Giản tần
| Thanh Nhân Tông Giản tần 清仁宗简嬪 | |
|---|---|
| Gia Khánh Đế tần | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | ? |
| Mất | ? |
| An táng | 17 tháng 10 năm 1803 Phi viên tẩm của Xương lăng |
| Phu quân | Thanh Nhân Tông Gia Khánh Hoàng đế |
| Tước hiệu | [Quan nữ tử; 官女子] [Cách cách; 格格] [Giản tần; 简嬪] (truy phong) |
| Thân phụ | Đức Thành |
Giản tần Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị (chữ Hán: 简嫔苏完瓜尔佳氏, ? - ?), cũng phiên thành Quan Giai thị (关佳氏) là một phi tần của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế.
Thân thế
Căn cứ theo ghi chép trong hồ sơ, gia tộc xuất thân của Giản tần là người thuộc “Nội vụ phủ Tương Hoàng kỳ Tường Thụy Tá lĩnh” (内务府镶黄旗祥瑞佐领), dùng thông tin này tra cứu hồ sơ hộ khẩu Nội vụ phủ, tra được thông tin gia tộc là họ Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị (苏完瓜尔佳氏) thuộc "Tương Hoàng kỳ Bao y Đệ tam Tham lĩnh Đệ ngũ Mãn Châu Tá lĩnh hạ nhân". Vì Kỳ nhân Nội vụ phủ có thói quen dùng họ Hán đơn tự, nên sau giữa thời Thanh gia tộc này lấy “Quan” (关) làm họ, đây cũng là nguyên nhân họ của Giản tần cũng được viết là Quan Giai thị (关佳氏).
Họ Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị thuộc "Tương Hoàng kỳ Bao y Đệ tam Tham lĩnh Đệ ngũ Mãn Châu Tá lĩnh" là một gia tộc to lớn, nhân khẩu đông đúc, nhưng trên con đường hoạn lộ lại không mấy nổi bật. Cha của Giản tần tên là Đức Thành (德成), là Nội vụ phủ Bách Đường A (内务府柏唐阿), đây là một chức tạp dịch Nội vụ phủ không có phẩm cấp. Em trai của Giản tần tên là Ái Bảo (爱保), cũng là Nội vụ phủ Bách Đường A[1]. Nhìn chung, gia tộc xuất thân của Giản tần tuy nhân khẩu đông đúc, nhưng đều thuộc tầng lớp sai phái, binh đinh của Nội vụ phủ.[2]
Nhập cung
Giản tần xuất thân là người thuộc Tương Hoàng kỳ Bao y Tá lĩnh hạ nhân, cho nên bà lẽ ra là Quan nữ tử được tuyển vào trong cung, hầu hạ tại tiềm để của Gia Khánh, vì cớ nào đó mà được thu làm thiếp thất.
Giản tần là Cách cách thời Gia Khánh còn ở tiềm để, giống như Hòa Dụ Hoàng quý phi, có khả năng là một trong những thiếp thất thời kỳ đầu của Gia Khánh. Bà đã sinh cho Gia Khánh con gái thứ nhất, nhưng lại yểu chết khi mới 4 tuổi. Giản tần hoăng thệ vào những năm Càn Long, không thể đợi được đến khi Gia Khánh tức vị.
Truy phong
Năm Càn Long thứ 60 (1796), Càn Long Đế chỉ định Gia Thân vương làm Hoàng thái tử. Sang năm (1796), tháng giêng, Hoàng thái tử Vĩnh Diễm nối ngôi, tức [Gia Khánh Đế]. Càn Long Đế thoái vị, trở thành Thái Thượng hoàng.
Sau khi đăng cơ, vào ngày 22 tháng 4 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 2 (1797), tặng Hoàng thái tử Cách cách Quan Giai thị làm Giản tần (简嫔). Căn cứ Hồng xưng thông dụng, phong hiệu "Tốn" của Quan Giai thị có âm Mãn là 「kemungge」[3], ý là “Vừa phải” và “Tiết chế”.
Chỉ dụ tặng làm Tần cho Quan Giai thị của Gia Khánh Đế năm đó:
| “ | 从前朕之侧福晋完颜氏、格格关氏、沈氏,或系皇父指赏,或生有公主,今俱已溘逝著加恩将侧福晋完颜氏追封恕妃,格格关氏追封简嫔,格格沈氏追封逊嫔,交内务府大臣内等,按其追封品级,照例办理,暂停于静安庄之傍所,俟万年吉地完竣,再随同皇后梓宫送往。 . Đi theo Trẫm từ Tiềm để có Trắc Phúc tấn Hoàn Nhan thị, Cách cách Quan thị, Cách cách Thẩm thị, hoặc được Hoàng phụ ban thưởng, hoặc sinh dục Công chúa, nay đều đã sớm qua đời, nên nhớ đến mà truy phong. Do đó Trắc Phúc tấn Hoàn Nhan thị truy phong Thứ phi, Cách cách Quan thị truy làm Giản tần, Cách cách Thẩm thị truy làm Tốn tần. Giao cho các Nội vụ phủ Đại thần hãy ấn vào phẩm cấp truy phong mà xử lý theo lệ đã có sẵn. Tạm thời cứ sử dụng phòng bên cạnh của Tĩnh An trang làm việc tang và truy phong, đến khi Vạn Niên Cát Địa hoàn tất, đều cùng phụ táng theo Tử cung của Hoàng hậu (ý chỉ Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu) vào bên trong. | ” |
| — Chỉ dụ truy tặng Tiềm đề cố thiếp của Gia Khánh đế | ||
Đến ngày 17 tháng 10 (âm lịch) năm Gia Khánh thứ 8 (1803), kim quan của Giản tần mới được đưa vào an táng tại phi viên tẩm của Xương lăng.