Bước tới nội dung

Hấp thụ văn hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một thanh niên châu Á trong bộ Âu phục lịch sự

Hấp thụ văn hóa (Enculturation) còn được gọi là tiếp thu văn hóa hay hội nhập văn hóa hay tiếp nhận văn hóa là quá trình mà qua đó con người học hỏi các động lực của nền văn hóa xung quanh và tiếp nhận các giá trị cũng như chuẩn mực thích hợp hoặc cần thiết đối với nền văn hóa đó và các thế giới quan của nó.[1][2] Đây là một tiến trình diễn ra liên tục, bắt đầu từ khi cá nhân mới sinh ra cho đến khi trưởng thành, giúp định hình nhân cách và bản sắc của con người trong khung khổ của một nhóm xã hội cụ thể. Thuật ngữ hấp thụ văn hóa (enculturation) lần đầu tiên được sử dụng do nhà xã hội học khoa học Harry Collins để mô tả một trong những mô hình mà theo đó tri thức khoa học được truyền đạt giữa các nhà khoa học với nhau.[3] Hấp thụ văn hóa đôi khi được gọi là tiếp biến văn hóa (Acculturation) trong một số tài liệu học thuật. Tuy nhiên, các tài liệu gần đây hơn đã chỉ ra sự khác biệt về ý nghĩa giữa hai thuật ngữ này. Trong khi hấp thụ văn hóa mô tả quá trình học hỏi nền văn hóa của chính mình, thì tiếp biến văn hóa biểu thị việc học hỏi một nền văn hóa khác biệt, ví dụ như văn hóa của nước sở tại.[4] Thuật ngữ sau có thể liên quan đến các ý tưởng về sốc văn hóa, mô tả một sự mất kết nối gây chấn động về mặt cảm xúc giữa các chỉ dấu văn hóa cũ và mới của một người.[5]

Cơ chế Hấp thụ văn hóa

Một nhóm nam nữ thanh niên Nhật Bản mặc vest vốn là Âu phục

Harry Collins định nghĩa mô hình hấp thụ văn hóa bằng cách đối chiếu với cái mà ông gọi là mô hình thuật toán (algorithmical model):[6] Hấp thụ văn hóa chủ yếu được nghiên cứu trong lĩnh vực Xã hội học và Nhân học.[1][7] Vấn đề được giải quyết trong bài viết[3] của Harry Collins là các thí nghiệm ban đầu nhằm phát hiện Sóng hấp dẫn. Các cấu phần được Collins thảo luận đối với quá trình hấp thụ văn hóa bao gồm:

  • Học tập đắm mình (Learning by Immersion): Các nhà khoa học đầy triển vọng học hỏi bằng cách tham gia vào các hoạt động hàng ngày của phòng thí nghiệm, tương tác với các nhà khoa học khác, tham gia vào các thí nghiệm và thảo luận. Học tập qua tham gia (Participatory learning) khi các cá nhân đảm nhận vai trò tích cực trong việc tương tác với môi trường và văn hóa, thông qua việc tự tham gia vào các hoạt động có ý nghĩa, họ học được các chuẩn mực văn hóa xã hội cho khu vực của mình và có thể tiếp nhận các phẩm chất và giá trị liên quan.[8] Học tập qua quan sát (Observational learning) là khi tri thức được tiếp nhận chủ yếu bằng cách nhận thấy và mô phỏng người khác.[9]
  • Tri thức ẩn (Tacit Knowledge): Nhấn mạnh tầm quan trọng của tri thức ẩn—loại tri thức không dễ dàng được mã hóa hoặc viết ra nhưng được tiếp nhận thông qua kinh nghiệm và thực hành thực tế.
  • Xã hội hóa (Socialization): Nơi các cá nhân học hỏi các chuẩn mực xã hội, giá trị và hành vi được mong đợi trong cộng đồng khoa học. Nhà xã hội học Talcott Parsons đã từng mô tả trẻ em như một loại "người man di", vì về cơ bản chúng chưa có văn hóa.[10] Thông qua tiến trình hấp thụ, những "mầm non" này mới dần được uốn nắn để phù hợp với khuôn mẫu xã hội.
  • Ngôn ngữ và Diễn ngôn (Language and Discourse): Các nhà khoa học phải trở nên thành thạo thuật ngữ, khung lý thuyết và các phương thức lập luận đặc thù cho kỷ luật của họ.
  • Tư cách thành viên cộng đồng (Community Membership): Sự công nhận cá nhân như một thành viên hợp pháp của cộng đồng.

Các ảnh hưởng làm hạn chế, định hướng hoặc định hình cá nhân (dù là cố ý hay không) bao gồm cha mẹ, những người lớn khác và bạn bè đồng trang lứa. Nếu thành công, quá trình hấp thụ văn hóa dẫn đến năng lực về ngôn ngữ, giá trị và các nghi lễ của nền văn hóa đó. Khi lớn lên, mỗi người đều trải qua phiên bản hấp thụ văn hóa của riêng mình. Hấp thụ văn hóa giúp hình thành một cá nhân trở thành một công dân được chấp nhận. Văn hóa tác động đến mọi thứ mà một cá nhân làm, bất kể họ có biết về điều đó hay không. Hấp thụ văn hóa là một quá trình bám rễ sâu giúp gắn kết các cá nhân lại với nhau. Ngay cả khi một nền văn hóa trải qua những thay đổi, các yếu tố như niềm tin cốt lõi, giá trị, quan điểm và các phương thức nuôi dạy trẻ vẫn duy trì sự tương đồng. Hấp thụ văn hóa mở đường cho sự khoan dung, điều vốn rất cần thiết cho sự chung sống hòa bình. Khi các nhóm thiểu số đến Hoa Kỳ, những người này có thể hoàn toàn liên kết với di sản sắc tộc của mình trước khi tham gia vào quá trình hấp thụ văn hóa.[11]

Quá trình hấp thụ văn hóa, thường được thảo luận nhất trong lĩnh vực nhân học, có liên quan chặt chẽ với xã hội hóa, một khái niệm trung tâm trong lĩnh vực xã hội học.[12] Cả hai đều mô tả sơ lược sự thích nghi của một cá nhân vào các nhóm xã hội bằng cách tiếp thu các ý tưởng, niềm tin và thực hành xung quanh họ. Trong một số lĩnh vực, xã hội hóa đề cập đến việc định hình cá nhân một cách có chủ đích. Như vậy, thuật ngữ này có thể bao gồm cả quá trình hấp thụ văn hóa có chủ ý và không chính thức.[1] Quá trình học hỏi và tiếp thu văn hóa không nhất thiết phải mang tính xã hội, trực tiếp hoặc có ý thức. Truyền tải văn hóa có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, mặc dù các phương pháp xã hội phổ biến nhất bao gồm quan sát các cá nhân khác, được giảng dạy hoặc được hướng dẫn. Các cơ chế ít rõ ràng hơn bao gồm việc học hỏi văn hóa của một người từ các phương tiện truyền thông, môi trường thông tin và các công nghệ xã hội khác nhau, điều có thể dẫn đến sự truyền tải và thích nghi văn hóa xuyên suốt các xã hội. Một ví dụ điển hình về điều này là sự lan tỏa của văn hóa hip-hop vào các quốc gia và cộng đồng vượt ra ngoài nguồn gốc Hoa Kỳ.

Xem thêm Hấp thụ văn hóa

Chú thích Hấp thụ văn hóa

  1. 1 2 3 Grusec, Joan E.; Hastings, Paul D. (2007). Handbook of Socialization: Theory and Research. Guilford Press. tr. 547. ISBN 978-1-59385-332-7.
  2. Poole 2003, tr. 831, 833–834.
  3. 1 2 Collins, H. M. (1975). "The Seven Sexes: A Study in the Sociology of a Phenomenon, or the Replication of Experiments in Physics". Sociology. 9 (2): 205–224. doi:10.1177/003803857500900202.
  4. Garine, Igor de (2003) [1994]. "The diet and nutrition of human populations". Trong Ingold, Tim (biên tập). Companion Encyclopedia of Anthropology: Humanity, Culture and Social Life. Routledge. tr. 226–264 (244). ISBN 0-203-19104-8.
  5. Macionis, John; Gerber, Linda, biên tập (2010). "3 - Culture". Sociology (ấn bản thứ 7). Toronto, ON: Pearson Canada Inc. tr. 54.
  6. Collins, H. M. (1985). Changing Order. London: SAGE Publications.
  7. Poole 2003, tr. 833–834.
  8. Hermans, C. A. M. (2003). Participatory learning: religious education in a globalizing society. Brill. tr. 275–278.
  9. Premack, David; Premack, Ann James (2003) [1994]. "Why animals have neither culture nor history". Trong Ingold, Tim (biên tập). Companion Encyclopedia of Anthropology: Humanity, Culture and Social Life. Routledge. tr. 350–365 (352). ISBN 0-203-19104-8.
  10. Soubhi, H. (2013). "Inching Away From the Barbarians". Journal of Research in Interprofessional Practice and Education. 3. doi:10.22230/JRIPE.2013V3N1A140. S2CID 153922481.
  11. Kim, Bryan S. K.; Ahn, Annie J.; Lam, N. Alexandra (2009). "Theories and Research on Acculturation and Enculturation Experiences among Asian American Families". Handbook of Mental Health and Acculturation in Asian American Families. Totowa, NJ: Humana Press. tr. 25–43. doi:10.1007/978-1-60327-437-1_2. ISBN 978-1-60327-436-4.
  12. Poole 2003, tr. 831–833.

Tham khảo Hấp thụ văn hóa

  • Poole, Fitz John Porter (2003) [1994]. "Socialization, Enculturation and the Development of Personal Identity". Trong Ingold, Tim (biên tập). Companion Encyclopedia of Anthropology: Humanity, Culture and Social Life. Routledge. tr. 831–860. ISBN 0-203-19104-8.
  • Trueba, Henry T.; Delgado-Gaitan, Concha, biên tập (1988). School & Society: Learning Content through Culture. New York: Praeger Publishers. tr. 167.

Liên kết ngoài Hấp thụ văn hóa