Bước tới nội dung

Giải vô địch bóng đá Liên Xô

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Liên Xô
Высшая лига

Thành lập22 tháng 5 năm 1936 (với tên gọi Nhóm A)
Hủy bỏ1991
Quốc giaLiên Xô
Liên đoànUEFA
Các hạng đấu1
Số độiThay đổi theo từng năm
Cấp độ trong
hệ thống
Cấp độ 1
Xuống hạng đếnGiải hạng Nhất Liên Xô
Cúp quốc nộiCúp Liên Xô
Siêu cúp Liên Xô (không chính thức)
Cúp liên đoànCúp Liên đoàn Liên Xô
(1940–1990)
Cúp quốc tế
Đội vô địch cuối cùngCSKA Moscow
(1991)
Đội vô địch nhiều nhấtDynamo Kyiv (13)
Thi đấu nhiều nhấtOleg Blokhin (432)
Vua phá lướiOleg Blokhin (211)

Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Liên Xô, sau năm 1970 được gọi là Hạng đấu Cao nhất (tiếng Nga: Чемпионат СССР по футбоlu: Высшая лига, đã Latinh hoá: Vyschaya Liga),[1] đóng vai trò là hạng đấu cao nhất của giải vô địch bóng đá Liên Xô từ năm 1936 đến năm 1991. Qua nhiều năm, tên gọi của giải đấu đã thay đổi nhiều lần. Được thành lập vào năm 1936, hạng đấu này ban đầu được gọi là "Gruppa A" (Nhóm A) và là một trong bốn hạng đấu cấu thành nên giải vô địch bóng đá Liên Xô.

Giải đấu thuộc sở hữu và được quản lý bởi Ủy ban Thể dục Thể thao Toàn liên bang (một cơ quan thuộc Hội đồng các Ủy viên Nhân dân Liên Xô). Đội giành chiến thắng trong cuộc thi được vinh danh với danh hiệu "Nhà vô địch Liên Xô" và được trao biểu ngữ của Ủy ban Toàn liên bang.

Từ khi mới thành lập cho đến khi giải thể, hạng đấu cao nhất vận hành song hành cùng với hạng đấu thứ hai trong hầu hết thời gian, cho phép các đội tham gia trao đổi giữa các hạng đấu thông qua hình thức thăng hạng và xuống hạng. Năm 1963, hạng đấu thứ ba được giới thiệu. Bắt đầu từ năm 1971, tên chính thức đầy đủ là Giải vô địch bóng đá Liên Xô: Hạng đấu Cao nhất. Một nỗ lực nhằm thành lập một giải đấu độc lập dưới hình thức một thực thể kinh doanh hoặc tổ chức quản lý tự trị trong thời kỳ "perestroika" đã bị Liên đoàn bác bỏ do văn hóa chính trị tại Liên Xô lúc bấy giờ.

Mặc dù giải đấu này được coi là chuyên nghiệp, nhưng trên thực tế không có môn thể thao chuyên nghiệp (hoặc thương mại) nào ở nhà nước Cộng sản do quan điểm chính trị đối với vấn đề này. Các đội thi đấu trong giải bao gồm những cầu thủ mà về mặt chính thức trên sổ sách tài chính, được thuê và trả lương bởi các doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước (như SKA hoặc Dynamo) mà đội bóng đó đại diện. Ngoài ra, các cầu thủ từ đội của các cơ quan nhà nước như SKA hay Dynamo đều giữ các cấp bậc như đại úy, trung úy, thiếu tá, v.v. Ngoài ra, việc đặt tên các đội bóng bị kiểm soát chặt chẽ và phải được chính quyền trung ương chấp thuận. Chỉ sau khi Stalin qua đời, các đội mới được phép có tên gọi gắn liền với vị trí địa lý của mình, do quan điểm chính trị của Liên Xô về vấn đề dân tộc. Ngoài ra, về mặt chính thức, các đội đại diện cho cái gọi là các hiệp hội thể thao "tự nguyện" (Các hiệp hội thể thao tự nguyện của Liên Xô).

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với cuộc thi giữa các đội hình chính, cũng có các cuộc thi chính thức dành cho các đội dự bị. Giải đấu này mang tên "Giải đấu của các đội hình hai" (Turnir doublyorov). Các giải đấu của đội dự bị diễn ra song song với các giải đấu của đội hình chính, thường được ấn định vào một ngày trước đó, với các quy tắc xuống hạng hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí trên bảng xếp hạng của đội hình chính tương ứng.

Hạng đấu Cao nhất từng là một trong những giải bóng đá tốt nhất châu Âu, xếp thứ hai trong số các thành viên UEFA vào mùa giải 1988–89. Ba đại diện của giải đã lọt vào trận chung kết của các giải đấu cấp câu lạc bộ châu Âu trong bốn lần: FC Dynamo Kyiv, FC Dinamo Tbilisi, và FC Dynamo Moscow (tất cả đều ở European Cup Winners' Cup - Cúp C2). Giống như cách Nga kế thừa về mặt chính trị đối với Liên Xô, UEFA coi Giải bóng đá Ngoại hạng Nga là giải đấu kế thừa của Giải vô địch quốc gia Liên Xô.[2][3]

Tổng quan

Giới thiệu và phổ biến

Một tấm áp phích bằng tiếng Nga với một số dòng chữ tiếng Tây Ban Nha có hình ảnh một thủ môn đang tạo dáng và đang thi đấu.
Áp phích cho trận đấu giữa Đội tuyển Xứ Basque và Lokomotiv ngày 24 tháng 6 năm 1937

Giải đấu được thành lập theo sáng kiến của người đứng đầu hiệp hội thể thao Spartak, Nikolai Starostin.[4] Starostin đề xuất thành lập tám đội bóng câu lạc bộ chuyên nghiệp tại sáu thành phố của Liên Xô và tổ chức hai giải vô địch mỗi năm dương lịch.[4] Với một vài sửa đổi nhỏ, Hội đồng Thể dục Thể thao Liên Xô đã chấp nhận đề xuất của Starostin, tạo ra một giải đấu gồm các "đội biểu diễn của các bậc thầy" được tài trợ bởi các hiệp hội thể thao và nhà máy.[4] Nikolai Starostin trên thực tế đã trở thành "cha đỡ đầu" của các giải vô địch Liên Xô.[5] Nhiều sự kiện đại chúng đã diễn ra để quảng bá cho giải đấu mới thành lập, trong đó có việc giới thiệu trận đấu bóng đá biểu diễn như một phần của cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao Moscow, và việc mời Đội tuyển bóng đá quốc gia Xứ Basque vốn thuộc phe được Liên Xô ủng hộ trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha cùng những đội khác.

Vào cuối năm 1936, bí thư thứ nhất của Komsomol là Kosarev đã nảy ra ý tưởng tổ chức một trận bóng đá thực sự tại Quảng trường Đỏ như một phần của cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao.[6] Stalin chưa bao giờ tham dự bất kỳ sự kiện thể thao nào, nhưng Ngày Thể dục Thể thao là một ngoại lệ đối với quy tắc này.[6] Cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao năm 1936 được dàn dựng bởi đạo diễn sân khấu người Nga Valentin Pluchek.[6] Đối với trận bóng đá, một tấm thảm nỉ màu xanh khổng lồ đã được các vận động viên Spartak khâu lại và trải xuống lớp đá cuội của Quảng trường Đỏ.[6] Đêm trước cuộc diễu hành, tấm thảm được khâu lại thành từng phần, cuộn lại và sau đó được cất giữ trong sảnh chờ của cửa hàng bách hóa GUM nằm tại quảng trường.[6] Sau trận đấu tại Quảng trường Đỏ năm 1936, nó đã trở thành một truyền thống trước Chiến tranh thế giới thứ hai và là một phần của sự kiện diễu hành Ngày Thể dục Thể thao.[6]

Vào cuối thập niên 1930, Spartak đã phát hàng ngàn vé mỗi trận cho các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolsheviks).[4] Trong số những người hâm mộ bóng đá nhiệt thành có Lavrentiy Beria, người đã đề xuất mỗi cộng hòa liên bang có một đội bóng trong giải đấu.[4] Vào tháng 7 năm 1937, một cuộc xung đột đã nổ ra sau chuyến du đấu thành công của đội tuyển quốc gia Xứ Basque tới Liên Xô, trong đó cơ quan quản lý thể thao chính của đất nước là Hội đồng Thể dục Thể thao Toàn liên bang đã bị Đảng và Komsomol cáo buộc là thất bại trong chính sách thể thao.[4] Ban lãnh đạo Spartak và cá nhân Starostin bị buộc tội tham nhũng và áp dụng các "phương pháp tư sản" trong thể thao Xô Viết.[4]

Các câu lạc bộ nổi bật nhất của giải đấu là FC Dynamo Kyiv, FC Spartak Moscow, và FC Dynamo Moscow. Các câu lạc bộ phổ biến nhất bên cạnh những cái tên kể trên là PFC CSKA Moscow, FC Ararat Yerevan, và FC Dinamo Tbilisi. Dinamo Tbilisi trở nên nổi tiếng vì thường xuyên về đích ở vị trí thứ ba nhưng chưa bao giờ giành chức vô địch cho đến năm 1964.

Phát triển

Cho đến thập niên 1960, các ứng cử viên vô địch chính trong giải là các câu lạc bộ của Moscow như SpartakDynamo, những đội mà sự thống trị của họ chỉ bị gián đoạn trong một thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai bởi CSKA Moscow, được mệnh danh là 'Đội bóng của những trung úy'. Đội bóng đầu tiên giành được 10 chức vô địch là Dynamo Moscow vào năm 1963, tiếp theo là Spartak vào năm 1979.

Mười một câu lạc bộ đã có hơn 30 mùa giải thi đấu tại giải, với năm trong số đó đến từ Moscow. Dynamo Moscow và Dynamo Kyiv là những câu lạc bộ duy nhất tham gia tất cả các mùa giải của giải đấu. Trong số các câu lạc bộ Nga nổi bật khác có SKA Rostov/Donu (đội quân đội), Zenit Leningrad (Zenith), và Krylia Sovietov Kuibyshev (Cánh chim Xô Viết).

Qua nhiều năm, giải đấu đã có sự thay đổi; tuy nhiên, từ thập niên 1970, cấu trúc thi đấu của giải đã ổn định với 16 đội tham dự, ngoại trừ giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1985 khi số lượng đội được mở rộng lên 18.

Một đổi mới độc đáo của Liên Xô vào khoảng thời gian này là "giới hạn tỷ số hòa", theo đó một đội sẽ không nhận được điểm nào cho bất kỳ trận hòa nào vượt quá một con số cố định, ban đầu là 8, sau đó là 10 trận. Quy tắc này đã gây ra những hệ quả cho cả cuộc đua vô địch và cuộc chiến trụ hạng trong thời gian nó được áp dụng. Một thử nghiệm năm 1973 nhằm giải quyết các trận hòa bằng loạt sút luân lưu chỉ kéo dài trong một mùa giải.

Thành công của Dynamo Kyiv với tư cách là một câu lạc bộ Ukraine đã được bổ sung vào thập niên 1980 với sự xuất hiện của Dnipro Dnipropetrovsk dưới sự dẫn dắt của tiền đạo Oleh Protasov, người đã lập kỷ lục mới về số bàn thắng ghi được trong một mùa giải. Năm 1984, Zenit Leningrad lần đầu tiên trở thành nhà vô địch Liên Xô.

Với sự tan rã của Liên Xô vào cuối thập niên 1980, cấu trúc của giải đấu cũng trở nên bất ổn khi ngày càng có nhiều câu lạc bộ mất đi sự quan tâm đến việc tiếp tục tham gia giải đấu, dẫn đến nhiều vòng tái tổ chức. Hiệu ứng chính của việc này là thúc đẩy số lượng các câu lạc bộ Ukraine ngang bằng với các câu lạc bộ Nga.

Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, đã có những đề xuất tái lập giải đấu theo mô hình của Cúp các quốc gia cộng đồng độc lập, nhưng do thiếu sự quan tâm ở nhiều cấp độ khác nhau, dự án này chưa bao giờ được thực hiện.

Các đội tham dự

Dân số phân bố không đều của Liên Xô có nghĩa là các đội tham dự trong một mùa giải thông thường của Hạng đấu Cao nhất được chia thành ba khối. Điều này đặc biệt rõ ràng ở các hạng đấu thấp hơn của Giải vô địch bóng đá Liên Xô, chẳng hạn như hạng đấu thứ ba (Vtoraya Liga), nhưng vẫn duy trì ở hạng đấu cao nhất/hạng nhất với mức độ minh bạch thấp hơn.

  • Các câu lạc bộ Nga. Bóng đá Nga bị thống trị bởi "cỗ xe bốn bánh" của các câu lạc bộ Moscow: Spartak (Komsomol), Dynamo (cảnh sát), CSKA (quân đội) và Torpedo (công nhân ô tô). Bốn đội này thường có thêm sự góp mặt tại Hạng đấu Cao nhất của Lokomotiv (công nhân đường sắt), Zenit Leningrad (công nhân công nghiệp quốc phòng), hoặc các câu lạc bộ hỗn hợp từ các thành phố nhỏ hơn. Lưu ý rằng mặc dù về mặt chính thức Hiệp hội thể thao Lokomotiv đại diện cho "công nhân đường sắt", Liên Xô cũng có một số lượng khổng lồ các binh chủng đường sắt, không giống như bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Ngoài ra, "khối các câu lạc bộ Nga" còn bị phân mảnh sâu sắc thành ba khối phụ có điều kiện riêng biệt, bao gồm các câu lạc bộ Muscovite, các câu lạc bộ Leningrad và các câu lạc bộ RSFSR (hoặc các câu lạc bộ khác). Tại Spartakiad các dân tộc Liên Xô, Nga Xô viết luôn được đại diện bởi ba đội với các đội Muscovite và Leningrad tham gia cùng với đội "chính", mặc dù đội chính (hoặc đội một) luôn là đội Muscovite.
  • Các câu lạc bộ Ukraine. Ngược lại, thủ đô của Ukraine là Kyiv lại là "vương quốc" riêng của Dynamo Kyiv, đội đã trở thành nguồn cung cấp cầu thủ không chính thức cho đội tuyển quốc gia Liên Xô bắt đầu từ thập niên 1960, thay thế cho Dynamo Moscow. Một vài câu lạc bộ đã cạnh tranh để trở thành đội bóng "thứ hai" của Ukraine trong nhiều năm bao gồm Shakhtar Donetsk (thợ mỏ than), Metalist Kharkiv (công nhân công nghiệp quốc phòng - Dzerzhinets (giáp trụ)), Chernomorets Odesa (công nhân hạm đội thương thuyền), Zorya Voroshilovgrad (nay là Zorya Luhansk, công nhân công nghiệp quốc phòng - Dzerzhinets (giáp trụ)) và Dnipro Dnipropetrovsk (công nhân công nghiệp quốc phòng - Zenit (phòng không)), hai đội cuối cùng đã giành được tổng cộng ba chức vô địch. Nhiều câu lạc bộ Ukraine cũng gắn liền với hiệp hội thể thao Dynamo của Liên Xô. Các nhà quản lý bóng đá Liên Xô đã cố gắng kiềm chế hoặc cân bằng các câu lạc bộ Ukraine với các câu lạc bộ khác từ các "cộng hòa liên bang", tuy nhiên vẫn luôn tồn tại một cuộc cạnh tranh "riêng biệt" (hoặc duy nhất) giữa các câu lạc bộ Ukraine trong số các "đội bóng của những bậc thầy" (một cách nói giảm nói tránh của Liên Xô cho các đội chuyên nghiệp).
  • Các câu lạc bộ từ các nước cộng hòa khác. Tầm nhìn của Lavrentiy Beria về việc mỗi nước cộng hòa có một câu lạc bộ đại diện đã được thực hiện một phần từ thập niên 1950 trở đi, vì ở mọi nước cộng hòa ngoại trừ Nga và Ukraine, sự quan tâm của người hâm mộ và sự hỗ trợ của chính phủ đã tập trung vào một câu lạc bộ duy nhất có trụ sở tại thủ đô của nước cộng hòa đó, nơi trở thành "đội bóng của nước cộng hòa". Hầu hết các câu lạc bộ đó được thành lập dưới tên Spartak hoặc Dynamo, được hỗ trợ bởi ủy ban đảng địa phương (Spartak) hoặc văn phòng KGB địa phương (Dynamo). Do đó, Litva được đại diện bởi Zalgiris Vilnius, Latvia bởi Daugava Riga, Estonia bởi Kalev Tallinn, Byelorussia bởi Dinamo Minsk, Moldavia bởi Nistru Kishinev, Armenia bởi Ararat Yerevan, Azerbaijan bởi Neftchi Baku, Gruzia bởi Dinamo Tbilisi, Kazakhstan bởi Kairat Alma-Ata, Uzbekistan bởi Pakhtakor Tashkent và Tajikistan bởi Pamir Dushanbe. Một mùa giải thông thường của Hạng đấu Cao nhất sẽ có 4-6 đội trong số mười một đội này, và Yerevan, Minsk và Tbilisi đều đã giành được chức vô địch ít nhất một lần. Chỉ có Gruzia, với Torpedo Kutaisi và sau đó là Guria Lanchkhuti, và Azerbaijan, với Dinamo Kirovabad, là từng có thể có đại diện thứ hai trụ lại tại Hạng đấu Cao nhất bên cạnh câu lạc bộ của thành phố thủ đô. (Turkmenistan và Kirghizia được đại diện trong kim tự tháp bóng đá Liên Xô lần lượt bởi Köpetdag Aşgabat và Alga Frunze, nhưng cả hai đều không vươn tới được cấp độ cao nhất.)

Tư liệu

Tư liệu về giải đấu này rất khan hiếm. Trong số những nhà nghiên cứu nổi tiếng có Aksel Vartanyan của tờ Sport Express, Andrei Moroz và Georgiy Ibragimov của KLISF Club, Alexandru G.Paloşanu, Eugene Berkovich, Mike Dryomin, Almantas Lauzadis, và Hans Schöggl của RSSSF Archives. Một cơ sở dữ liệu phong phú khác được tổng hợp tại helmsoccer.narod.ruTrang web của FC Dynamo Moscow.

Tên gọi

Kể từ khi thành lập, tên gọi của Hạng đấu Cao nhất Liên Xô đã thay đổi một vài lần:

1936 – 1941 Nhóm A (Группа А)

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, giải vô địch được chia thành nhiều nhóm thường gồm tám đội và được đặt tên theo các chữ cái trong bảng chữ cái Cyrillic.

1945 – 1949 Nhóm Thứ nhất của Liên Xô (Первая группа СССР)

Sau khi tái lập giải đấu sau chiến tranh, trong vài năm giải được đánh số thứ tự với hạng đấu cao nhất là Nhóm Thứ nhất.

1950 – 1962 Hạng "A" của Liên Xô (Класс "А" СССР)

Từ năm 1950, việc phân loại theo bảng chữ cái trong hệ thống phân cấp giải đấu Liên Xô đã được nối lại. Từ năm 1960 đến năm 1962, giải đấu bao gồm hai nhóm với các câu lạc bộ mạnh hơn lọt vào vòng tranh chức vô địch và các câu lạc bộ kém may mắn hơn vào vòng tranh trụ hạng.

1963 – 1969 Nhóm "A" Thứ nhất của Liên Xô (Первая группа "А" СССР)

Đại diện tại châu Âu

Lần đầu tiên Giải bóng đá Liên Xô được đại diện tại châu Âu là trong Cúp C2 châu Âu mùa giải 1965–66 bởi Dynamo Kyiv. Trong năm đầu tiên, câu lạc bộ đã lọt vào trận tứ kết, loại bỏ trên đường đi của mình Coleraine và Rosenborg và thắng cả bốn trận trước các câu lạc bộ này. Đội bóng Ukraine cũng đã loại nhà đương kim vô địch Celtic ở vòng đầu tiên trong giải Cúp C1 mùa giải 1967–68. Vào mùa giải 1968–69, các câu lạc bộ Liên Xô đã rút khỏi các cuộc thi cấp châu lục sau khi Liên Xô tấn công Tiệp Khắc. Vào năm 1972 đã đánh dấu thành công đầu tiên của bóng đá câu lạc bộ Liên Xô khi Dynamo Moscow lọt vào trận chung kết, nhưng đã bị đánh bại bởi Glasgow Rangers tại Camp NouBarcelona.

Từ năm 1974 (ngoại trừ mùa giải 1982–83) đến năm 1984, giải đấu nằm trong số 10 giải quốc nội tốt nhất theo bảng xếp hạng UEFA (dựa trên thành tích tại các giải châu lục), đạt vị trí thứ 4 vào năm 1976 và 1977. Từ năm 1985, Hạng đấu Cao nhất Liên Xô nằm trong số bốn giải tốt nhất ở châu Âu, cho đến khi Liên Xô tan rã vào năm 1991.

Vào năm 1987 và 1988, Hạng đấu Cao nhất Liên Xô là giải đấu mạnh thứ hai ở châu Âu; tuy nhiên, sát thời điểm Liên Xô tan rã, kết quả của các câu lạc bộ bóng đá mà nó đại diện đã trở nên tồi tệ hơn do những cầu thủ hàng đầu giờ đây có thể rời đi để thi đấu cho các giải đấu nước ngoài ở phương Tây. Vị trí hệ số cuối cùng mà Giải đấu Liên Xô đạt được là thứ 9 vào năm 1992. Trong mùa giải 1992/93, tất cả kết quả của Giải đấu Liên Xô đã được chuyển giao cho Giải bóng đá Ngoại hạng Nga. Trong suốt lịch sử của mình, các đại diện của giải đấu đã có bốn lần lọt vào trận chung kết của ba giải đấu chính ở châu Âu và giành chiến thắng trong ba lần. Một lần, một câu lạc bộ Liên Xô đã giành được Siêu cúp châu Âu.

Giải vô địch bóng đá giữa các đội tuyển thành phố (1923–1935)

Trước khi thành lập các giải đấu chuyên nghiệp giữa các câu lạc bộ, ở Liên Xô đã tồn tại một cuộc thi khác được tổ chức giữa các đội tuyển tập thể của các thành phố hoặc các nước cộng hòa khác nhau. Vào năm 1923 và 1924, các cuộc thi là một phần của Lễ hội Thể dục Thể thao Toàn liên bang. Năm 1928 và 1931, các cuộc thi là một phần của vòng loại Toàn liên bang cho "Spartakiad Công nhân" do Quốc tế Thể thao Đỏ tổ chức. Năm 1935, các cuộc thi được tổ chức ở hai hạng đấu.

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1923MoscowSouthern Railways (Kharkiv)Kolomna / Irkutsk
1924KharkivPetrogradTranscaucasian SFSR
không tổ chức trong giai đoạn 1925–27
1928MoscowCộng hòa XHCN Xô viết UkraineCộng hòa XHCN Xô viết Belarus
không tổ chức trong giai đoạn 1929–30
1931Nga Xô viếtTranscaucasian SFSRCộng hòa XHCN Xô viết Ukraine
1932MoscowLeningradKharkiv / DonbassVasily Smirnov
(Moscow, 4 bàn)
không tổ chức trong giai đoạn 1933–34
1935MoscowLeningradKharkivMikhail Yakushin
(Moscow, 6 bàn)

Các nhà vô địch và vua phá lưới

In đậm trong cột "Vô địch" biểu thị rằng câu lạc bộ đó cũng giành được Cúp Liên Xô trong cùng mùa giải. Văn bản in nghiêng trong bảng cho biết các nhà vô địch cúp khác lọt vào top 3 Liên Xô.

Nhóm A

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1936 (mùa xuân)Dynamo MoscowDynamo KyivSpartak MoscowMikhail Semichastny
(Dynamo Moscow, 6 bàn)
1936 (mùa thu)Spartak MoscowDynamo MoscowDinamo TbilisiGeorgy Glazkov
(Spartak Moscow, 7 bàn)
1937Dynamo Moscow (2)Spartak MoscowDynamo KyivBoris Paichadze
(Dinamo Tbilisi, 8 bàn)
Leonid Rumyantsev
(Spartak Moscow, 8 bàn)
Vasily Smirnov
(Dynamo Moscow, 8 bàn)
1938Spartak Moscow (2)CSKA MoscowMetallurg MoscowMakar Honcharenko
(Dinamo Kyiv, 19 bàn)
1939Spartak Moscow (3)Dinamo TbilisiCSKA MoscowGrigory Fedotov
(CSKA Moscow, 21 bàn)
1940Dynamo Moscow (3)Dinamo TbilisiSpartak MoscowGrigory Fedotov
(CSKA Moscow, 21 bàn)
Sergei Solovyov
(Dynamo Moscow, 21 bàn)
1941Bị hủy vào ngày 24 tháng 6 do Chiến tranh thế giới thứ hai (Dynamo Moscow đang có thành tích tốt nhất lúc đó)
1942–44Bị hủy do Chiến tranh thế giới thứ hai
Thành tích theo câu lạc bộ
Câu lạc bộVô địchÁ quânHạng 3Năm vô địch
Spartak Moscow3121936t, 1938, 1939
Dynamo Moscow311936x, 1937, 1940
Dinamo Tbilisi21
CSKA Moscow11
Dynamo Kyiv11
Metallurg Moscow1

Nhóm thứ nhất

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1945Dynamo Moscow (4)CSKA MoscowTorpedo MoscowVsevolod Bobrov
(CSKA Moscow, 24 bàn)
1946CSKA MoscowDynamo MoscowDinamo TbilisiAleksandr Ponomaryov
(Torpedo Moscow, 18 bàn)
1947CSKA Moscow (2)Dynamo MoscowDinamo TbilisiVsevolod Bobrov
(CSKA Moscow, 14 bàn)
Valentin Nikolayev
(CSKA Moscow, 14 bàn)
Sergei Solovyov
(Dynamo Moscow, 14 bàn)
1948CSKA Moscow (3)Dynamo MoscowSpartak MoscowSergei Solovyov
(Dynamo Moscow, 25 bàn)
1949Dynamo Moscow (5)CSKA MoscowSpartak MoscowNikita Simonyan
(Spartak Moscow, 26 bàn)
Thành tích theo câu lạc bộ
Câu lạc bộVô địchÁ quânHạng 3Năm vô địch
CSKA Moscow321946, 1947, 1948
Dynamo Moscow231945, 1949
Dinamo Tbilisi2
Spartak Moscow2
Torpedo Moscow1

Hạng A

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1950CSKA Moscow (4)Dynamo MoscowDinamo TbilisiNikita Simonyan
(Spartak Moscow, 34 bàn)
1951CSKA Moscow (5)Dinamo TbilisiShakhtar StalinoAvtandil Gogoberidze
(Dinamo Tbilisi, 16 bàn)
1952Spartak Moscow (4)Dynamo KyivDynamo MoscowAndrey Zazroyev
(Dynamo Kyiv, 11 bàn)
1953Spartak Moscow (5)Dinamo TbilisiTorpedo MoscowNikita Simonyan
(Spartak Moscow, 14 bàn)
1954Dynamo Moscow (6)Spartak MoscowSpartak MinskAnatoli Ilyin
(Spartak Moscow, 11 bàn)
Vladimir Ilyin
(Dynamo Moscow, 11 bàn)
Antonin Sochnev
(Trudovye Reservy Leningrad, 11 bàn)
1955Dynamo Moscow (7)Spartak MoscowCSKA MoscowEduard Streltsov
(Torpedo Moscow, 15 bàn)
1956Spartak Moscow (6)Dynamo MoscowCSKA MoscowVasily Buzunov
(ODO Sverdlovsk, 17 bàn)
1957Dynamo Moscow (8)Torpedo MoscowSpartak MoscowVasily Buzunov
(CSKA Moscow, 16 bàn)
1958Spartak Moscow (7)Dynamo MoscowCSKA MoscowAnatoli Ilyin
(Spartak Moscow, 19 bàn)
1959Dynamo Moscow (9)Lokomotiv MoscowDinamo TbilisiZaur Kaloyev
(Dinamo Tbilisi, 16 bàn)
1960Torpedo MoscowDynamo KyivDynamo MoscowZaur Kaloyev
(Dinamo Tbilisi, 20 bàn)
Gennady Gusarov
(Torpedo Moscow, 20 bàn)
1961Dynamo KyivTorpedo MoscowSpartak MoscowGennady Gusarov
(Torpedo Moscow, 22 bàn)
1962Spartak Moscow (8)Dynamo MoscowDinamo TbilisiMikhail Mustygin
(Belarus Minsk, 17 bàn)
Thành tích theo câu lạc bộ
Câu lạc bộVô địchÁ quânHạng 3Năm vô địch
Spartak Moscow5221952, 1953, 1956, 1958, 1962
Dynamo Moscow4421954, 1955, 1957, 1959
CSKA Moscow231950, 1951
Torpedo Moscow1211960
Dynamo Kyiv121961
Dinamo Tbilisi23
Lokomotiv Moscow1
Shakhtar Stalino1
Spartak Minsk1

Hạng A (Nhóm 1)

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1963Dynamo Moscow (10)Spartak MoscowDinamo MinskOleg Kopayev
(SKA Rostov-on-Don, 27 bàn)
1964Dinamo TbilisiTorpedo MoscowCSKA MoscowVladimir Fedotov
(CSKA Moscow, 16 bàn)
1965Torpedo Moscow (2)Dynamo KyivCSKA MoscowOleg Kopayev
(SKA Rostov-on-Don, 18 bàn)
1966Dynamo Kyiv (2)SKA Rostov-on-DonNeftyanik BakuIlya Datunashvili
(Dinamo Tbilisi, 20 bàn)
1967Dynamo Kyiv (3)Dynamo MoscowDinamo TbilisiMikhail Mustygin
(Dinamo Minsk, 19 bàn)
1968Dynamo Kyiv (4)Spartak MoscowTorpedo MoscowGeorgi Gavasheli
(Dinamo Tbilisi, 22 bàn)
Berador Abduraimov
(Pakhtakor Tashkent, 22 bàn)
1969Spartak Moscow (9)Dynamo KyivDinamo TbilisiNikolai Osyanin
(Spartak Moscow, 16 bàn)
Vladimir Proskurin
(SKA Rostov-on-Don, 16 bàn)
Dzhemal Kherhadze
(Torpedo Kutaisi, 16 bàn)

Hạng A (Nhóm Cao nhất)

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1970CSKA Moscow (6)Dynamo MoscowSpartak MoscowGivi Nodia
(Dinamo Tbilisi, 17 bàn)

Hạng đấu Cao nhất

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1971Dynamo Kyiv (5)Ararat YerevanDinamo TbilisiEduard Malofeyev
(Dinamo Minsk, 16 bàn)
1972Zorya VoroshilovgradDynamo KyivDinamo TbilisiOleg Blokhin
(Dynamo Kyiv, 14 bàn)
1973Ararat YerevanDynamo KyivDynamo MoscowOleg Blokhin
(Dynamo Kyiv, 18 bàn)
1974Dynamo Kyiv (6)Spartak MoscowChornomorets OdesaOleg Blokhin
(Dynamo Kyiv, 20 bàn)
1975Dynamo Kyiv (7)Shakhtar DonetskDynamo MoscowOleg Blokhin
(Dynamo Kyiv, 18 bàn)
1976 (mùa xuân)Dynamo Moscow (11)Ararat YerevanDinamo TbilisiArkady Andreasyan
(Ararat Yerevan, 8 bàn)
1976 (mùa thu)Torpedo Moscow (3)Dynamo KyivDinamo TbilisiAleksandr Markin
(Zenit Leningrad, 13 bàn)
1977Dynamo Kyiv (8)Dinamo TbilisiTorpedo MoscowOleg Blokhin
(Dynamo Kyiv, 17 bàn)
1978Dinamo Tbilisi (2)Dynamo KyivShakhtar DonetskGeorgi Yartsev
(Spartak Moscow, 19 bàn)
1979Spartak Moscow (10)Shakhtar DonetskDynamo KyivVitali Starukhin
(Shakhtar Donetsk, 26 bàn)
1980Dynamo Kyiv (9)Spartak MoscowZenit LeningradSergey Andreyev
(SKA Rostov-on-Don, 20 bàn)
1981Dynamo Kyiv (10)Spartak MoscowDinamo TbilisiRamaz Shengelia
(Dinamo Tbilisi, 23 bàn)
1982Dinamo MinskDynamo KyivSpartak MoscowAndrei Yakubik
(Pakhtakor Tashkent, 23 bàn)
1983Dnipro DnipropetrovskSpartak MoscowDinamo MinskYuri Gavrilov
(Spartak Moscow, 18 bàn)
1984Zenit LeningradSpartak MoscowDnipro DnipropetrovskSergey Andreyev
(SKA Rostov-on-Don, 20 bàn)
1985Dynamo Kyiv (11)Spartak MoscowDnipro DnipropetrovskOleg Protasov
(Dnipro Dnipropetrovsk, 35 bàn)
1986Dynamo Kyiv (12)Dynamo MoscowSpartak MoscowAleksandr Borodyuk
(Dynamo Moscow, 21 bàn)
1987Spartak Moscow (11)Dnipro DnipropetrovskŽalgiris VilniusOleg Protasov
(Dnipro Dnipropetrovsk, 18 bàn)
1988Dnipro Dnipropetrovsk (2)Dynamo KyivTorpedo MoscowYevhen Shakhov
(Dnipro Dnipropetrovsk, 16 bàn)
Aleksandr Borodyuk
(Dynamo Moscow, 16 bàn)
1989Spartak Moscow (12)Dnipro DnipropetrovskDynamo KyivSergey Rodionov
(Spartak Moscow, 16 bàn)
1990Dynamo Kyiv (13)CSKA MoscowDynamo MoscowOleg Protasov
(Dynamo Kyiv, 12 bàn)
Valery Shmarov
(Spartak Moscow, 12 bàn)
1991CSKA Moscow (7)Spartak MoscowTorpedo MoscowIgor Kolyvanov
(Dynamo Moscow, 18 bàn)

Thống kê tổng thể

Thành tích theo đội hình chính câu lạc bộ

Câu lạc bộVô địchÁ quânHạng 3Năm vô địch
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina Dynamo Kyiv131131961, 1966, 1967, 1968, 1971, 1974, 1975, 1977, 1980, 1981, 1985, 1986, 1990
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Spartak Moscow121291936 (m.thu), 1938, 1939, 1952, 1953, 1956, 1958, 1962, 1969, 1979, 1987, 1989
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Dynamo Moscow111151936 (m.xuân), 1937, 1940, 1945, 1949, 1954, 1955, 1957, 1959, 1963, 1976 (m.xuân)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga CSKA Moscow7461946, 1947, 1948, 1950, 1951, 1970, 1991
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Torpedo Moscow3361960, 1965, 1976 (m.thu)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia Dinamo Tbilisi25131964, 1978
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina Dnipro Dnipropetrovsk2221983, 1988
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia Ararat Yerevan121973
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia Dinamo Minsk131982
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Zenit Leningrad111984
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina Zorya Voroshilovgrad11972
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina Shakhtar Donetsk22
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Lokomotiv Moscow1
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga SKA Rostov-on-Don1
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Serp i Molot Moscow1
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan Neftchi Baku1
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina Chornomorets Odesa1
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva Žalgiris Vilnius1
Tổng cộng545454

Thành tích theo nước cộng hòa

Nước cộng hòaVô địchÁ quânHạng 3Số lần tham dựSố lượng
câu lạc bộ đại diện
Các câu lạc bộ vô địch
 Russian SFSR34322841631Spartak Moscow (12)
Dynamo Moscow (11)
CSKA Moscow (7)
Torpedo Moscow (3)
Zenit Leningrad (1)
 Ukrainian SSR1615819115Dynamo Kyiv (13)
Dnipro Dnipropetrovsk (2)
Zorya Voroshilovgrad (1)
 Georgian SSR2513685Dinamo Tbilisi (2)
 Armenian SSR12331Ararat Yerevan (1)
 Byelorussian SSR13391Dinamo Minsk (1)
 Azerbaijan SSR1293
 Lithuanian SSR1111
 Kazakh SSR241
 Uzbek SSR221
 Moldavian SSR71
 Latvian SSR71
 Tajik SSR31
 Estonian SSR21
Tổng cộng545454

Các nước cộng hòa chưa bao giờ có đại diện thi đấu ở cấp độ cao nhất là Turkmen SSR và Kyrgyz SSR. Ngoài ra, trong bóng đá Liên Xô, các đội Nga Xô viết về mặt kỹ thuật được đại diện bởi ba thực thể khác nhau với Moscow và Leningrad là các thành phố liên bang được coi riêng biệt với phần còn lại của các đội Nga.

Bảng xếp hạng mọi thời đại

ĐộiCộng hòaSố mùaMùa đầuMùa cuốiSố trậnThắngHòaThuaBàn thắngBàn thuaĐiểm1Hạng 1Hạng 2Hạng 3
Spartak MoscowNga5319361991145372238534624831467182112129
Dynamo KyivUkraine5419361991148368145634623061566181013113
Dinamo MoscowNga5419361991148570740437424351457180511115
Dinamo TbilisiGruzia511936198914246214063972176167716422513
Torpedo MoscowNga51193819911455601433421205916561613336
CSKA Moscow[7]Nga48193619911326585363378203014511524746
Zenit Leningrad[8]Nga491938198914024644115271725191413281-1
Shakhter Donetsk[9]Ukraine44193819911288434379475152216411241-22
Dinamo Minsk (Spartak Minsk)Belarus33194519911053342319392116212979891-3
Ararat Yerevan[10]Armenia331949199110263522803941150130697212-
Lokomotiv MoscowNga3819361991100130328940912181431888-1-
Neftchi Baku[11]Azerbaijan27194919888842532703619071141771--1
Chernomorets OdesaUkraine2419651991738244217277777884699--1
Kairat AlmataKazakhstan2419601988780226234320742983678---
Pakhtakor TashkentUzbekistan22196019917222122112998051035629---
SKA Rostov-on-Don[12]Nga2119591985680218194268843911620-1-
Dnipro DnipropetrovskUkraine1919721991554227154173729634604222
Krylya Sovetov Kuybyshev[13]Nga2619461979715185209321675996579---
Metallist Kharkiv[14]Ukraine1419601991438133124181413530390---
Zorya VoroshilovgradUkraine14196719794121251351524164693771--
Dynamo LeningradNga1719361963397135102160589649372---
Torpedo KutaisiGruzia1319621986439104129206395655335---
Žalgiris Vilnius[15]Litva111953198933010793130349463305--1
Rotor Volgograd[16]Nga11193819902939166136352488248---
Nistru Chişinău[17]Moldova11195619833126984159312534222---
Karpaty LvivUkraine919711980244688591250301218---
VVS MoscowNga619471952161583271235270148---
Daugava RigaLatvia7194919622035148104198311150---
Krylya Sovetov MoscowNga619381948143323972145259103---
Metallurg MoscowNga4193719409140173417317097--1
Lokomotiv KharkivUkraine4194919543423574711217691---
Kuban KrasnodarNga31980198210229264711114584---
Admiralteyets LeningradNga3195819618426174112214969---
Pamir DushanbeTajikistan319891991842127367410469---
Elektrik Leningrad[18]Nga5193619398022184011216362---
Fakel Voronezh[19]Nga21961198566201729638357---
Trudovye Rezervy LeningradNga319541956681623298211355---
Volga Gorky[20]Nga319511964851427445814355---
Spartak TbilisiGruzia219501951642111328210953---
Spartak VladikavkazNga21970199162161630648948---
Dinamo OdesaUkraine219381939511613226410245---
SKA OdesaUkraine21965196668419453812127---
Metallurg ZaporizhyaUkraine119911991309714273825---
VMS MoscowNga119511951287912305023---
Tavriya SimferopolUkraine119811981348719275423---
Selmash KharkivUkraine119381938258611344522---
Uralmash SverdlovskNga119691969347819193922---
Stalinets MoscowNga119381938258512364421---
Lokomotyv KyivUkraine119381938258512436421---
Shinnik YaroslavlNga119641964326917204821---
Dynamo Rostov-on-DonNga119381938257612394320---
Temp BakuAzerbaijan119381938256811334020---
Spartak LeningradNga119381938256811303920---
Kalev TallinnEstonia21960196158314414614620---
Dynamo KirovabadAzerbaijan119681968385924255919---
Guria LanchkhutiGruzia119871987305817183818---
Spartak KharkivUkraine119381938255713436317---
Zenit (Bolshevik) LeningradNga119381938257315355717---
ODO SverdlovskNga119561956226412314516---
Pishchevik MoscowNga119381938255614255316---
Lokomotivi TbilisiGruzia119381938255515446215---
Đội tuyển thành phố KalininNga11952195213544191914---
Burevestnik MoscowNga119381938254417288712---

1Hai điểm cho một trận thắng. Năm 1973, một điểm cho một trận hòa chỉ được trao cho đội thắng trong loạt sút luân lưu sau đó. Trong giai đoạn 1978–1988, số lượng trận hòa được tính điểm bị giới hạn.

Các huấn luyện viên tốt nhất

HạngTênHuy chươngCác câu lạc bộ vô địch
VàngBạcĐồng
1Valeriy Lobanovsky742Dynamo Kyiv
2Mikhail Yakushin661Dynamo Moscow
3Boris Arkadiev622CSKA Moscow (5), Dynamo Moscow (1)
4Viktor Maslov44-Dynamo Kyiv (3), Torpedo Moscow (1)
5Nikita Simonyan322Spartak Moscow (2), Ararat Yerevan (1)
6Konstantin Beskov272Spartak Moscow
7Aleksandr Sevidov222Dynamo Kyiv (1), Dynamo Moscow (1)
8-9Nikolay Gulyayev221Spartak Moscow
Konstantin Kvashnin221Spartak Moscow (1), Dynamo Moscow (1)
10-11Vasily Sokolov21-Spartak Moscow
Pavel Sadyrin21-Zenit Leningrad (1), CSKA Moscow (1)

Ghi chú:

  • Các câu lạc bộ hiển thị là những đội mà các huấn luyện viên liệt kê đã lọt vào top 3, ví dụ: Beskov đã giành được hai chức vô địch Top league và đều với Spartak, nhưng ông cũng dẫn dắt Dynamo đội mà ông đã giành ngôi á quân giải đấu.

Các giải thưởng và giải thưởng

Bắt đầu từ năm 1958, bên cạnh các huy chương của giải vô địch Liên Xô thông thường, những người tham gia còn được trao một số giải thưởng (~ 18 giải thưởng thường xuyên) được thành lập bởi các tổ chức thể thao và công chúng khác nhau, các tòa soạn báo và tạp chí.

  một giải thưởng có tên khác và do người khác tạo ra
  một giải thưởng đã bị thay thế bởi một giải thưởng khác
  các giải thưởng tồn tại ngắn ngủi, dưới 5 mùa giải
Giải thưởngNgười sáng lậpNăm
Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất nămTuần báo "Futbol"1964—1991
Thủ môn xuất sắc nhất nămTạp chí "Ogonyok"1960—1991
Vua phá lưới xuất sắc nhấtBáo "Trud"1958—1991
Hiệp sĩ tấn côngTạp chí "Sovetskiy voin"1984—1991
Lòng trung thành với câu lạc bộBáo Kyiv "Prapor kommunizma"1986—1989
Tân binh xuất sắc nhất mùa giảiTạp chí "Smena"1964—1975
Người mới xuất sắc nhấtTạp chí "Sportivnye igry"1986—1991
Dành cho người kiến tạo tấn công"Stroitelnaya gazeta"1988—1989
Với cả hai đội hìnhLiên đoàn bóng đá (Phân ban) của Liên Xô1958—1991
Giải thưởng kỷ niệm Grigoriy FedotovCSKA1958—1991
Vì lối chơi đẹpBáo "Sovetskiy sport"1958—1969
Lối chơi đẹp (Fair Play)Tạp chí "Chelovek i zakon"1974—1991
Tỷ số lớnTuần báo "Futbol"1961—1991
Vì ý chí chiến thắngBáo "Sovetskaya Rossiya"1962—1991
Vì hiệu số bàn thắng bại tốt nhấtTạp chí Ukraine "Start"1966—1991
Vị khách thách thứcBáo Kyiv "Komsomolskoye znamya"1966—1991
Nỗi kinh hoàng của các đại gia[a]Tuần báo "Sportivnaya Moskva"1976—1991
Danh dự cho lá cờBáo Alma-Ata "Leninskaya smena"1969—1978
Cúp của sự tiến bộBáo Kyiv "Rabochaya gazeta"1971—1991
Cùng với một đội bóngĐoàn chủ tịch Liên đoàn bóng đá của các hiệp hội thể thao công đoàn1978—1990
Đỉnh cao đầu tiênBáo "Sotsialisticheskaya industriya"1983—1991
Vì sự cao thượng và dũng cảmTạp chí Leningrad "Avrora"1987—1989
Vì bàn thắng đẹp nhất mùa giảiBáo "Moskovskiy komsomolets"
chương trình truyền hình "Futbolnoye obozreniye"
1964—1991

Giải vô địch bóng đá Liên Xô dành cho đội dự bị

Mùa giảiVô địchÁ quânHạng 3Vua phá lưới
1945Dinamo Moscow (1)??
1946Spartak Moscow (1)Dinamo TbilisiDinamo Moscow
1947CSKA Moscow (1)Dinamo MoscowDinamo Kyiv
1948CSKA Moscow (2)Spartak MoscowVVS Moscow
1949Dinamo Kyiv (1)CSKA MoscowSpartak Moscow
1950CDKA Moscow (3)VVS MoscowSpartak Moscow
1951CDKA Moscow (4)Dinamo MoscowVVS Moscow
1952Dinamo Moscow (2)Dinamo KyivKrylia Sovetov Kuibyshev
1953Spartak Moscow (2)Lokomotiv MoscowDinamo Kyiv
1954Spartak Moscow (3)CDSA MoscowLokomotiv Moscow
1955Spartak Moscow (4)Dinamo TbilisiCDSA Moscow
1956Spartak Moscow (5)Dinamo MoscowLokomotiv Moscow
1957Dinamo Moscow (3)Spartak MoscowCSK MO Moscow
1958Spartak Moscow (6)Dinamo MoscowZenit Leningrad
1959Torpedo Moscow (1)CSK MO MoscowSpartak Moscow
1960CSKA Moscow (5)Dinamo MoscowDinamo Kyiv
1961Spartak Moscow (7)SKA Rostov-na-DonuDinamo Kyiv
1962Spartak Moscow (8)Dinamo KyivDinamo Moscow
1963Dinamo Kyiv (2)CSKA MoscowDinamo Tbilisi
1964Dinamo Tbilisi (1)Dinamo KyivCSKA Moscow
1965Dinamo Kyiv (3)Lokomotiv MoscowCSKA Moscow
1966Dinamo Kyiv (4)Dinamo TbilisiNeftchi Baku
1967Shakhter Donetsk (1)Dinamo KyivDinamo Moscow
1968Dinamo Kyiv (5)Shakhter DonetskDinamo Moscow
1969Shakhter Donetsk (2)Dinamo MoscowCSKA Moscow
1970Dinamo Moscow (4)Spartak MoscowCSKA Moscow
1971Dinamo Moscow (5)SKA Rostov-na-DonuCSKA Moscow
1972Dinamo Kyiv (6)Torpedo MoscowKarpaty Lviv
1973FC Ararat Yerevan (1)Kairat Alma-AtaCSKA Moscow
1974Dinamo Kyiv (7)Dinamo MoscowChernomorets Odesa
1975Torpedo Moscow (2)Spartak MoscowDinamo Kyiv
1976Dinamo Kyiv (8)Shakhter DonetskKarpaty Lviv
1977Dinamo Kyiv (9)Shakhter DonetskTorpedo Moscow
1978Dinamo Tbilisi (2)CSKA MoscowDinamo Kyiv
1979CSKA Moscow (6)Neftchi BakuDinamo Kyiv
1980Dinamo Kyiv (10)Dinamo MoscowSpartak Moscow
1981Dinamo Kyiv (11)Dinamo TbilisiZenit Leningrad
1982Dinamo Kyiv (12)Spartak MoscowDinamo Minsk
1983Dinamo Kyiv (13)CSKA MoscowDinamo Moscow
1984Dnepr Dnepropetrovsk (1)Dinamo KyivDinamo Tbilisi
1985Dinamo Kyiv (14)Spartak MoscowTorpedo Moscow
1986Spartak Moscow (9)Dnepr DnepropetrovskDinamo Kyiv
1987Dnepr Dnepropetrovsk (2)Spartak MoscowZalgiris Vilnius
1988Dinamo Moscow (7)Dinamo KyivSpartak Moscow
1989Dinamo Minsk (1)Spartak MoscowDnepr Dnepropetrovsk
1990Dinamo Kyiv (15)Dnepr DnepropetrovskSpartak Moscow
1991Dnepr Dnepropetrovsk (3)Dinamo MinskSpartak Moscow

Ghi chú

  1. Kẻ gây rắc rối cho các đội bóng nổi tiếng (đội cửa trên)

Tham khảo

  1. tiếng Ukraina: Вища ліга, đã Latinh hoá: Vyshcha Liga; tiếng Belarus: Вышэйшая ліга, đã Latinh hoá: Vysheyshaya Liga
  2. Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc từ Tổng thống Liên bang Nga
  3. Bühler, Konrad G. (2001). State Succession and Membership in International Organizations. Legal Aspects of International Organization Series. Quyển 38. Martinus Nijhoff Publishers. tr. 158–64. ISBN 9789041115539.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 Keys, B.J.; Keys, A.P.U.S.I.H.B.J. (2006). Globalizing Sport: National Rivalry and International Community in the 1930s. Harvard historical studies. Harvard University Press. tr. 175. ISBN 978-0-674-02326-0.
  5. Vartanian, A. 1936. Đứa con của "Spartak" và Komsomol (ГОД 1936. ДЕТИЩЕ "СПАРТАКА" И КОМСОМОЛА). Sport-Express. 2005
  6. 1 2 3 4 5 6 Edelman, R. (2012). Spartak Moscow: A History of the People's Team in the Workers' State. Cornell University Press. tr. 112. ISBN 978-0-8014-6613-7.
  7. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên CDKA Moscow, CDSA Moscow, và CSK MO Moscow, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  8. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Stalinets Leningrad, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  9. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Stakhanovets Stalino, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine tại KLISF
  10. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Dynamo YerevanSpartak Yerevan, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  11. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Neftyanik Baku, xem lịch sử câu lạc bộ tại KLISF
  12. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên SKVO Rostov-on-Don, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  13. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Zenit Kuybyshev, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  14. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Avangard Kharkiv, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine tại KLISF
  15. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Spartak Vilnius, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  16. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Traktor StalingradTorpedo Stalingrad, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  17. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Burevestnik KishinevMoldova Kishinev, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  18. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Krasnaya Zarya Leningrad, xem lịch sử câu lạc bộ tại KLISF
  19. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Trud Voronezh, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
  20. Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Torpedo Gorky, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Soviet Top League SeasonsBản mẫu:Bóng đá tại Liên XôBản mẫu:Các giải đấu UEFABản mẫu:Các giải thể thao hàng đầu tại Liên Xô