La Habana
| La Habana San Cristóbal de la Habana | |
|---|---|
| — Thủ đô — | |
Từ trái qua phải, trừ trên xuống dưới: Nhà thờ chính tòa La Habana, Quảng trường Cũ, khung cảnh La Habana Cổ, Nhà hát Lớn La Habana, và Quảng trường San Francisco | |
| Tên hiệu: Thành phố của những cây cột[1] | |
Vị trí ở Cuba | |
| Quốc gia | Cuba |
| Tỉnh | La Habana |
| Thành lập | 16 tháng 11 năm 1519 |
| Đô thị | 15 |
| Chính quyền | |
| • Thành phần | Chính quyền Tỉnh La Habana |
| • Thống đốc | Reinaldo García Zapata (PCC) |
| Diện tích | |
| • Tổng cộng | 728,26 km2 (281,18 mi2) |
| Độ cao | 59 m (195 ft) |
| Dân số (2021) | |
| • Tổng cộng | 2.129.561[2] |
| • Mật độ | 2.924,2/km2 (7,574/mi2) |
| Tên cư dân | Habanero/a |
| Múi giờ | UTC−5 |
| • Mùa hè (DST) | UTC−04:00 (UTC−4) |
| Mã bưu điện | 10xxx–19xxx |
| Mã điện thoại | 7 |
| Mã ISO 3166 | CU-03 |
| Thành phố kết nghĩa | Minsk, Isfahan, Tijuana, Cádiz, Glasgow, Istanbul, Madrid, Barcelona, Mar del Plata, Sullana, São Paulo, Sankt-Peterburg, Manila, Thành phố México, Athens, Tehran, Windhoek, Toledo, Tây Ban Nha, Rio de Janeiro, Sevilla, Gijón, Rotterdam, Santo Domingo, Constanța, Mobile, Sintra, Cuzco, La Paz, İzmir, Kyiv, Bắc Kinh, São Bernardo do Campo |
| Thánh bổn mạng | Thánh Cristóbal |
| HDI (2018) | 0,804[3] – rất cao |
| Website | www |
| Tên chính thức | La Habana Cổ và các công sự |
| Loại | Văn hóa |
| Tiêu chuẩn | iv, v |
| Đề cử | 1982 (kỳ họp lần thứ 6) |
| Số tham khảo | 204 |
| Quôc gia | Cuba |
| Vùng | Mỹ Latin và Caribe |
La Habana (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [la aˈβana], đôi khi viết là Havana theo tiếng Anh) là thành phố lớn nhất, là thủ đô và là một trong 14 tỉnh của Cuba. Đây là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của Cuba. Tên đầy đủ của thành phố này trong tiếng Tây Ban Nha là La Habana (tương tự như The Havana trong tiếng Anh), trước đây có tên là San Cristóbal de la Habana; với dân số hơn 2,2 triệu người là thành phố lớn nhất không những ở Cuba mà ở cả vùng Caribe. Thành phố có diện tích 721 km², cách Florida (Mỹ) 144 km về phía nam tây nam và được bao bọc bởi tỉnh La Habana về phía nam, đông và tây.
Lịch sử
Thành lập
Khu vực La Habana hiện tại và vịnh tự nhiên đã được người châu Âu viếng tăm trong thời kỳ Sebastián de Ocampo đi vòng quanh hòn đảo bằng đường biển.vào năm 1509.[4] Ngay sau đó, năm 1510, những người Tây Ban Nha thực dân đầu tiên đã đến La Hispaniola và bắt đầu xâm chiếm Cuba. Diego Velázquez de Cuéllar thành lập La Habana ngày 25/8/1515 tại bờ biển phía nam của đảo, gần thị trấn Surgidero de Batabanó ngày nay. Giữa 1514 và 1519, thành phố có ít nhất là 2 cơ sở. Một bản đồ sớm nhất cho vẽ năm 1514 cho thấy thị xã nằm ở cửa sông Onicaxinal, bờ biển nam Cuba. Một cơ sở khác là La Chorrera, mà ngày nay là Puentes Grandes láng giềng, kế bên sông Almendares. Cơ sở cuối cùng El Templete, là thị xã thứ 6 được người Tây Ban Nha lập nên trên hòn đảo, gọi là San Cristobal de la Habana bởi Pánfilo de Narváez: Tên gọi này kết hợp giữa San Cristóbal, thánh bảo hộ của Habana. Tên gọi Habana có thể xuất phát từ Habaguanex, tên gọi của một tù trưởng da đỏ kiểm soát khu vực này và được trích dẫn bởi Diego Velasquez trong tờ trình ông gửi vua Tây Ban Nha.
Habana được di dời từ vị trí hiện nay đến nơi được gọi là Puerto de Carenas (có nghĩa, "Careening Bay"), năm 1519.
La Habana vào thế kỷ 17 và 18
La Habana được mở rộng rất lớn vào thế kỷ 17. Các tòa nhà mới được xây dựng tận dụng các vật liệu có sẵn ở đảo quốc này, chủ yếu là gỗ, kết hợp với nhiều kiểu kiến trúc Iberia cũng như vay mượn từ phong cách đảo Canary. Trong thời kỳ này, thành phố La Habana cũng xây dựng các tượng đài công dân và các công trình tôn giáo như: Nữ tu viện St Augustin, Lâu đài El Morro, nhà thờ nhỏ Humilladero, đài phun nước Dorotea de la Luna in La Chorrera, nhà thờ Đức thánh thiên thần (Holy Angel), bệnh viện San Lazaro, Tu viện Santa Teresa và Nữ tu viện San Felipe Neri. Năm 1649 một đại dịch chết người lây từ Cartagena ở Colombia đã lây cho 1/3 dân số La Habana.
Thế kỷ 18

Đến giữa thế kỷ 18, Havana đã có hơn 70.000 dân, trở thành thành phố lớn thứ ba ở châu Mỹ, chỉ đứng sau Lima và Thành phố Mexico nhưng xếp trên Boston và Thành phố New York.[5]
Trong thời kỳ này, Havana là cảng quan trọng nhất tại Tây Ấn thuộc Tây Ban Nha nhờ sở hữu các cơ sở sửa chữa tàu biển. Đến năm 1740, nơi đây trở thành xưởng đóng tàu lớn và sầm uất nhất của Tây Ban Nha, đồng thời là ụ khô duy nhất tại Tân Thế giới.[6]
Chiến tranh Bảy năm

Trong Chiến tranh Bảy năm, thành phố đã bị quân Anh bao vây. Sự kiện bắt đầu vào rạng sáng ngày 6 tháng 6 năm 1762, khi một hạm đội Anh gồm hơn 50 tàu cùng lực lượng phối hợp hơn 11.000 quân từ Hải quân và Lục quân Anh tiến vào vùng biển Cuba và đổ bộ lên phía đông thành phố.[7]
Sau cuộc vây hãm, người Anh lập tức mở cửa giao thương giữa Havana với các thuộc địa của họ ở Bắc Mỹ thuộc Anh và vùng Caribbean, tạo nên sự biến đổi nhanh chóng trong xã hội Cuba. Chưa đầy một năm sau khi chiếm đóng, Hiệp định Paris (1763) được ký kết giúp chấm dứt chiến tranh. Theo hiệp định, Tây Ban Nha chấp nhận nhượng Florida thuộc Tây Ban Nha cho Anh để đổi lấy việc thu hồi Havana.[8]
Khi giành lại quyền kiểm soát, Tây Ban Nha đã biến Havana thành đô thị kiên cố nhất châu Mỹ; tương tự như Cartagena — thành phố từng dưới sự chỉ huy của Blas de Lezo đánh bại cuộc xâm lược của 30.000 lính thủy Anh vào năm 1741. Họ bắt đầu xây dựng Pháo đài San Carlos de la Cabaña, công trình phòng thủ lớn thứ ba của Tây Ban Nha tại Tân Thế giới sau Castillo San Cristóbal và Castillo San Felipe del Morro ở San Juan, Puerto Rico.
Ngày 15 tháng 1 năm 1796, di cốt của Christopher Columbus được chuyển từ Santo Domingo đến Cuba. Chúng được lưu giữ tại đây cho đến năm 1898, trước khi được đưa về Nhà thờ chính tòa Sevilla sau khi Tây Ban Nha mất quyền kiểm soát Cuba trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ.
Thế kỷ 19

Đầu thế kỷ 19, giao thương giữa vùng Caribbean và Bắc Mỹ tăng mạnh giúp Havana trở nên phồn thịnh. Các nhà hát tại đây quy tụ những diễn viên lừng lẫy nhất thời bấy giờ, trong khi sự thịnh vượng của tầng lớp trung lưu mới nổi dẫn đến việc hàng loạt biệt thự tân cổ điển xa hoa được xây dựng. Thời kỳ này, Havana được mệnh danh là "Paris của vùng Antilles".[9]
Năm 1837, tuyến đường sắt đầu tiên của đất nước được xây dựng tại Havana. Đoạn đường dài 51 km (32 mi) nối Havana với Bejucal này phục vụ vận chuyển đường từ thung lũng Güines ra cảng.[10] Nhờ đó, Cuba trở thành quốc gia thứ bảy trên thế giới và là quốc gia Mỹ Latinh cũng như quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha đầu tiên sở hữu đường sắt.[11]
Xuyên suốt thế kỷ, Havana tiếp tục xây dựng các công trình văn hóa như Nhà hát Tacón (sau này là Gran Teatro de La Habana). Năm 1863, các bức tường thành bị phá bỏ để mở rộng không gian đô thị.
Chế độ nô lệ ở Cuba duy trì hợp pháp cho đến năm 1886, thu hút sự chú ý từ các chủ nô ở Miền Nam Hoa Kỳ đang tìm cách bảo tồn chế độ này. Tổ chức Hiệp sĩ Vòng tròn Vàng từng đề xuất một "Vòng tròn Vàng" bán kính 1.200 dặm lấy Havana làm tâm và bao trùm phần lớn Bắc Mỹ, nơi chế độ nô lệ vẫn được phép tồn tại.
Sau khi Liên minh miền Nam Hoa Kỳ thất bại trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ năm 1865, nhiều chủ nô cũ đã tháo chạy sang Havana, trong đó có Ngoại trưởng Liên minh Judah P. Benjamin và Phó Tổng thống kiêm Bộ trưởng Chiến tranh Liên minh John C. Breckinridge.[12][13] Nhiều người tị nạn đã ở lại Cuba cho đến khi Tổng thống Andrew Johnson ban lệnh ân xá cho phe Liên minh vào năm 1868.[14]
Độc lập của Cuba

Vụ đắm thiết giáp hạm USS Maine tại Cảng Havana là duyên cớ trực tiếp dẫn đến cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ.[15] Tại Cuba, cuộc chiến này là giai đoạn cao trào của cuộc kháng chiến chống Tây Ban Nha vốn đã diễn ra được ba năm. Vào ngày 12 tháng 8 năm 1898, Tây Ban Nha chính thức từ bỏ chủ quyền đối với Cuba, chấm dứt sự hiện diện của đế quốc này tại châu Mỹ
Thế kỷ 20



Thời kỳ Cộng hòa
Havana trở thành thủ đô của Cộng hòa Cuba mới độc lập vào năm 1902. Thành phố là nơi diễn ra lễ nhậm chức của tổng thống đầu tiên, Tomás Estrada Palma, người được đánh giá là đã duy trì các chuẩn mực cao nhất về tính liêm chính trong bộ máy hành chính thời kỳ Cộng hòa.[17]
Vào tháng 7 năm 1940, trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Cuba đã đăng cai Hội nghị Havana (1940). Tại đây, đại diện Hoa Kỳ và 20 quốc gia Mỹ Latinh khác đã thống nhất chính sách bảo vệ các thuộc địa và vùng phụ thuộc của châu Âu tại châu Mỹ trong trường hợp quốc gia chủ quản rơi vào tay Phe Trục.
Đến năm 1958, Cuba là một quốc gia tương đối giàu có so với tiêu chuẩn Mỹ Latinh và thậm chí là thế giới.[18] Vào cuối thập niên 1950, GDP bình quân đầu người của nước này đứng thứ ba khu vực, chỉ sau Venezuela và Uruguay. Cuba đã thực thi những luật bảo hộ lao động có lẽ là mạnh mẽ nhất châu Mỹ, bao gồm việc cấm sa thải và chống cơ giới hóa. Tuy nhiên, những đặc quyền này chủ yếu đạt được "bằng sự hy sinh của người thất nghiệp và nông dân", dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế.[19]
Sau Cách mạng

Sau Cách mạng Cuba năm 1959, chính phủ cách mạng mới dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro đã bắt đầu cải thiện các dịch vụ xã hội, nhà ở công cộng và các tòa nhà công vụ. Tuy nhiên, việc chính quyền Castro đột ngột quốc hữu hóa toàn bộ tài sản tư nhân và công nghiệp (theo mô hình Marx-Lenin), tiếp nối bởi lệnh cấm vận của Hoa Kỳ năm 1960, đã dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa gây ảnh hưởng nặng nề đến Cuba và Havana.
Trong giai đoạn 1966–1968, theo Luật số 1076, chính phủ Cuba đã quốc hữu hóa toàn bộ các thực thể kinh doanh tư nhân, bao gồm cả "một số loại hình thương mại bán lẻ nhỏ".[20]
Một cuộc suy thoái kinh tế đã xảy ra sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Do hai nước có quan hệ mật thiết, việc chấm dứt các khoản viện trợ từ Liên Xô đã khiến Cuba mất đi nguồn thu hàng tỷ đô la. Nhiều người khi đó tin rằng chính phủ cách mạng sẽ sớm sụp đổ, tương tự như các quốc gia vệ tinh của Liên Xô tại Đông Âu.
Khí hậu
| Dữ liệu khí hậu của La Habana (1961–1990) | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tháng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | Năm |
| Trung bình ngày tối đa °C (°F) | 25.8 (78.4) | 26.1 (79.0) | 27.6 (81.7) | 28.6 (83.5) | 29.8 (85.6) | 30.5 (86.9) | 31.3 (88.3) | 31.6 (88.9) | 31.0 (87.8) | 29.2 (84.6) | 27.7 (81.9) | 26.5 (79.7) | 28.8 (83.8) |
| Trung bình ngày °C (°F) | 22.2 (72.0) | 22.4 (72.3) | 23.7 (74.7) | 24.8 (76.6) | 26.1 (79.0) | 26.9 (80.4) | 27.6 (81.7) | 27.8 (82.0) | 27.4 (81.3) | 26.2 (79.2) | 24.5 (76.1) | 23.0 (73.4) | 25.2 (77.4) |
| Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) | 18.6 (65.5) | 18.6 (65.5) | 19.7 (67.5) | 20.9 (69.6) | 22.4 (72.3) | 23.4 (74.1) | 23.8 (74.8) | 24.1 (75.4) | 23.8 (74.8) | 23.0 (73.4) | 21.3 (70.3) | 19.5 (67.1) | 21.6 (70.9) |
| Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) | 64.4 (2.54) | 68.6 (2.70) | 46.2 (1.82) | 53.7 (2.11) | 98.0 (3.86) | 182.3 (7.18) | 105.6 (4.16) | 99.6 (3.92) | 144.4 (5.69) | 180.5 (7.11) | 88.3 (3.48) | 57.6 (2.27) | 1.189,2 (46.82) |
| Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 0.1 mm) | 5 | 5 | 3 | 3 | 6 | 10 | 7 | 9 | 10 | 11 | 6 | 5 | 80 |
| Độ ẩm tương đối trung bình (%) | 75 | 74 | 73 | 72 | 75 | 79 | 78 | 78 | 79 | 80 | 77 | 75 | 76 |
| Nguồn: NOAA[21] | |||||||||||||
La Habana Cũ
La Habana cũ, hay Vieja như người Cuba gọi khu phố cũ này, là di sản thời thực dân phong phú nhất của Mỹ Latinh. Các đường phố hẹp của khu này có nhiều tòa nhà có giá trị văn hóa và lịch sử, chiếm 1/3 trong số 3000 tòa nhà ở La Habana Cũ. La Habana Cũ là thành phố cổ được tạo lập từ cảng, trung tâm chính thức của Plaza de Armas. Alejo Carpentier gọi La Habana Cũ là nơi "de las columnas" (của các cột). Chính phủ Cuba đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn và phục chế La Habana Cũ. Habana Cũ và các công sự của mình đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 1982.
Các cảnh đẹp của La Habana

- Habana Vieja (Havana cổ): Khu vực lõi lịch sử của thành phố, đã được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO.
- Plaza Vieja (Quảng trường Cũ): Một quảng trường tại Havana cổ, từng là nơi diễn ra các cuộc hành quyết, diễu hành, đấu bò và lễ hội.
- Pháo đài San Carlos de la Cabaña: Nằm ở phía đông vịnh Havana, đây là pháo đài ấn tượng nhất từ thời thuộc địa Tây Ban Nha, nổi bật với hệ thống tường thành đồ sộ được xây dựng vào cuối thế kỷ 18.
- El Capitolio Nacional: Xây dựng năm 1929 làm trụ sở Thượng viện và Hạ viện, tòa nhà khổng lồ này có mái vòm biểu tượng thống trị đường chân trời thành phố. Bên trong có La Estatua de la República – bức tượng trong nhà lớn thứ ba thế giới. Hiện nay, đây là trụ sở của Học viện Khoa học Cuba và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên.
- Lâu đài El Morro: Pháo đài canh giữ lối vào vịnh Havana, được xây dựng để bảo vệ cảng khỏi sự tấn công của hải tặc.
- Pháo đài San Salvador de la Punta: Một pháo đài nhỏ từ thế kỷ 16 tại điểm vào phía tây cảng Havana, đóng vai trò then chốt trong việc phòng thủ thành phố thời kỳ đầu. Nơi đây hiện trưng bày khoảng 20 khẩu súng cổ và cổ vật quân sự.
- Chúa Kitô Havana: Bức tượng Chúa bằng đá cẩm thạch cao 20 mét (xây dựng năm 1958) tọa lạc trên sườn đồi phía đông vịnh, có nét tương đồng với tượng Cristo Redentor nổi tiếng ở Rio de Janeiro.
- 'Đại học Havana (Nhà hát Lớn Havana): Nhà hát opera nổi tiếng, là trụ sở của Vũ đoàn Ballet Quốc gia Cuba. Hội trường lớn nhất mang tên García Lorca cũng là phòng hòa nhạc lớn nhất đất nước.
- Đê biển Malecón: Đại lộ chạy dọc bờ biển phía bắc thành phố. Malecón là con đường nổi tiếng nhất Havana, đặc biệt là địa điểm ngắm hoàng hôn lý tưởng.
- Hotel Nacional de Cuba: Khách sạn mang phong cách Art Deco lừng danh, từng là khu phức hợp giải trí và sòng bạc sầm uất vào thập niên 1950.
- Museo de la Revolución: Tọa lạc tại dinh Tổng thống cũ, phía sau bảo tàng trưng bày chiếc du thuyền Granma lịch sử.
- Necrópolis Cristóbal Colón: Một nghĩa trang kiêm bảo tàng ngoài trời xây dựng năm 1876.[22] Với gần 1 triệu ngôi mộ và nhiều tác phẩm điêu khắc tinh xảo (như của Ramos Blancos), đây là một trong những nghĩa trang lộng lẫy và nổi tiếng nhất Mỹ Latinh.
Giao thông vận tải
- Sân bay quốc tế của La Habana Sân bay Quốc tế José Martí. Sân bay này cách trung tâm thành phố 10 km về phía nam.
- Xe bus - Xe bus của La Habana được sử dụng phổ biến và thường đông nghẹt người, chạy theo tuyến cố định.
Đơn vị hành chính

Thành phố được chia ra 15 municipios.
- Arroyo Naranjo
- Boyeros
- Centro Habana
- Cerro
- Cotorro
- Diez de Octubre
- Guanabacoa
- La Habana del Este
- La Habana Vieja (La Habana Cũ)
- La Lisa
- Marianao
- Playa (bao gồm Miramar, và trải rộng tới Santa Fe ở phía tây)
- Plaza de la Revolucion (thỉnh thoảng được viết tắt là 'Plaza'; bao gồm Vedado)
- Regla
- San Miguel del Padrón
Các thành phố kết nghĩa
Các hình ảnh khác
- Khách sạn Habana Libre ở Vedado
- Bình minh ở La Habana
- La Habana về đêm
Tham khảo
- ↑ "How Obama's US-Cuba deal could shape Havana's future". Lonely Planet. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
- ↑ "Demographic Yearbook of Cuba 2021/Anuario Demografico de Cuba 2021 (in Spanish)" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2022.
- ↑ "Subnational Human Development Index". Global Data Lab. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Thomas, Hugh: Cuba, A pursuit of freedom, 2nd Edition, p. 1.
- ↑ Harbron, John D..Trafalgar and the Spanish navy, Lestrange Maritime Press, 2004, ISBN 0-87021-695-3, pp. 15–17. Trong thế kỷ 18, Havana đóng số lượng tàu chiến tuyến (Ships of the Line) nhiều hơn gần 50% so với bất kỳ xưởng đóng tàu nào khác của Tây Ban Nha.
- ↑ Pocock, Tom (1998). "Chapter Six". Battle for Empire: The very first world war 1756–63. Michael O'Mara Books. ISBN 978-1-85479-390-4.
- ↑ Thomas, Hugh: Cuba: The Pursuit of Freedom 2nd edition. Chapter One
- ↑ Bracker, Hans (2015). The Exciting Story of Cuba. CreateSpace. ISBN 9781484809457.
- ↑ Comisión Oficial para la Conmemoración del Primer Centenario del Ferrocarril en España (1948). Cien años de ferrocarril en España, 1. Madrid: Comisión.
- ↑ "Cuba's Railroad Museum Packed with History". Havana Times. ngày 13 tháng 7 năm 2013.
- ↑ Heck, Frank H. (1976). Proud Kentuckian: John C. Breckinridge, 1821–1875. Lexington, Kentucky: The University Press of Kentucky. ISBN 0-8131-0217-0.
- ↑ Dr. Claire M. Wolnisty. "Confederate Diaspora".
- ↑ Davis, William (2010). Breckinridge: Statesman, Soldier, Symbol. University Press of Kentucky. ISBN 9780813159973.
- ↑ (bằng tiếng Anh) Spanish–American War Lưu trữ ngày 17 tháng 11 năm 2001 tại Library of Congress Web Archives, Effects of the Press on Spanish-American Relations in 1898
- ↑ "In pictures: Havana celebrates 500 years of foundation". BBC News Online. ngày 16 tháng 11 năm 2019.
- ↑ Masó y Vázquez, Calixto (1976). Historia de Cuba: la lucha de un pueblo por cumplir su destino histórico và su vocación de libertad (ấn bản thứ 2). Miami, Fla.: Ediciones Universal. ISBN 978-0-89729-875-9.
- ↑ Smith & Llorens 1998.
- ↑ Baklanoff 1998.
- ↑ Nigel Hunt. "Cuba Nationalization Laws". cuba heritage .org. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009.
- ↑ "Casablanca (La Habana) Climate Normals 1961–1990" (bằng tiếng Anh). National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "Havana's magnificent necropolis tells a story of wealth and freedom". Carilat.de. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2010.
Thư mục
- Eddie Lennon, Julie Napier and Farida Haqiqi. Wonderful Havana (1st ed.). Cool World Books, updated February 2013.
- King, Charles Spencer (2009) Havana My Kind of Town. US: CreateSpace. ISBN 978-1-4404-3269-9.
- Alicia García Santana. Havana: History and Architecture of a Romantic City. Monacelli, October 2000. ISBN 978-1-58093-052-9.
- Angela, Ferriol Maruaga; et al.: Cuba crisis, ajuste y situación social (1990–1996), Editorial de Ciencias Sociales, 1998. ISBN 978-959-06-0348-8.
- The Rough Guide to Cuba (3rd ed.). Rough Guides, May 2005. ISBN 978-1-84353-409-9.
- Barclay, Juliet (1993). Havana: Portrait of a City. London: Cassell. ISBN 978-1-84403-127-6 (2003 paperback edition). A comprehensive account of the history of Havana from the early 16th century to the end of the 19th century.
- Carpentier, Alejo. La ciudad de las columnas (The city of columns). A historical review of the city from one of the major authors in the iberoamerican literature, a native of this city.
- Cluster, Dick, & Rafael Hernández, History of Havana. New York: Palgrave-MacMillan, 2006. ISBN 978-1-4039-7107-4. A social history of the city from 1519 to the present, co-authored by a Cuban writer and editor resident in Havana and an American novelist and writer of popular history.
- Eguren, Gustavo. La fidelísima Habana (The very faithful Havana). A fundamental illustrated book for those who wants to know the history of La Habana, includes chronicles, articles from natives and non-natives, archives documents, and more.
- United Railways of Havana. Cuba: A Winter Paradise. 1908–1909, 1912–1913, 1914–1915 and 1915–1916 editions. New York, 1908, 1912, 1914 and 1915. Maps, photos and descriptions of suburban and interurban electric lines.
- "Electric Traction in Cuba". Tramway & Railway World (London), April 1, 1909, pp. 243–44. Map, photos and description of Havana Central Railroad.
- "The Havana Central Railroad". Electrical World (New York), April 15, 1909, pp. 911–12. Text, 4 photos.
- "Three-Car Storage Battery Train". Electric Railway Journal (New York), September 28, 1912, p. 501. Photo and description of Cuban battery cars.
- Berta Alfonso Gallol. Los Transportes Habaneros. Estudios Históricos. La Habana, 1991. The definitive survey (but no pictures or maps).
- James A. Michener and John Kings. Six Days in Havana. University of Texas Press; first edition (1989). ISBN 978-0-292-77629-6. Interviews with close to 200 Cubans of widely assorted backgrounds and positions, and concerns how the country has progressed after 90 years of independence from Spain and under the 30-year leadership of Castro.
- One more interesting note about that edition of The New York Times: On page 5, there is a short blurb mentioning, "The plan for holding a Pan-American exhibition at Buffalo has been shelved for the present owing to the unsettled condition of the public mind consequent upon the Spanish-Cuban complications." President William McKinley was assassinated at the Pan-American Exhibition when it was finally held in 1901.
- Cathryn Griffith, Havana Revisited: An Architectural Heritage. W. W. Norton 2010. ISBN 978-0-393-73284-9
- Guadalupe Garcia, Beyond the Walled City: Colonial Exclusion in Havana. 2015, Berkeley: University of California Press. ISBN 9780520286047 (review).
Liên kết ngoài
- Bản đồ La Habana với độ phân giải cao(~1 Megabyte) Lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2008 tại Wayback Machine
- Ảnh và các nơi tham quan ở La Habana Lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2006 tại Wayback Machine
- Bản đồ Google
- Hướng dẫn đến khu phố cổ La Habana