Bước tới nội dung

Giản tần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Nhân Tông Giản tần
清仁宗简嬪
Gia Khánh Đế tần
Thông tin chung
Sinh?
Mất?
An táng17 tháng 10 năm 1803
Phi viên tẩm của Xương lăng
Phu quânThanh Nhân Tông
Gia Khánh Hoàng đế
Tước hiệu[Quan nữ tử; 官女子]
[Cách cách; 格格]
[Giản tần; 简嬪]
(truy phong)
Thân phụĐức Thành

Giản tần Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị (chữ Hán: 简嫔苏完瓜尔佳氏, ? - ?), cũng phiên thành Quan Giai thị (关佳氏) là một phi tần của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế.

Thân thế

Căn cứ theo ghi chép trong hồ sơ, gia tộc xuất thân của Giản tần là người thuộc “Nội vụ phủ Tương Hoàng kỳ Tường Thụy Tá lĩnh” (内务府镶黄旗祥瑞佐领), dùng thông tin này tra cứu hồ sơ hộ khẩu Nội vụ phủ, tra được thông tin gia tộc là họ Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị (苏完瓜尔佳氏) thuộc "Tương Hoàng kỳ Bao y Đệ tam Tham lĩnh Đệ ngũ Mãn Châu Tá lĩnh hạ nhân". Vì Kỳ nhân Nội vụ phủ có thói quen dùng họ Hán đơn tự, nên sau giữa thời Thanh gia tộc này lấy “Quan” (关) làm họ, đây cũng là nguyên nhân họ của Giản tần cũng được viết là Quan Giai thị (关佳氏).

Họ Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị thuộc "Tương Hoàng kỳ Bao y Đệ tam Tham lĩnh Đệ ngũ Mãn Châu Tá lĩnh" là một gia tộc to lớn, nhân khẩu đông đúc, nhưng trên con đường hoạn lộ lại không mấy nổi bật. Cha của Giản tần tên là Đức Thành (德成), là Nội vụ phủ Bách Đường A (内务府柏唐阿), đây là một chức tạp dịch Nội vụ phủ không có phẩm cấp. Em trai của Giản tần tên là Ái Bảo (爱保), cũng là Nội vụ phủ Bách Đường A[1]. Nhìn chung, gia tộc xuất thân của Giản tần tuy nhân khẩu đông đúc, nhưng đều thuộc tầng lớp sai phái, binh đinh của Nội vụ phủ.[2]

Nhập cung

Giản tần xuất thân là người thuộc Tương Hoàng kỳ Bao y Tá lĩnh hạ nhân, cho nên bà lẽ ra là Quan nữ tử được tuyển vào trong cung, hầu hạ tại tiềm để của Gia Khánh, vì cớ nào đó mà được thu làm thiếp thất.

Giản tần là Cách cách thời Gia Khánh còn ở tiềm để, giống như Hòa Dụ Hoàng quý phi, có khả năng là một trong những thiếp thất thời kỳ đầu của Gia Khánh. Bà đã sinh cho Gia Khánh con gái thứ nhất, nhưng lại yểu chết khi mới 4 tuổi. Giản tần hoăng thệ vào những năm Càn Long, không thể đợi được đến khi Gia Khánh tức vị.

Truy phong

Năm Càn Long thứ 60 (1796), Càn Long Đế chỉ định Gia Thân vương làm Hoàng thái tử. Sang năm (1796), tháng giêng, Hoàng thái tử Vĩnh Diễm nối ngôi, tức [Gia Khánh Đế]. Càn Long Đế thoái vị, trở thành Thái Thượng hoàng.

Sau khi đăng cơ, vào ngày 22 tháng 4 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 2 (1797), tặng Hoàng thái tử Cách cách Quan Giai thị làm Giản tần (简嫔). Căn cứ Hồng xưng thông dụng, phong hiệu "Tốn" của Quan Giai thị có âm Mãn là 「kemungge」[3], ý là “Vừa phải”“Tiết chế”.

Chỉ dụ tặng làm Tần cho Quan Giai thị của Gia Khánh Đế năm đó:

Đến ngày 17 tháng 10 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 8 (1803), kim quan của Giản tần mới được đưa vào an táng tại phi viên tẩm của Xương lăng.

Tham khảo

  1. 《为追封恕妃简嫔逊嫔谢恩事呈文》,嘉庆二年五月二十三日,档案号:05-0467-018,中国第一历史档案馆藏。
  2. 此段苏完瓜尔佳氏谱系,整理自《清代谱牒档案(缩微胶卷)》。
  3. 《为侧福晋完颜氏追封为恕妃关氏格格追封简嫔沈氏格格追封逊嫔抄录原奉清字粘单事致内务府》,嘉庆二年四月,档案号:05-13-002-000075-0135,中国第一历史档案馆藏。