SiR. Tại Nam Phi, MBSA (Mercedes-Benz of South Africa) sản xuất Civic dưới tên Ballade chỉ với kiểu dáng sedan 4 cửa. Một phiên bản đặc biệt là 180i trang bị động cơ B18B4, được lắp trên các mẫu Ballade. Thế hệ này cũng giới thiệu một kiểu dáng mới gọi là Civic Coupé, phát triển từ sedan Civic Ferio, và được bán tại Bắc Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Civic thế hệ thứ năm vẫn được ưa chuộng bởi giới độ xe (tuners) và đua xe (racers) cho đến ngày nay.

Thế hệ thứ sáu (1995)

Honda Civic thế hệ thứ sáu được giới thiệu vào tháng 9 năm 1995 dưới dạng mẫu năm 1996. Xe có thiết kế được cập nhật, dù ít mang tính "cách mạng" hơn so với các lần đổi mới trước. Hệ thống treo và nhiều tùy chọn động cơ được cung cấp, cùng với sự xuất hiện của mẫu Civic chạy bằng khí tự nhiên đầu tiên – GX. Tại Hoa Kỳ, các mẫu Civic từ năm 1996 đến 2000 được bán với các phiên bản CX, DX, EX, EXR, HX, LX, và tại Canada có thêm SE và Si. Tất cả các bản tiêu chuẩn đều sử dụng động cơ 4 xi-lanh 1,6 lít. Các bản CX, DX và LX dùng động cơ SOHC D16Y7, trong khi EX có động cơ SOHC VTEC D16Y8 1,6 lít 16 van cho công suất 127 hp (95 kW), còn HX dùng động cơ VTEC-E D16Y5 cho công suất 115 hp (86 kW). Phiên bản USDM Si và Canadian SiR được trang bị động cơ DOHC VTEC B16A2 1,6 lít 16 van cho công suất 160 hp (119 kW). Mẫu Civic Si coupe EM1 lần đầu ra mắt năm 1999 và được sản xuất đến năm 2000. Tại châu Âu, Civic có bản DOHC 1,6 VTi hatchback và sedan, cùng với động cơ DOHC 1,8 lít dành cho mẫu Domani liên quan đến kiểu dáng liftback 5 cửa và estate. Ở Canada, mẫu Acura EL được phát triển dựa trên Civic, và sau đó được thay thế bằng CSX vào năm 2006.

Civic hatchback thế hệ thứ sáu
Civic coupe thế hệ thứ sáu
Civic sedan thế hệ thứ sáu

Thế hệ thứ bảy (2000)

Honda Civic thế hệ thứ bảy được ra mắt vào tháng 9 năm 2000, dành cho mẫu xe năm 2001. Mặc dù vẫn giữ nguyên kích thước ngoại thất của thế hệ trước, không gian nội thất đã được cải thiện một phần nhờ việc sử dụng sàn sau phẳng, qua đó đưa Civic lên phân khúc xe compact. Hệ thống treo trước được thay đổi từ double wishbone sang MacPherson strut, nhằm giảm chi phí cũng như tạo thêm không gian cho khoang động cơ để lắp đặt động cơ Honda K-series mới. Công suất cũng được tăng ở một số phiên bản. Bốn phiên bản chính gồm: DX, LX, EX và HX. Từ thế hệ này, Civic Coupe không còn được bán tại Nhật Bản.

Tại Bắc Mỹ, các kiểu dáng coupe và sedan vẫn có mặt, ngoại trừ phiên bản Si (SiR tại Canada) chỉ được sản xuất dưới dạng hatchback ba cửa.[16] Ở các thị trường khác, Civic được phân phối với kiểu dáng hatchback ba cửa và năm cửa. Phiên bản Type R cũng được tái thiết kế, sử dụng động cơ i-VTEC mạnh mẽ hơn và vẫn giữ kiểu dáng hatchback ba cửa. Thế hệ này cũng đánh dấu việc Honda giới thiệu mẫu Civic Hybrid đầu tiên, trang bị động cơ 1.3 lít.[17]

Civic sedan thế hệ thứ bảy
Civic hatchback 3 cửa thế hệ thứ bảy
Civic hatchback 5 cửa thế hệ thứ bảy

Chú thích

  1. Bố cục động cơ đặt ngang phía trước và dẫn động cầu trước
  2. Ba kênh phân phối riêng biệt của Honda tại Nhật, mỗi kênh bán các dòng xe khác nhau

Tham khảo

  1. "Honda Unveils Next-Generation Civic Five-Door". hondanews.eu (bằng tiếng Anh). Honda Motor Europe Ltd. ngày 24 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
  2. "2006 Honda Civic Expert Review". Cars.com.
  3. "2006 Honda Civic Review". JB car pages. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008.
  4. "Launching the S360 and T360 / 1962". global.honda (bằng tiếng Anh). Honda Global. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2019.
  5. "Introducing N360 / 1967". global.honda (bằng tiếng Anh). Honda Global. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2019.
  6. "Announcing the Civic / 1972". global.honda (bằng tiếng Anh). Honda Global. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2019.
  7. Bellu, René (2005). "Toutes les voitures françaises 1972 (salon [Oct] 1971)". Automobilia. 76s. Paris: Histoire & collections: 50–53.
  8. "Morors: Renault's New Baby" (bằng tiếng Anh). Evening News. ngày 10 tháng 12 năm 1971. tr. 35. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014.
  9. Fujimoto, Akira, biên tập (tháng 1 năm 1978). "Japanese Cars 1978". Title: Car Styling Quarterly (21). Tokyo, Japan: San-ei Shobo Publishing: 54.
  10. "2016 Honda Civic Sedan Press Kit – Interior" (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh). American Honda Motor Company. ngày 18 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  11. "Top 10 stolen cars" (bằng tiếng Anh). MSN Finance. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2006.
  12. Takahashi, Yoshio (ngày 16 tháng 11 năm 2010). "Honda to End Civic Sales in Japan". The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010.
  13. Radu, Mihnea (ngày 27 tháng 7 năm 2017). "2017 Honda Civic Hatch and Sedan Launched in Japan". autoevolution (bằng tiếng Anh).
  14. Wolfcale, James. "The Top Ten Hondas of All Time". DriveCult (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012.
  15. "Inside Line: Honda Civic" (bằng tiếng Anh). Edmunds.com. Bản gốc lưu trữ 1 tháng 3 2009. Truy cập 29 tháng 11 2014.
  16. "2003 Honda Civic Review" (bằng tiếng Anh). JB car pages. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2014.
  17. "2003 Honda Civic Hybrid Review" (bằng tiếng Anh). JB car pages. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2009.

Liên kết ngoài