Hằng tần
Hằng tần Thái Giai thị (chữ Hán: 恆嬪蔡佳氏, 24 tháng 2 năm ? - 27 tháng 6 năm 1876), là một phi tần của Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Đế.
| Thanh Tuyên Tông Hằng tần 清宣宗恆嬪 | |
|---|---|
| Đạo Quang Đế Tần | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 24 tháng 2 ??? |
| Mất | 27 tháng 6 1876 Tử Cấm Thành, Bắc Kinh |
| An táng | Mộ Đông lăng (慕東陵), Thanh Tây lăng |
| Phối ngẫu | Thanh Tuyên Tông Đạo Quang Hoàng đế |
| Tước hiệu | [Nghi Thường tại; 宜常在] [Nghi Quý nhân; 宜貴人] [Thái Thường tại; 蔡答在] [Thái Đáp ứng; 蔡常在] [Hoàng tổ Thái Thường tại; 皇祖蔡常在] [Hoàng tổ Thái Quý nhân; 皇祖蔡貴人] [Hoàng tổ Hằng tần; 皇祖恆嬪] |
| Hoàng tộc | Nhà Thanh |
Thân thế
Hằng tần xuất thân họ Thái Giai thị (蔡佳氏), nhiều nguồn tư liệu cho thấy ngày sinh của bà có thể là vào 24 tháng 2 nhưng không rõ năm sinh. Danh tính chức quan của cha cũng như Kỳ tịch đều không rõ ràng, do đó bối cảnh gia tộc và tình hình gia đình của Hằng tần cũng không được biết đến.
Hiện tại được biết, vào những năm Hàm Phong và Đồng Trị khi tôn phong Hằng tần, gia tộc của bà không thông qua Nội vụ phủ để đệ trình Tấu chiết tạ ơn, điều này chứng minh gia tộc của bà không thuộc Kỳ tịch của Nội vụ phủ, mà là xuất thân từ Ngoại Bát kỳ. Họ Thái này trong Bát kỳ không mấy phổ biến, trong đó nổi tiếng nhất là bộ tộc của Thái Dục Vinh (蔡育榮) thuộc Hán quân Chính Bạch kỳ, là một trong những Hán quân huân cựu danh môn. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa xác định được Hằng tần có thuộc bộ tộc của Thái Dục Vinh hay không.
Đại Thanh tần phi
Năm Đạo Quang thứ 14 (1834), tháng 3, Thái Giai thị nhập cung, cùng một đợt với Giai Quý nhân Quách Giai thị, được sơ phong làm Nghi Thường tại (宜常在). Tuy nhiên, bà nhập cung qua Bát Kỳ tuyển tú, vậy nên thân phận của Thái Giai Thị không phải là Bao y. Cùng năm 1834, lại thăng làm Nghi Quý nhân (宜常在).[1]
Năm Đạo Quang thứ 16 (1836), có ghi chép: "Tổng quan Lương Bảo thỉnh Hoàng hậu, Tĩnh Quý phi, Giai tần, Thường Quý nhân, Thành Quý nhân, Tường Quý nhân, Lâm Quý nhân và Nghi Thường tại đẳng nhân tòng thầm tịnh trai, mã đầu tọa thuyền yêu xuân, hòa trấn chí tú thanh thôn", cho thấy lúc này Quý nhân Thái Giai thị đã bị hàng vị xuống Thái Thường tại (蔡答在), không rõ nguyên do. Tiếp tục vào năm Đạo Quang thứ 18 (1838), ngày 13 tháng 8, lại giáng xuống làm Thái Đáp ứng (蔡答應), tước bỏ phong hiệu Nghi.[2]
Năm Đạo Quang thứ 30, (1850), ngày 9 tháng 3, Hoàng thái tử Dịch Trữ lên ngôi, sử gọi Hàm Phong Đế. Lúc này có ghi chép "Tháng 9, Kính Sự phòng giao xuất thọ tam sở Thái Thường tại bệnh đờm xuất cung nữ tì nhất danh", cho thấy lúc này Thái Giai thị đã phục làm Hoàng tổ Thái Thường tại (皇祖蔡常在). Năm Hàm Phong thứ 10 (1860), ngày 29 tháng 12, Hoàng đế hiếu kính với phi tần của Tiên đế nên cao hứng tặng thưởng, trong đó những người được liệt kê nhận thưởng trong đó bao gồm Lâm Quý Thái phi, Hoàng khảo Đồng tần, Hoàng khảo Thành tần, Hoàng khảo Thường tần và Thái Thường tại. Hàm Phong Đế chạy loạn khỏi quân Anh và quân Pháp, Thái Thường tại cùng 4 vị trên được đi theo cùng trú nạn.
Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Hoàng thái tử Tải Thuần kế vị, đăng cơ làm Đồng Trị Đế. Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), tháng 10, Đồng Trị Đế ra chỉ dụ thăng phong Thái Thường tại làm Hoàng tổ Thái Quý nhân (皇祖蔡貴人). Năm Đồng Trị thứ 13 (1874), tháng 11, tôn Hoàng tổ Quý nhân Thái Giai thị làm Hoàng tổ Hằng tần (皇祖恆嬪).
Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ có tên Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hiệu Hằng có Mãn văn là 「entehengge」[11], có nghĩa là "Vĩnh cửu". Mãn văn của phong hiệu này hoàn toàn nhất trí với phong hiệu “Thường" (常) của Thường phi. Xét về chế độ, tình huống này đáng lẽ nên cố gắng né tránh, tuy nhiên Thường phi giữ ngôi vị Tần và Phi là vào khoảng năm Đạo Quang thứ 30 (1850) đến năm Hàm Phong thứ 10 (1860), còn Hằng tần giữ ngôi vị Tần là từ năm Đồng Trị thứ 13 (1874) đến năm Quang Tự thứ 2 (1876), do đó hai vị “entehengge Tần” chưa từng đồng thời tồn tại.
Năm Quang Tự thứ 2 (1876), ngày 6 tháng 5 (âm lịch), tức ngày 27 tháng 6 (dương lịch), Hằng tần Thái Giai thị hoăng thệ, kim quan tạm đặt ở Tĩnh An Trang. Năm Quang Tự thứ 3 (1877), Nội vụ phủ dâng tấu xin Hoàng đế khâm định huyệt mộ cho Hằng tần. Tùy hậu phụng chỉ Hoàng đế mà rằng " Đồng Quý phi trước tại Lý Quý nhân chi hữu, Hằng tần trước tại Mục Đáp ứng chi hữu" vào Đông lăng, thờ tại Tây Phối điện.[3]