Giải vô địch bóng đá Liên Xô
| Thành lập | 22 tháng 5 năm 1936 (với tên gọi Nhóm A) |
|---|---|
| Hủy bỏ | 1991 |
| Quốc gia | Liên Xô |
| Liên đoàn | UEFA |
| Các hạng đấu | 1 |
| Số đội | Thay đổi theo từng năm |
| Cấp độ trong hệ thống | Cấp độ 1 |
| Xuống hạng đến | Giải hạng Nhất Liên Xô |
| Cúp quốc nội | Cúp Liên Xô Siêu cúp Liên Xô (không chính thức) |
| Cúp liên đoàn | Cúp Liên đoàn Liên Xô (1940–1990) |
| Cúp quốc tế | |
| Đội vô địch cuối cùng | CSKA Moscow (1991) |
| Đội vô địch nhiều nhất | Dynamo Kyiv (13) |
| Thi đấu nhiều nhất | Oleg Blokhin (432) |
| Vua phá lưới | Oleg Blokhin (211) |
Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Liên Xô, sau năm 1970 được gọi là Hạng đấu Cao nhất (tiếng Nga: Чемпионат СССР по футбоlu: Высшая лига, đã Latinh hoá: Vyschaya Liga),[1] đóng vai trò là hạng đấu cao nhất của giải vô địch bóng đá Liên Xô từ năm 1936 đến năm 1991. Qua nhiều năm, tên gọi của giải đấu đã thay đổi nhiều lần. Được thành lập vào năm 1936, hạng đấu này ban đầu được gọi là "Gruppa A" (Nhóm A) và là một trong bốn hạng đấu cấu thành nên giải vô địch bóng đá Liên Xô.
Giải đấu thuộc sở hữu và được quản lý bởi Ủy ban Thể dục Thể thao Toàn liên bang (một cơ quan thuộc Hội đồng các Ủy viên Nhân dân Liên Xô). Đội giành chiến thắng trong cuộc thi được vinh danh với danh hiệu "Nhà vô địch Liên Xô" và được trao biểu ngữ của Ủy ban Toàn liên bang.
Từ khi mới thành lập cho đến khi giải thể, hạng đấu cao nhất vận hành song hành cùng với hạng đấu thứ hai trong hầu hết thời gian, cho phép các đội tham gia trao đổi giữa các hạng đấu thông qua hình thức thăng hạng và xuống hạng. Năm 1963, hạng đấu thứ ba được giới thiệu. Bắt đầu từ năm 1971, tên chính thức đầy đủ là Giải vô địch bóng đá Liên Xô: Hạng đấu Cao nhất. Một nỗ lực nhằm thành lập một giải đấu độc lập dưới hình thức một thực thể kinh doanh hoặc tổ chức quản lý tự trị trong thời kỳ "perestroika" đã bị Liên đoàn bác bỏ do văn hóa chính trị tại Liên Xô lúc bấy giờ.
Mặc dù giải đấu này được coi là chuyên nghiệp, nhưng trên thực tế không có môn thể thao chuyên nghiệp (hoặc thương mại) nào ở nhà nước Cộng sản do quan điểm chính trị đối với vấn đề này. Các đội thi đấu trong giải bao gồm những cầu thủ mà về mặt chính thức trên sổ sách tài chính, được thuê và trả lương bởi các doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước (như SKA hoặc Dynamo) mà đội bóng đó đại diện. Ngoài ra, các cầu thủ từ đội của các cơ quan nhà nước như SKA hay Dynamo đều giữ các cấp bậc như đại úy, trung úy, thiếu tá, v.v. Ngoài ra, việc đặt tên các đội bóng bị kiểm soát chặt chẽ và phải được chính quyền trung ương chấp thuận. Chỉ sau khi Stalin qua đời, các đội mới được phép có tên gọi gắn liền với vị trí địa lý của mình, do quan điểm chính trị của Liên Xô về vấn đề dân tộc. Ngoài ra, về mặt chính thức, các đội đại diện cho cái gọi là các hiệp hội thể thao "tự nguyện" (Các hiệp hội thể thao tự nguyện của Liên Xô).
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với cuộc thi giữa các đội hình chính, cũng có các cuộc thi chính thức dành cho các đội dự bị. Giải đấu này mang tên "Giải đấu của các đội hình hai" (Turnir doublyorov). Các giải đấu của đội dự bị diễn ra song song với các giải đấu của đội hình chính, thường được ấn định vào một ngày trước đó, với các quy tắc xuống hạng hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí trên bảng xếp hạng của đội hình chính tương ứng.
Hạng đấu Cao nhất từng là một trong những giải bóng đá tốt nhất châu Âu, xếp thứ hai trong số các thành viên UEFA vào mùa giải 1988–89. Ba đại diện của giải đã lọt vào trận chung kết của các giải đấu cấp câu lạc bộ châu Âu trong bốn lần: FC Dynamo Kyiv, FC Dinamo Tbilisi, và FC Dynamo Moscow (tất cả đều ở European Cup Winners' Cup - Cúp C2). Giống như cách Nga kế thừa về mặt chính trị đối với Liên Xô, UEFA coi Giải bóng đá Ngoại hạng Nga là giải đấu kế thừa của Giải vô địch quốc gia Liên Xô.[2][3]
Tổng quan
Giới thiệu và phổ biến

Giải đấu được thành lập theo sáng kiến của người đứng đầu hiệp hội thể thao Spartak, Nikolai Starostin.[4] Starostin đề xuất thành lập tám đội bóng câu lạc bộ chuyên nghiệp tại sáu thành phố của Liên Xô và tổ chức hai giải vô địch mỗi năm dương lịch.[4] Với một vài sửa đổi nhỏ, Hội đồng Thể dục Thể thao Liên Xô đã chấp nhận đề xuất của Starostin, tạo ra một giải đấu gồm các "đội biểu diễn của các bậc thầy" được tài trợ bởi các hiệp hội thể thao và nhà máy.[4] Nikolai Starostin trên thực tế đã trở thành "cha đỡ đầu" của các giải vô địch Liên Xô.[5] Nhiều sự kiện đại chúng đã diễn ra để quảng bá cho giải đấu mới thành lập, trong đó có việc giới thiệu trận đấu bóng đá biểu diễn như một phần của cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao Moscow, và việc mời Đội tuyển bóng đá quốc gia Xứ Basque vốn thuộc phe được Liên Xô ủng hộ trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha cùng những đội khác.
Vào cuối năm 1936, bí thư thứ nhất của Komsomol là Kosarev đã nảy ra ý tưởng tổ chức một trận bóng đá thực sự tại Quảng trường Đỏ như một phần của cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao.[6] Stalin chưa bao giờ tham dự bất kỳ sự kiện thể thao nào, nhưng Ngày Thể dục Thể thao là một ngoại lệ đối với quy tắc này.[6] Cuộc diễu hành Ngày Thể dục Thể thao năm 1936 được dàn dựng bởi đạo diễn sân khấu người Nga Valentin Pluchek.[6] Đối với trận bóng đá, một tấm thảm nỉ màu xanh khổng lồ đã được các vận động viên Spartak khâu lại và trải xuống lớp đá cuội của Quảng trường Đỏ.[6] Đêm trước cuộc diễu hành, tấm thảm được khâu lại thành từng phần, cuộn lại và sau đó được cất giữ trong sảnh chờ của cửa hàng bách hóa GUM nằm tại quảng trường.[6] Sau trận đấu tại Quảng trường Đỏ năm 1936, nó đã trở thành một truyền thống trước Chiến tranh thế giới thứ hai và là một phần của sự kiện diễu hành Ngày Thể dục Thể thao.[6]
Vào cuối thập niên 1930, Spartak đã phát hàng ngàn vé mỗi trận cho các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (Bolsheviks).[4] Trong số những người hâm mộ bóng đá nhiệt thành có Lavrentiy Beria, người đã đề xuất mỗi cộng hòa liên bang có một đội bóng trong giải đấu.[4] Vào tháng 7 năm 1937, một cuộc xung đột đã nổ ra sau chuyến du đấu thành công của đội tuyển quốc gia Xứ Basque tới Liên Xô, trong đó cơ quan quản lý thể thao chính của đất nước là Hội đồng Thể dục Thể thao Toàn liên bang đã bị Đảng và Komsomol cáo buộc là thất bại trong chính sách thể thao.[4] Ban lãnh đạo Spartak và cá nhân Starostin bị buộc tội tham nhũng và áp dụng các "phương pháp tư sản" trong thể thao Xô Viết.[4]
Các câu lạc bộ nổi bật nhất của giải đấu là FC Dynamo Kyiv, FC Spartak Moscow, và FC Dynamo Moscow. Các câu lạc bộ phổ biến nhất bên cạnh những cái tên kể trên là PFC CSKA Moscow, FC Ararat Yerevan, và FC Dinamo Tbilisi. Dinamo Tbilisi trở nên nổi tiếng vì thường xuyên về đích ở vị trí thứ ba nhưng chưa bao giờ giành chức vô địch cho đến năm 1964.
Phát triển
Cho đến thập niên 1960, các ứng cử viên vô địch chính trong giải là các câu lạc bộ của Moscow như Spartak và Dynamo, những đội mà sự thống trị của họ chỉ bị gián đoạn trong một thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai bởi CSKA Moscow, được mệnh danh là 'Đội bóng của những trung úy'. Đội bóng đầu tiên giành được 10 chức vô địch là Dynamo Moscow vào năm 1963, tiếp theo là Spartak vào năm 1979.
Mười một câu lạc bộ đã có hơn 30 mùa giải thi đấu tại giải, với năm trong số đó đến từ Moscow. Dynamo Moscow và Dynamo Kyiv là những câu lạc bộ duy nhất tham gia tất cả các mùa giải của giải đấu. Trong số các câu lạc bộ Nga nổi bật khác có SKA Rostov/Donu (đội quân đội), Zenit Leningrad (Zenith), và Krylia Sovietov Kuibyshev (Cánh chim Xô Viết).
Qua nhiều năm, giải đấu đã có sự thay đổi; tuy nhiên, từ thập niên 1970, cấu trúc thi đấu của giải đã ổn định với 16 đội tham dự, ngoại trừ giai đoạn từ năm 1979 đến năm 1985 khi số lượng đội được mở rộng lên 18.
Một đổi mới độc đáo của Liên Xô vào khoảng thời gian này là "giới hạn tỷ số hòa", theo đó một đội sẽ không nhận được điểm nào cho bất kỳ trận hòa nào vượt quá một con số cố định, ban đầu là 8, sau đó là 10 trận. Quy tắc này đã gây ra những hệ quả cho cả cuộc đua vô địch và cuộc chiến trụ hạng trong thời gian nó được áp dụng. Một thử nghiệm năm 1973 nhằm giải quyết các trận hòa bằng loạt sút luân lưu chỉ kéo dài trong một mùa giải.
Thành công của Dynamo Kyiv với tư cách là một câu lạc bộ Ukraine đã được bổ sung vào thập niên 1980 với sự xuất hiện của Dnipro Dnipropetrovsk dưới sự dẫn dắt của tiền đạo Oleh Protasov, người đã lập kỷ lục mới về số bàn thắng ghi được trong một mùa giải. Năm 1984, Zenit Leningrad lần đầu tiên trở thành nhà vô địch Liên Xô.
Với sự tan rã của Liên Xô vào cuối thập niên 1980, cấu trúc của giải đấu cũng trở nên bất ổn khi ngày càng có nhiều câu lạc bộ mất đi sự quan tâm đến việc tiếp tục tham gia giải đấu, dẫn đến nhiều vòng tái tổ chức. Hiệu ứng chính của việc này là thúc đẩy số lượng các câu lạc bộ Ukraine ngang bằng với các câu lạc bộ Nga.
Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, đã có những đề xuất tái lập giải đấu theo mô hình của Cúp các quốc gia cộng đồng độc lập, nhưng do thiếu sự quan tâm ở nhiều cấp độ khác nhau, dự án này chưa bao giờ được thực hiện.
Các đội tham dự
Dân số phân bố không đều của Liên Xô có nghĩa là các đội tham dự trong một mùa giải thông thường của Hạng đấu Cao nhất được chia thành ba khối. Điều này đặc biệt rõ ràng ở các hạng đấu thấp hơn của Giải vô địch bóng đá Liên Xô, chẳng hạn như hạng đấu thứ ba (Vtoraya Liga), nhưng vẫn duy trì ở hạng đấu cao nhất/hạng nhất với mức độ minh bạch thấp hơn.
- Các câu lạc bộ Nga. Bóng đá Nga bị thống trị bởi "cỗ xe bốn bánh" của các câu lạc bộ Moscow: Spartak (Komsomol), Dynamo (cảnh sát), CSKA (quân đội) và Torpedo (công nhân ô tô). Bốn đội này thường có thêm sự góp mặt tại Hạng đấu Cao nhất của Lokomotiv (công nhân đường sắt), Zenit Leningrad (công nhân công nghiệp quốc phòng), hoặc các câu lạc bộ hỗn hợp từ các thành phố nhỏ hơn. Lưu ý rằng mặc dù về mặt chính thức Hiệp hội thể thao Lokomotiv đại diện cho "công nhân đường sắt", Liên Xô cũng có một số lượng khổng lồ các binh chủng đường sắt, không giống như bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới. Ngoài ra, "khối các câu lạc bộ Nga" còn bị phân mảnh sâu sắc thành ba khối phụ có điều kiện riêng biệt, bao gồm các câu lạc bộ Muscovite, các câu lạc bộ Leningrad và các câu lạc bộ RSFSR (hoặc các câu lạc bộ khác). Tại Spartakiad các dân tộc Liên Xô, Nga Xô viết luôn được đại diện bởi ba đội với các đội Muscovite và Leningrad tham gia cùng với đội "chính", mặc dù đội chính (hoặc đội một) luôn là đội Muscovite.
- Các câu lạc bộ Ukraine. Ngược lại, thủ đô của Ukraine là Kyiv lại là "vương quốc" riêng của Dynamo Kyiv, đội đã trở thành nguồn cung cấp cầu thủ không chính thức cho đội tuyển quốc gia Liên Xô bắt đầu từ thập niên 1960, thay thế cho Dynamo Moscow. Một vài câu lạc bộ đã cạnh tranh để trở thành đội bóng "thứ hai" của Ukraine trong nhiều năm bao gồm Shakhtar Donetsk (thợ mỏ than), Metalist Kharkiv (công nhân công nghiệp quốc phòng - Dzerzhinets (giáp trụ)), Chernomorets Odesa (công nhân hạm đội thương thuyền), Zorya Voroshilovgrad (nay là Zorya Luhansk, công nhân công nghiệp quốc phòng - Dzerzhinets (giáp trụ)) và Dnipro Dnipropetrovsk (công nhân công nghiệp quốc phòng - Zenit (phòng không)), hai đội cuối cùng đã giành được tổng cộng ba chức vô địch. Nhiều câu lạc bộ Ukraine cũng gắn liền với hiệp hội thể thao Dynamo của Liên Xô. Các nhà quản lý bóng đá Liên Xô đã cố gắng kiềm chế hoặc cân bằng các câu lạc bộ Ukraine với các câu lạc bộ khác từ các "cộng hòa liên bang", tuy nhiên vẫn luôn tồn tại một cuộc cạnh tranh "riêng biệt" (hoặc duy nhất) giữa các câu lạc bộ Ukraine trong số các "đội bóng của những bậc thầy" (một cách nói giảm nói tránh của Liên Xô cho các đội chuyên nghiệp).
- Các câu lạc bộ từ các nước cộng hòa khác. Tầm nhìn của Lavrentiy Beria về việc mỗi nước cộng hòa có một câu lạc bộ đại diện đã được thực hiện một phần từ thập niên 1950 trở đi, vì ở mọi nước cộng hòa ngoại trừ Nga và Ukraine, sự quan tâm của người hâm mộ và sự hỗ trợ của chính phủ đã tập trung vào một câu lạc bộ duy nhất có trụ sở tại thủ đô của nước cộng hòa đó, nơi trở thành "đội bóng của nước cộng hòa". Hầu hết các câu lạc bộ đó được thành lập dưới tên Spartak hoặc Dynamo, được hỗ trợ bởi ủy ban đảng địa phương (Spartak) hoặc văn phòng KGB địa phương (Dynamo). Do đó, Litva được đại diện bởi Zalgiris Vilnius, Latvia bởi Daugava Riga, Estonia bởi Kalev Tallinn, Byelorussia bởi Dinamo Minsk, Moldavia bởi Nistru Kishinev, Armenia bởi Ararat Yerevan, Azerbaijan bởi Neftchi Baku, Gruzia bởi Dinamo Tbilisi, Kazakhstan bởi Kairat Alma-Ata, Uzbekistan bởi Pakhtakor Tashkent và Tajikistan bởi Pamir Dushanbe. Một mùa giải thông thường của Hạng đấu Cao nhất sẽ có 4-6 đội trong số mười một đội này, và Yerevan, Minsk và Tbilisi đều đã giành được chức vô địch ít nhất một lần. Chỉ có Gruzia, với Torpedo Kutaisi và sau đó là Guria Lanchkhuti, và Azerbaijan, với Dinamo Kirovabad, là từng có thể có đại diện thứ hai trụ lại tại Hạng đấu Cao nhất bên cạnh câu lạc bộ của thành phố thủ đô. (Turkmenistan và Kirghizia được đại diện trong kim tự tháp bóng đá Liên Xô lần lượt bởi Köpetdag Aşgabat và Alga Frunze, nhưng cả hai đều không vươn tới được cấp độ cao nhất.)
Tư liệu
Tư liệu về giải đấu này rất khan hiếm. Trong số những nhà nghiên cứu nổi tiếng có Aksel Vartanyan của tờ Sport Express, Andrei Moroz và Georgiy Ibragimov của KLISF Club, Alexandru G.Paloşanu, Eugene Berkovich, Mike Dryomin, Almantas Lauzadis, và Hans Schöggl của RSSSF Archives. Một cơ sở dữ liệu phong phú khác được tổng hợp tại helmsoccer.narod.ru và Trang web của FC Dynamo Moscow.
Tên gọi
Kể từ khi thành lập, tên gọi của Hạng đấu Cao nhất Liên Xô đã thay đổi một vài lần:
- 1936 – 1941 Nhóm A (Группа А)
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, giải vô địch được chia thành nhiều nhóm thường gồm tám đội và được đặt tên theo các chữ cái trong bảng chữ cái Cyrillic.
- 1945 – 1949 Nhóm Thứ nhất của Liên Xô (Первая группа СССР)
Sau khi tái lập giải đấu sau chiến tranh, trong vài năm giải được đánh số thứ tự với hạng đấu cao nhất là Nhóm Thứ nhất.
- 1950 – 1962 Hạng "A" của Liên Xô (Класс "А" СССР)
Từ năm 1950, việc phân loại theo bảng chữ cái trong hệ thống phân cấp giải đấu Liên Xô đã được nối lại. Từ năm 1960 đến năm 1962, giải đấu bao gồm hai nhóm với các câu lạc bộ mạnh hơn lọt vào vòng tranh chức vô địch và các câu lạc bộ kém may mắn hơn vào vòng tranh trụ hạng.
- 1963 – 1969 Nhóm "A" Thứ nhất của Liên Xô (Первая группа "А" СССР)
Đại diện tại châu Âu
Lần đầu tiên Giải bóng đá Liên Xô được đại diện tại châu Âu là trong Cúp C2 châu Âu mùa giải 1965–66 bởi Dynamo Kyiv. Trong năm đầu tiên, câu lạc bộ đã lọt vào trận tứ kết, loại bỏ trên đường đi của mình Coleraine và Rosenborg và thắng cả bốn trận trước các câu lạc bộ này. Đội bóng Ukraine cũng đã loại nhà đương kim vô địch Celtic ở vòng đầu tiên trong giải Cúp C1 mùa giải 1967–68. Vào mùa giải 1968–69, các câu lạc bộ Liên Xô đã rút khỏi các cuộc thi cấp châu lục sau khi Liên Xô tấn công Tiệp Khắc. Vào năm 1972 đã đánh dấu thành công đầu tiên của bóng đá câu lạc bộ Liên Xô khi Dynamo Moscow lọt vào trận chung kết, nhưng đã bị đánh bại bởi Glasgow Rangers tại Camp Nou ở Barcelona.
Từ năm 1974 (ngoại trừ mùa giải 1982–83) đến năm 1984, giải đấu nằm trong số 10 giải quốc nội tốt nhất theo bảng xếp hạng UEFA (dựa trên thành tích tại các giải châu lục), đạt vị trí thứ 4 vào năm 1976 và 1977. Từ năm 1985, Hạng đấu Cao nhất Liên Xô nằm trong số bốn giải tốt nhất ở châu Âu, cho đến khi Liên Xô tan rã vào năm 1991.
Vào năm 1987 và 1988, Hạng đấu Cao nhất Liên Xô là giải đấu mạnh thứ hai ở châu Âu; tuy nhiên, sát thời điểm Liên Xô tan rã, kết quả của các câu lạc bộ bóng đá mà nó đại diện đã trở nên tồi tệ hơn do những cầu thủ hàng đầu giờ đây có thể rời đi để thi đấu cho các giải đấu nước ngoài ở phương Tây. Vị trí hệ số cuối cùng mà Giải đấu Liên Xô đạt được là thứ 9 vào năm 1992. Trong mùa giải 1992/93, tất cả kết quả của Giải đấu Liên Xô đã được chuyển giao cho Giải bóng đá Ngoại hạng Nga. Trong suốt lịch sử của mình, các đại diện của giải đấu đã có bốn lần lọt vào trận chung kết của ba giải đấu chính ở châu Âu và giành chiến thắng trong ba lần. Một lần, một câu lạc bộ Liên Xô đã giành được Siêu cúp châu Âu.
Giải vô địch bóng đá giữa các đội tuyển thành phố (1923–1935)
Trước khi thành lập các giải đấu chuyên nghiệp giữa các câu lạc bộ, ở Liên Xô đã tồn tại một cuộc thi khác được tổ chức giữa các đội tuyển tập thể của các thành phố hoặc các nước cộng hòa khác nhau. Vào năm 1923 và 1924, các cuộc thi là một phần của Lễ hội Thể dục Thể thao Toàn liên bang. Năm 1928 và 1931, các cuộc thi là một phần của vòng loại Toàn liên bang cho "Spartakiad Công nhân" do Quốc tế Thể thao Đỏ tổ chức. Năm 1935, các cuộc thi được tổ chức ở hai hạng đấu.
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1923 | Moscow | Southern Railways (Kharkiv) | Kolomna / Irkutsk | |
| 1924 | Kharkiv | Petrograd | Transcaucasian SFSR | |
| không tổ chức trong giai đoạn 1925–27 | ||||
| 1928 | Moscow | Cộng hòa XHCN Xô viết Ukraine | Cộng hòa XHCN Xô viết Belarus | |
| không tổ chức trong giai đoạn 1929–30 | ||||
| 1931 | Nga Xô viết | Transcaucasian SFSR | Cộng hòa XHCN Xô viết Ukraine | |
| 1932 | Moscow | Leningrad | Kharkiv / Donbass | Vasily Smirnov (Moscow, 4 bàn) |
| không tổ chức trong giai đoạn 1933–34 | ||||
| 1935 | Moscow | Leningrad | Kharkiv | Mikhail Yakushin (Moscow, 6 bàn) |
Các nhà vô địch và vua phá lưới
- In đậm trong cột "Vô địch" biểu thị rằng câu lạc bộ đó cũng giành được Cúp Liên Xô trong cùng mùa giải. Văn bản in nghiêng trong bảng cho biết các nhà vô địch cúp khác lọt vào top 3 Liên Xô.
Nhóm A
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1936 (mùa xuân) | Dynamo Moscow | Dynamo Kyiv | Spartak Moscow | Mikhail Semichastny (Dynamo Moscow, 6 bàn) |
| 1936 (mùa thu) | Spartak Moscow | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Georgy Glazkov (Spartak Moscow, 7 bàn) |
| 1937 | Dynamo Moscow (2) | Spartak Moscow | Dynamo Kyiv | Boris Paichadze (Dinamo Tbilisi, 8 bàn) Leonid Rumyantsev (Spartak Moscow, 8 bàn) Vasily Smirnov (Dynamo Moscow, 8 bàn) |
| 1938 | Spartak Moscow (2) | CSKA Moscow | Metallurg Moscow | Makar Honcharenko (Dinamo Kyiv, 19 bàn) |
| 1939 | Spartak Moscow (3) | Dinamo Tbilisi | CSKA Moscow | Grigory Fedotov (CSKA Moscow, 21 bàn) |
| 1940 | Dynamo Moscow (3) | Dinamo Tbilisi | Spartak Moscow | Grigory Fedotov (CSKA Moscow, 21 bàn) Sergei Solovyov (Dynamo Moscow, 21 bàn) |
| 1941 | Bị hủy vào ngày 24 tháng 6 do Chiến tranh thế giới thứ hai (Dynamo Moscow đang có thành tích tốt nhất lúc đó) | |||
| 1942–44 | Bị hủy do Chiến tranh thế giới thứ hai | |||
- Thành tích theo câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Năm vô địch |
|---|---|---|---|---|
| Spartak Moscow | 3 | 1 | 2 | 1936t, 1938, 1939 |
| Dynamo Moscow | 3 | 1 | 1936x, 1937, 1940 | |
| Dinamo Tbilisi | 2 | 1 | ||
| CSKA Moscow | 1 | 1 | ||
| Dynamo Kyiv | 1 | 1 | ||
| Metallurg Moscow | 1 |
Nhóm thứ nhất
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1945 | Dynamo Moscow (4) | CSKA Moscow | Torpedo Moscow | Vsevolod Bobrov (CSKA Moscow, 24 bàn) |
| 1946 | CSKA Moscow | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Aleksandr Ponomaryov (Torpedo Moscow, 18 bàn) |
| 1947 | CSKA Moscow (2) | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Vsevolod Bobrov (CSKA Moscow, 14 bàn) Valentin Nikolayev (CSKA Moscow, 14 bàn) Sergei Solovyov (Dynamo Moscow, 14 bàn) |
| 1948 | CSKA Moscow (3) | Dynamo Moscow | Spartak Moscow | Sergei Solovyov (Dynamo Moscow, 25 bàn) |
| 1949 | Dynamo Moscow (5) | CSKA Moscow | Spartak Moscow | Nikita Simonyan (Spartak Moscow, 26 bàn) |
- Thành tích theo câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Năm vô địch |
|---|---|---|---|---|
| CSKA Moscow | 3 | 2 | 1946, 1947, 1948 | |
| Dynamo Moscow | 2 | 3 | 1945, 1949 | |
| Dinamo Tbilisi | 2 | |||
| Spartak Moscow | 2 | |||
| Torpedo Moscow | 1 |
Hạng A
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1950 | CSKA Moscow (4) | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Nikita Simonyan (Spartak Moscow, 34 bàn) |
| 1951 | CSKA Moscow (5) | Dinamo Tbilisi | Shakhtar Stalino | Avtandil Gogoberidze (Dinamo Tbilisi, 16 bàn) |
| 1952 | Spartak Moscow (4) | Dynamo Kyiv | Dynamo Moscow | Andrey Zazroyev (Dynamo Kyiv, 11 bàn) |
| 1953 | Spartak Moscow (5) | Dinamo Tbilisi | Torpedo Moscow | Nikita Simonyan (Spartak Moscow, 14 bàn) |
| 1954 | Dynamo Moscow (6) | Spartak Moscow | Spartak Minsk | Anatoli Ilyin (Spartak Moscow, 11 bàn) Vladimir Ilyin (Dynamo Moscow, 11 bàn) Antonin Sochnev (Trudovye Reservy Leningrad, 11 bàn) |
| 1955 | Dynamo Moscow (7) | Spartak Moscow | CSKA Moscow | Eduard Streltsov (Torpedo Moscow, 15 bàn) |
| 1956 | Spartak Moscow (6) | Dynamo Moscow | CSKA Moscow | Vasily Buzunov (ODO Sverdlovsk, 17 bàn) |
| 1957 | Dynamo Moscow (8) | Torpedo Moscow | Spartak Moscow | Vasily Buzunov (CSKA Moscow, 16 bàn) |
| 1958 | Spartak Moscow (7) | Dynamo Moscow | CSKA Moscow | Anatoli Ilyin (Spartak Moscow, 19 bàn) |
| 1959 | Dynamo Moscow (9) | Lokomotiv Moscow | Dinamo Tbilisi | Zaur Kaloyev (Dinamo Tbilisi, 16 bàn) |
| 1960 | Torpedo Moscow | Dynamo Kyiv | Dynamo Moscow | Zaur Kaloyev (Dinamo Tbilisi, 20 bàn) Gennady Gusarov (Torpedo Moscow, 20 bàn) |
| 1961 | Dynamo Kyiv | Torpedo Moscow | Spartak Moscow | Gennady Gusarov (Torpedo Moscow, 22 bàn) |
| 1962 | Spartak Moscow (8) | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Mikhail Mustygin (Belarus Minsk, 17 bàn) |
- Thành tích theo câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Năm vô địch |
|---|---|---|---|---|
| Spartak Moscow | 5 | 2 | 2 | 1952, 1953, 1956, 1958, 1962 |
| Dynamo Moscow | 4 | 4 | 2 | 1954, 1955, 1957, 1959 |
| CSKA Moscow | 2 | 3 | 1950, 1951 | |
| Torpedo Moscow | 1 | 2 | 1 | 1960 |
| Dynamo Kyiv | 1 | 2 | 1961 | |
| Dinamo Tbilisi | 2 | 3 | ||
| Lokomotiv Moscow | 1 | |||
| Shakhtar Stalino | 1 | |||
| Spartak Minsk | 1 |
Hạng A (Nhóm 1)
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1963 | Dynamo Moscow (10) | Spartak Moscow | Dinamo Minsk | Oleg Kopayev (SKA Rostov-on-Don, 27 bàn) |
| 1964 | Dinamo Tbilisi | Torpedo Moscow | CSKA Moscow | Vladimir Fedotov (CSKA Moscow, 16 bàn) |
| 1965 | Torpedo Moscow (2) | Dynamo Kyiv | CSKA Moscow | Oleg Kopayev (SKA Rostov-on-Don, 18 bàn) |
| 1966 | Dynamo Kyiv (2) | SKA Rostov-on-Don | Neftyanik Baku | Ilya Datunashvili (Dinamo Tbilisi, 20 bàn) |
| 1967 | Dynamo Kyiv (3) | Dynamo Moscow | Dinamo Tbilisi | Mikhail Mustygin (Dinamo Minsk, 19 bàn) |
| 1968 | Dynamo Kyiv (4) | Spartak Moscow | Torpedo Moscow | Georgi Gavasheli (Dinamo Tbilisi, 22 bàn) Berador Abduraimov (Pakhtakor Tashkent, 22 bàn) |
| 1969 | Spartak Moscow (9) | Dynamo Kyiv | Dinamo Tbilisi | Nikolai Osyanin (Spartak Moscow, 16 bàn) Vladimir Proskurin (SKA Rostov-on-Don, 16 bàn) Dzhemal Kherhadze (Torpedo Kutaisi, 16 bàn) |
Hạng A (Nhóm Cao nhất)
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1970 | CSKA Moscow (6) | Dynamo Moscow | Spartak Moscow | Givi Nodia (Dinamo Tbilisi, 17 bàn) |
Hạng đấu Cao nhất
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1971 | Dynamo Kyiv (5) | Ararat Yerevan | Dinamo Tbilisi | Eduard Malofeyev (Dinamo Minsk, 16 bàn) |
| 1972 | Zorya Voroshilovgrad | Dynamo Kyiv | Dinamo Tbilisi | Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv, 14 bàn) |
| 1973 | Ararat Yerevan | Dynamo Kyiv | Dynamo Moscow | Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv, 18 bàn) |
| 1974 | Dynamo Kyiv (6) | Spartak Moscow | Chornomorets Odesa | Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv, 20 bàn) |
| 1975 | Dynamo Kyiv (7) | Shakhtar Donetsk | Dynamo Moscow | Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv, 18 bàn) |
| 1976 (mùa xuân) | Dynamo Moscow (11) | Ararat Yerevan | Dinamo Tbilisi | Arkady Andreasyan (Ararat Yerevan, 8 bàn) |
| 1976 (mùa thu) | Torpedo Moscow (3) | Dynamo Kyiv | Dinamo Tbilisi | Aleksandr Markin (Zenit Leningrad, 13 bàn) |
| 1977 | Dynamo Kyiv (8) | Dinamo Tbilisi | Torpedo Moscow | Oleg Blokhin (Dynamo Kyiv, 17 bàn) |
| 1978 | Dinamo Tbilisi (2) | Dynamo Kyiv | Shakhtar Donetsk | Georgi Yartsev (Spartak Moscow, 19 bàn) |
| 1979 | Spartak Moscow (10) | Shakhtar Donetsk | Dynamo Kyiv | Vitali Starukhin (Shakhtar Donetsk, 26 bàn) |
| 1980 | Dynamo Kyiv (9) | Spartak Moscow | Zenit Leningrad | Sergey Andreyev (SKA Rostov-on-Don, 20 bàn) |
| 1981 | Dynamo Kyiv (10) | Spartak Moscow | Dinamo Tbilisi | Ramaz Shengelia (Dinamo Tbilisi, 23 bàn) |
| 1982 | Dinamo Minsk | Dynamo Kyiv | Spartak Moscow | Andrei Yakubik (Pakhtakor Tashkent, 23 bàn) |
| 1983 | Dnipro Dnipropetrovsk | Spartak Moscow | Dinamo Minsk | Yuri Gavrilov (Spartak Moscow, 18 bàn) |
| 1984 | Zenit Leningrad | Spartak Moscow | Dnipro Dnipropetrovsk | Sergey Andreyev (SKA Rostov-on-Don, 20 bàn) |
| 1985 | Dynamo Kyiv (11) | Spartak Moscow | Dnipro Dnipropetrovsk | Oleg Protasov (Dnipro Dnipropetrovsk, 35 bàn) |
| 1986 | Dynamo Kyiv (12) | Dynamo Moscow | Spartak Moscow | Aleksandr Borodyuk (Dynamo Moscow, 21 bàn) |
| 1987 | Spartak Moscow (11) | Dnipro Dnipropetrovsk | Žalgiris Vilnius | Oleg Protasov (Dnipro Dnipropetrovsk, 18 bàn) |
| 1988 | Dnipro Dnipropetrovsk (2) | Dynamo Kyiv | Torpedo Moscow | Yevhen Shakhov (Dnipro Dnipropetrovsk, 16 bàn) Aleksandr Borodyuk (Dynamo Moscow, 16 bàn) |
| 1989 | Spartak Moscow (12) | Dnipro Dnipropetrovsk | Dynamo Kyiv | Sergey Rodionov (Spartak Moscow, 16 bàn) |
| 1990 | Dynamo Kyiv (13) | CSKA Moscow | Dynamo Moscow | Oleg Protasov (Dynamo Kyiv, 12 bàn) Valery Shmarov (Spartak Moscow, 12 bàn) |
| 1991 | CSKA Moscow (7) | Spartak Moscow | Torpedo Moscow | Igor Kolyvanov (Dynamo Moscow, 18 bàn) |
Thống kê tổng thể
Thành tích theo đội hình chính câu lạc bộ
| Câu lạc bộ | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Năm vô địch |
|---|---|---|---|---|
| 13 | 11 | 3 | 1961, 1966, 1967, 1968, 1971, 1974, 1975, 1977, 1980, 1981, 1985, 1986, 1990 | |
| 12 | 12 | 9 | 1936 (m.thu), 1938, 1939, 1952, 1953, 1956, 1958, 1962, 1969, 1979, 1987, 1989 | |
| 11 | 11 | 5 | 1936 (m.xuân), 1937, 1940, 1945, 1949, 1954, 1955, 1957, 1959, 1963, 1976 (m.xuân) | |
| 7 | 4 | 6 | 1946, 1947, 1948, 1950, 1951, 1970, 1991 | |
| 3 | 3 | 6 | 1960, 1965, 1976 (m.thu) | |
| 2 | 5 | 13 | 1964, 1978 | |
| 2 | 2 | 2 | 1983, 1988 | |
| 1 | 2 | – | 1973 | |
| 1 | – | 3 | 1982 | |
| 1 | – | 1 | 1984 | |
| 1 | – | – | 1972 | |
| – | 2 | 2 | – | |
| – | 1 | – | – | |
| – | 1 | – | – | |
| – | – | 1 | – | |
| – | – | 1 | ||
| – | – | 1 | – | |
| – | – | 1 | – | |
| Tổng cộng | 54 | 54 | 54 |
Thành tích theo nước cộng hòa
| Nước cộng hòa | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Số lần tham dự | Số lượng câu lạc bộ đại diện | Các câu lạc bộ vô địch |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 34 | 32 | 28 | 416 | 31 | Spartak Moscow (12) Dynamo Moscow (11) CSKA Moscow (7) Torpedo Moscow (3) Zenit Leningrad (1) | |
| 16 | 15 | 8 | 191 | 15 | Dynamo Kyiv (13) Dnipro Dnipropetrovsk (2) Zorya Voroshilovgrad (1) | |
| 2 | 5 | 13 | 68 | 5 | Dinamo Tbilisi (2) | |
| 1 | 2 | – | 33 | 1 | Ararat Yerevan (1) | |
| 1 | – | 3 | 39 | 1 | Dinamo Minsk (1) | |
| – | – | 1 | 29 | 3 | ||
| – | – | 1 | 11 | 1 | ||
| – | – | – | 24 | 1 | ||
| – | – | – | 22 | 1 | ||
| – | – | – | 7 | 1 | ||
| – | – | – | 7 | 1 | ||
| – | – | – | 3 | 1 | ||
| – | – | – | 2 | 1 | ||
| Tổng cộng | 54 | 54 | 54 |
Các nước cộng hòa chưa bao giờ có đại diện thi đấu ở cấp độ cao nhất là Turkmen SSR và Kyrgyz SSR. Ngoài ra, trong bóng đá Liên Xô, các đội Nga Xô viết về mặt kỹ thuật được đại diện bởi ba thực thể khác nhau với Moscow và Leningrad là các thành phố liên bang được coi riêng biệt với phần còn lại của các đội Nga.
Bảng xếp hạng mọi thời đại
| Đội | Cộng hòa | Số mùa | Mùa đầu | Mùa cuối | Số trận | Thắng | Hòa | Thua | Bàn thắng | Bàn thua | Điểm1 | Hạng 1 | Hạng 2 | Hạng 3 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Spartak Moscow | Nga | 53 | 1936 | 1991 | 1453 | 722 | 385 | 346 | 2483 | 1467 | 1821 | 12 | 12 | 9 |
| Dynamo Kyiv | Ukraine | 54 | 1936 | 1991 | 1483 | 681 | 456 | 346 | 2306 | 1566 | 1810 | 13 | 11 | 3 |
| Dinamo Moscow | Nga | 54 | 1936 | 1991 | 1485 | 707 | 404 | 374 | 2435 | 1457 | 1805 | 11 | 11 | 5 |
| Dinamo Tbilisi | Gruzia | 51 | 1936 | 1989 | 1424 | 621 | 406 | 397 | 2176 | 1677 | 1642 | 2 | 5 | 13 |
| Torpedo Moscow | Nga | 51 | 1938 | 1991 | 1455 | 601 | 433 | 421 | 2059 | 1656 | 1613 | 3 | 3 | 6 |
| CSKA Moscow[7] | Nga | 48 | 1936 | 1991 | 1326 | 585 | 363 | 378 | 2030 | 1451 | 1524 | 7 | 4 | 6 |
| Zenit Leningrad[8] | Nga | 49 | 1938 | 1989 | 1402 | 464 | 411 | 527 | 1725 | 1914 | 1328 | 1 | - | 1 |
| Shakhter Donetsk[9] | Ukraine | 44 | 1938 | 1991 | 1288 | 434 | 379 | 475 | 1522 | 1641 | 1241 | - | 2 | 2 |
| Dinamo Minsk (Spartak Minsk) | Belarus | 33 | 1945 | 1991 | 1053 | 342 | 319 | 392 | 1162 | 1297 | 989 | 1 | - | 3 |
| Ararat Yerevan[10] | Armenia | 33 | 1949 | 1991 | 1026 | 352 | 280 | 394 | 1150 | 1306 | 972 | 1 | 2 | - |
| Lokomotiv Moscow | Nga | 38 | 1936 | 1991 | 1001 | 303 | 289 | 409 | 1218 | 1431 | 888 | - | 1 | - |
| Neftchi Baku[11] | Azerbaijan | 27 | 1949 | 1988 | 884 | 253 | 270 | 361 | 907 | 1141 | 771 | - | - | 1 |
| Chernomorets Odesa | Ukraine | 24 | 1965 | 1991 | 738 | 244 | 217 | 277 | 777 | 884 | 699 | - | - | 1 |
| Kairat Almata | Kazakhstan | 24 | 1960 | 1988 | 780 | 226 | 234 | 320 | 742 | 983 | 678 | - | - | - |
| Pakhtakor Tashkent | Uzbekistan | 22 | 1960 | 1991 | 722 | 212 | 211 | 299 | 805 | 1035 | 629 | - | - | - |
| SKA Rostov-on-Don[12] | Nga | 21 | 1959 | 1985 | 680 | 218 | 194 | 268 | 843 | 911 | 620 | - | 1 | - |
| Dnipro Dnipropetrovsk | Ukraine | 19 | 1972 | 1991 | 554 | 227 | 154 | 173 | 729 | 634 | 604 | 2 | 2 | 2 |
| Krylya Sovetov Kuybyshev[13] | Nga | 26 | 1946 | 1979 | 715 | 185 | 209 | 321 | 675 | 996 | 579 | - | - | - |
| Metallist Kharkiv[14] | Ukraine | 14 | 1960 | 1991 | 438 | 133 | 124 | 181 | 413 | 530 | 390 | - | - | - |
| Zorya Voroshilovgrad | Ukraine | 14 | 1967 | 1979 | 412 | 125 | 135 | 152 | 416 | 469 | 377 | 1 | - | - |
| Dynamo Leningrad | Nga | 17 | 1936 | 1963 | 397 | 135 | 102 | 160 | 589 | 649 | 372 | - | - | - |
| Torpedo Kutaisi | Gruzia | 13 | 1962 | 1986 | 439 | 104 | 129 | 206 | 395 | 655 | 335 | - | - | - |
| Žalgiris Vilnius[15] | Litva | 11 | 1953 | 1989 | 330 | 107 | 93 | 130 | 349 | 463 | 305 | - | - | 1 |
| Rotor Volgograd[16] | Nga | 11 | 1938 | 1990 | 293 | 91 | 66 | 136 | 352 | 488 | 248 | - | - | - |
| Nistru Chişinău[17] | Moldova | 11 | 1956 | 1983 | 312 | 69 | 84 | 159 | 312 | 534 | 222 | - | - | - |
| Karpaty Lviv | Ukraine | 9 | 1971 | 1980 | 244 | 68 | 85 | 91 | 250 | 301 | 218 | - | - | - |
| VVS Moscow | Nga | 6 | 1947 | 1952 | 161 | 58 | 32 | 71 | 235 | 270 | 148 | - | - | - |
| Daugava Riga | Latvia | 7 | 1949 | 1962 | 203 | 51 | 48 | 104 | 198 | 311 | 150 | - | - | - |
| Krylya Sovetov Moscow | Nga | 6 | 1938 | 1948 | 143 | 32 | 39 | 72 | 145 | 259 | 103 | - | - | - |
| Metallurg Moscow | Nga | 4 | 1937 | 1940 | 91 | 40 | 17 | 34 | 173 | 170 | 97 | - | - | 1 |
| Lokomotiv Kharkiv | Ukraine | 4 | 1949 | 1954 | 34 | 23 | 57 | 47 | 112 | 176 | 91 | - | - | - |
| Kuban Krasnodar | Nga | 3 | 1980 | 1982 | 102 | 29 | 26 | 47 | 111 | 145 | 84 | - | - | - |
| Admiralteyets Leningrad | Nga | 3 | 1958 | 1961 | 84 | 26 | 17 | 41 | 122 | 149 | 69 | - | - | - |
| Pamir Dushanbe | Tajikistan | 3 | 1989 | 1991 | 84 | 21 | 27 | 36 | 74 | 104 | 69 | - | - | - |
| Elektrik Leningrad[18] | Nga | 5 | 1936 | 1939 | 80 | 22 | 18 | 40 | 112 | 163 | 62 | - | - | - |
| Fakel Voronezh[19] | Nga | 2 | 1961 | 1985 | 66 | 20 | 17 | 29 | 63 | 83 | 57 | - | - | - |
| Trudovye Rezervy Leningrad | Nga | 3 | 1954 | 1956 | 68 | 16 | 23 | 29 | 82 | 113 | 55 | - | - | - |
| Volga Gorky[20] | Nga | 3 | 1951 | 1964 | 85 | 14 | 27 | 44 | 58 | 143 | 55 | - | - | - |
| Spartak Tbilisi | Gruzia | 2 | 1950 | 1951 | 64 | 21 | 11 | 32 | 82 | 109 | 53 | - | - | - |
| Spartak Vladikavkaz | Nga | 2 | 1970 | 1991 | 62 | 16 | 16 | 30 | 64 | 89 | 48 | - | - | - |
| Dinamo Odesa | Ukraine | 2 | 1938 | 1939 | 51 | 16 | 13 | 22 | 64 | 102 | 45 | - | - | - |
| SKA Odesa | Ukraine | 2 | 1965 | 1966 | 68 | 4 | 19 | 45 | 38 | 121 | 27 | - | - | - |
| Metallurg Zaporizhya | Ukraine | 1 | 1991 | 1991 | 30 | 9 | 7 | 14 | 27 | 38 | 25 | - | - | - |
| VMS Moscow | Nga | 1 | 1951 | 1951 | 28 | 7 | 9 | 12 | 30 | 50 | 23 | - | - | - |
| Tavriya Simferopol | Ukraine | 1 | 1981 | 1981 | 34 | 8 | 7 | 19 | 27 | 54 | 23 | - | - | - |
| Selmash Kharkiv | Ukraine | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 8 | 6 | 11 | 34 | 45 | 22 | - | - | - |
| Uralmash Sverdlovsk | Nga | 1 | 1969 | 1969 | 34 | 7 | 8 | 19 | 19 | 39 | 22 | - | - | - |
| Stalinets Moscow | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 8 | 5 | 12 | 36 | 44 | 21 | - | - | - |
| Lokomotyv Kyiv | Ukraine | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 8 | 5 | 12 | 43 | 64 | 21 | - | - | - |
| Shinnik Yaroslavl | Nga | 1 | 1964 | 1964 | 32 | 6 | 9 | 17 | 20 | 48 | 21 | - | - | - |
| Dynamo Rostov-on-Don | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 7 | 6 | 12 | 39 | 43 | 20 | - | - | - |
| Temp Baku | Azerbaijan | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 6 | 8 | 11 | 33 | 40 | 20 | - | - | - |
| Spartak Leningrad | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 6 | 8 | 11 | 30 | 39 | 20 | - | - | - |
| Kalev Tallinn | Estonia | 2 | 1960 | 1961 | 58 | 3 | 14 | 41 | 46 | 146 | 20 | - | - | - |
| Dynamo Kirovabad | Azerbaijan | 1 | 1968 | 1968 | 38 | 5 | 9 | 24 | 25 | 59 | 19 | - | - | - |
| Guria Lanchkhuti | Gruzia | 1 | 1987 | 1987 | 30 | 5 | 8 | 17 | 18 | 38 | 18 | - | - | - |
| Spartak Kharkiv | Ukraine | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 5 | 7 | 13 | 43 | 63 | 17 | - | - | - |
| Zenit (Bolshevik) Leningrad | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 7 | 3 | 15 | 35 | 57 | 17 | - | - | - |
| ODO Sverdlovsk | Nga | 1 | 1956 | 1956 | 22 | 6 | 4 | 12 | 31 | 45 | 16 | - | - | - |
| Pishchevik Moscow | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 5 | 6 | 14 | 25 | 53 | 16 | - | - | - |
| Lokomotivi Tbilisi | Gruzia | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 5 | 5 | 15 | 44 | 62 | 15 | - | - | - |
| Đội tuyển thành phố Kalinin | Nga | 1 | 1952 | 1952 | 13 | 5 | 4 | 4 | 19 | 19 | 14 | - | - | - |
| Burevestnik Moscow | Nga | 1 | 1938 | 1938 | 25 | 4 | 4 | 17 | 28 | 87 | 12 | - | - | - |
1Hai điểm cho một trận thắng. Năm 1973, một điểm cho một trận hòa chỉ được trao cho đội thắng trong loạt sút luân lưu sau đó. Trong giai đoạn 1978–1988, số lượng trận hòa được tính điểm bị giới hạn.
Các huấn luyện viên tốt nhất
| Hạng | Tên | Huy chương | Các câu lạc bộ vô địch | ||
|---|---|---|---|---|---|
| Vàng | Bạc | Đồng | |||
| 1 | Valeriy Lobanovsky | 7 | 4 | 2 | Dynamo Kyiv |
| 2 | Mikhail Yakushin | 6 | 6 | 1 | Dynamo Moscow |
| 3 | Boris Arkadiev | 6 | 2 | 2 | CSKA Moscow (5), Dynamo Moscow (1) |
| 4 | Viktor Maslov | 4 | 4 | - | Dynamo Kyiv (3), Torpedo Moscow (1) |
| 5 | Nikita Simonyan | 3 | 2 | 2 | Spartak Moscow (2), Ararat Yerevan (1) |
| 6 | Konstantin Beskov | 2 | 7 | 2 | Spartak Moscow |
| 7 | Aleksandr Sevidov | 2 | 2 | 2 | Dynamo Kyiv (1), Dynamo Moscow (1) |
| 8-9 | Nikolay Gulyayev | 2 | 2 | 1 | Spartak Moscow |
| Konstantin Kvashnin | 2 | 2 | 1 | Spartak Moscow (1), Dynamo Moscow (1) | |
| 10-11 | Vasily Sokolov | 2 | 1 | - | Spartak Moscow |
| Pavel Sadyrin | 2 | 1 | - | Zenit Leningrad (1), CSKA Moscow (1) | |
Ghi chú:
- Các câu lạc bộ hiển thị là những đội mà các huấn luyện viên liệt kê đã lọt vào top 3, ví dụ: Beskov đã giành được hai chức vô địch Top league và đều với Spartak, nhưng ông cũng dẫn dắt Dynamo đội mà ông đã giành ngôi á quân giải đấu.
Các giải thưởng và giải thưởng
Bắt đầu từ năm 1958, bên cạnh các huy chương của giải vô địch Liên Xô thông thường, những người tham gia còn được trao một số giải thưởng (~ 18 giải thưởng thường xuyên) được thành lập bởi các tổ chức thể thao và công chúng khác nhau, các tòa soạn báo và tạp chí.
| Giải thưởng | Người sáng lập | Năm |
|---|---|---|
| Cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất năm | Tuần báo "Futbol" | 1964—1991 |
| Thủ môn xuất sắc nhất năm | Tạp chí "Ogonyok" | 1960—1991 |
| Vua phá lưới xuất sắc nhất | Báo "Trud" | 1958—1991 |
| Hiệp sĩ tấn công | Tạp chí "Sovetskiy voin" | 1984—1991 |
| Lòng trung thành với câu lạc bộ | Báo Kyiv "Prapor kommunizma" | 1986—1989 |
| Tân binh xuất sắc nhất mùa giải | Tạp chí "Smena" | 1964—1975 |
| Người mới xuất sắc nhất | Tạp chí "Sportivnye igry" | 1986—1991 |
| Dành cho người kiến tạo tấn công | "Stroitelnaya gazeta" | 1988—1989 |
| Với cả hai đội hình | Liên đoàn bóng đá (Phân ban) của Liên Xô | 1958—1991 |
| Giải thưởng kỷ niệm Grigoriy Fedotov | CSKA | 1958—1991 |
| Vì lối chơi đẹp | Báo "Sovetskiy sport" | 1958—1969 |
| Lối chơi đẹp (Fair Play) | Tạp chí "Chelovek i zakon" | 1974—1991 |
| Tỷ số lớn | Tuần báo "Futbol" | 1961—1991 |
| Vì ý chí chiến thắng | Báo "Sovetskaya Rossiya" | 1962—1991 |
| Vì hiệu số bàn thắng bại tốt nhất | Tạp chí Ukraine "Start" | 1966—1991 |
| Vị khách thách thức | Báo Kyiv "Komsomolskoye znamya" | 1966—1991 |
| Nỗi kinh hoàng của các đại gia[a] | Tuần báo "Sportivnaya Moskva" | 1976—1991 |
| Danh dự cho lá cờ | Báo Alma-Ata "Leninskaya smena" | 1969—1978 |
| Cúp của sự tiến bộ | Báo Kyiv "Rabochaya gazeta" | 1971—1991 |
| Cùng với một đội bóng | Đoàn chủ tịch Liên đoàn bóng đá của các hiệp hội thể thao công đoàn | 1978—1990 |
| Đỉnh cao đầu tiên | Báo "Sotsialisticheskaya industriya" | 1983—1991 |
| Vì sự cao thượng và dũng cảm | Tạp chí Leningrad "Avrora" | 1987—1989 |
| Vì bàn thắng đẹp nhất mùa giải | Báo "Moskovskiy komsomolets" chương trình truyền hình "Futbolnoye obozreniye" | 1964—1991 |
Giải vô địch bóng đá Liên Xô dành cho đội dự bị
| Mùa giải | Vô địch | Á quân | Hạng 3 | Vua phá lưới |
|---|---|---|---|---|
| 1945 | Dinamo Moscow (1) | ? | ? | |
| 1946 | Spartak Moscow (1) | Dinamo Tbilisi | Dinamo Moscow | |
| 1947 | CSKA Moscow (1) | Dinamo Moscow | Dinamo Kyiv | |
| 1948 | CSKA Moscow (2) | Spartak Moscow | VVS Moscow | |
| 1949 | Dinamo Kyiv (1) | CSKA Moscow | Spartak Moscow | |
| 1950 | CDKA Moscow (3) | VVS Moscow | Spartak Moscow | |
| 1951 | CDKA Moscow (4) | Dinamo Moscow | VVS Moscow | |
| 1952 | Dinamo Moscow (2) | Dinamo Kyiv | Krylia Sovetov Kuibyshev | |
| 1953 | Spartak Moscow (2) | Lokomotiv Moscow | Dinamo Kyiv | |
| 1954 | Spartak Moscow (3) | CDSA Moscow | Lokomotiv Moscow | |
| 1955 | Spartak Moscow (4) | Dinamo Tbilisi | CDSA Moscow | |
| 1956 | Spartak Moscow (5) | Dinamo Moscow | Lokomotiv Moscow | |
| 1957 | Dinamo Moscow (3) | Spartak Moscow | CSK MO Moscow | |
| 1958 | Spartak Moscow (6) | Dinamo Moscow | Zenit Leningrad | |
| 1959 | Torpedo Moscow (1) | CSK MO Moscow | Spartak Moscow | |
| 1960 | CSKA Moscow (5) | Dinamo Moscow | Dinamo Kyiv | |
| 1961 | Spartak Moscow (7) | SKA Rostov-na-Donu | Dinamo Kyiv | |
| 1962 | Spartak Moscow (8) | Dinamo Kyiv | Dinamo Moscow | |
| 1963 | Dinamo Kyiv (2) | CSKA Moscow | Dinamo Tbilisi | |
| 1964 | Dinamo Tbilisi (1) | Dinamo Kyiv | CSKA Moscow | |
| 1965 | Dinamo Kyiv (3) | Lokomotiv Moscow | CSKA Moscow | |
| 1966 | Dinamo Kyiv (4) | Dinamo Tbilisi | Neftchi Baku | |
| 1967 | Shakhter Donetsk (1) | Dinamo Kyiv | Dinamo Moscow | |
| 1968 | Dinamo Kyiv (5) | Shakhter Donetsk | Dinamo Moscow | |
| 1969 | Shakhter Donetsk (2) | Dinamo Moscow | CSKA Moscow | |
| 1970 | Dinamo Moscow (4) | Spartak Moscow | CSKA Moscow | |
| 1971 | Dinamo Moscow (5) | SKA Rostov-na-Donu | CSKA Moscow | |
| 1972 | Dinamo Kyiv (6) | Torpedo Moscow | Karpaty Lviv | |
| 1973 | FC Ararat Yerevan (1) | Kairat Alma-Ata | CSKA Moscow | |
| 1974 | Dinamo Kyiv (7) | Dinamo Moscow | Chernomorets Odesa | |
| 1975 | Torpedo Moscow (2) | Spartak Moscow | Dinamo Kyiv | |
| 1976 | Dinamo Kyiv (8) | Shakhter Donetsk | Karpaty Lviv | |
| 1977 | Dinamo Kyiv (9) | Shakhter Donetsk | Torpedo Moscow | |
| 1978 | Dinamo Tbilisi (2) | CSKA Moscow | Dinamo Kyiv | |
| 1979 | CSKA Moscow (6) | Neftchi Baku | Dinamo Kyiv | |
| 1980 | Dinamo Kyiv (10) | Dinamo Moscow | Spartak Moscow | |
| 1981 | Dinamo Kyiv (11) | Dinamo Tbilisi | Zenit Leningrad | |
| 1982 | Dinamo Kyiv (12) | Spartak Moscow | Dinamo Minsk | |
| 1983 | Dinamo Kyiv (13) | CSKA Moscow | Dinamo Moscow | |
| 1984 | Dnepr Dnepropetrovsk (1) | Dinamo Kyiv | Dinamo Tbilisi | |
| 1985 | Dinamo Kyiv (14) | Spartak Moscow | Torpedo Moscow | |
| 1986 | Spartak Moscow (9) | Dnepr Dnepropetrovsk | Dinamo Kyiv | |
| 1987 | Dnepr Dnepropetrovsk (2) | Spartak Moscow | Zalgiris Vilnius | |
| 1988 | Dinamo Moscow (7) | Dinamo Kyiv | Spartak Moscow | |
| 1989 | Dinamo Minsk (1) | Spartak Moscow | Dnepr Dnepropetrovsk | |
| 1990 | Dinamo Kyiv (15) | Dnepr Dnepropetrovsk | Spartak Moscow | |
| 1991 | Dnepr Dnepropetrovsk (3) | Dinamo Minsk | Spartak Moscow | |
Ghi chú
- ↑ Kẻ gây rắc rối cho các đội bóng nổi tiếng (đội cửa trên)
Tham khảo
- ↑ tiếng Ukraina: Вища ліга, đã Latinh hoá: Vyshcha Liga; tiếng Belarus: Вышэйшая ліга, đã Latinh hoá: Vysheyshaya Liga
- ↑ Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc từ Tổng thống Liên bang Nga
- ↑ Bühler, Konrad G. (2001). State Succession and Membership in International Organizations. Legal Aspects of International Organization Series. Quyển 38. Martinus Nijhoff Publishers. tr. 158–64. ISBN 9789041115539.
- 1 2 3 4 5 6 7 Keys, B.J.; Keys, A.P.U.S.I.H.B.J. (2006). Globalizing Sport: National Rivalry and International Community in the 1930s. Harvard historical studies. Harvard University Press. tr. 175. ISBN 978-0-674-02326-0.
- ↑ Vartanian, A. 1936. Đứa con của "Spartak" và Komsomol (ГОД 1936. ДЕТИЩЕ "СПАРТАКА" И КОМСОМОЛА). Sport-Express. 2005
- 1 2 3 4 5 6 Edelman, R. (2012). Spartak Moscow: A History of the People's Team in the Workers' State. Cornell University Press. tr. 112. ISBN 978-0-8014-6613-7.
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên CDKA Moscow, CDSA Moscow, và CSK MO Moscow, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Stalinets Leningrad, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Stakhanovets Stalino, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Dynamo Yerevan và Spartak Yerevan, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Neftyanik Baku, xem lịch sử câu lạc bộ tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên SKVO Rostov-on-Don, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Zenit Kuybyshev, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Avangard Kharkiv, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Spartak Vilnius, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Traktor Stalingrad và Torpedo Stalingrad, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Burevestnik Kishinev và Moldova Kishinev, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Krasnaya Zarya Leningrad, xem lịch sử câu lạc bộ tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Trud Voronezh, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
- ↑ Bao gồm các lần xuất hiện dưới tên Torpedo Gorky, xem lịch sử câu lạc bộ Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2007 tại Wayback Machine tại KLISF
Liên kết ngoài
- USSR (Soviet Union) – Final Tables, rsssf.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2006.
- Cổng thông tin Nga về bóng đá Liên Xô, sovfootball.ru.
- Các bảng xếp hạng bóng đá Liên Xô và Nga
- Một cơ sở dữ liệu phong phú về biên bản trận đấu và thống kê (bằng tiếng Nga)
- Thư viện phương tiện truyền thông của bóng đá Liên Xô
- Thư viện phương tiện truyền thông của bóng đá Liên Xô trên VK
Bản mẫu:Soviet Top League SeasonsBản mẫu:Bóng đá tại Liên XôBản mẫu:Các giải đấu UEFABản mẫu:Các giải thể thao hàng đầu tại Liên Xô
- Giải bóng đá Vô địch Quốc gia Liên Xô
- Các giải bóng đá hạng cao nhất đã giải thể ở châu Âu
- Giải bóng đá tại Liên Xô
- Tổ chức thành lập năm 1936 tại Liên Xô
- Tổ chức giải thể năm 1991 tại Liên Xô