Gaston Phạm Ngọc Thuần
Gaston Phạm Ngọc Thuần | |
|---|---|
Phạm Ngọc Thuần tại Paris, năm 1996 | |
Chức vụ | |
Chủ nhiệm Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài | |
| Nhiệm kỳ | 1963 – 1971 |
| Kế nhiệm | Nguyễn Khánh Toàn |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
| Nhiệm kỳ | 1958 – 1963 |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Song Tùng[1] |
| Kế nhiệm | Bùi Lâm |
| Vị trí | Cộng hòa Dân chủ Đức |
Vụ trưởng Vụ Pháp và phương Tây | |
| Nhiệm kỳ | 1954 – 1956 |
| Tiền nhiệm | Bùi Lâm |
| Kế nhiệm | Trần Trọng Quát |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ | |
| Nhiệm kỳ | 1948 – 1949 |
| Kế nhiệm | Dương Quốc Chính |
| Vị trí | Quân khu 7, 8 và 9 |
Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ | |
| Nhiệm kỳ | 1946 – 1948 |
| Chủ tịch | Phạm Văn Bạch |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 14 tháng 5, 1914 Bến Tre, Nam Kỳ, Đông Dương |
| Mất | 20 tháng 2, 2002 (87 tuổi) Paris, Pháp |
| Nghề nghiệp | Chính trị gia |
| Tôn giáo | Công giáo |
| Đảng chính trị | Đảng Cộng sản Đông Dương 14 tháng 7, 1946 |
| Vợ | Bùi Thị Cẩm |
| Họ hàng | Phạm Ngọc Thảo (em trai) |
| Học vấn | Đại học Panthéon-Sorbonne Đại học Sorbonne |
Binh nghiệp | |
| Phục vụ | Quân đội Pháp (1941–1942) Quân đội Nhân dân Việt Nam (1946–1954) |
| Tham chiến | |
Gaston Phạm Ngọc Thuần (1914–2002) là một luật gia, chính trị gia, nhà ngoại giao người Pháp gốc Việt Nam. Nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Dân chủ Đức, Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ.
Tiểu sử
Gia đình
Gaston Phạm Ngọc Thuần sinh ngày 14 tháng 5 năm 1914 tại Tân Hào Đông, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre trong một gia đình Công giáo, đại địa chủ.[2] Ông là con trai thứ 3 trong số 11 anh chị em gồm bảy trai và bốn gái.[3] Gia đình ông chủ yếu sử dụng tiếng Pháp trong giao tiếp.[3] Cha của ông là Adrien Phạm Ngọc Thuần (1882–1970) một công chức quốc tịch Pháp, kỹ sư trắc địa vốn theo Phật giáo nhưng cải đạo sang Công giáo theo vợ – bà Martha Nguyễn Thị Giai (1883–1963),[3][4] trong các em trai của ông có tướng tình báo Phạm Ngọc Thảo (Albert Phạm Ngọc Thuần).[4] Trên thực tế, Gaston và các anh chị em đều có tên chung của cha là Phạm Ngọc Thuần, chỉ khác tên tây.[5][3]
Năm 1941, Phạm Ngọc Thuần lập gia đình với luật sư, tiến sĩ Bùi Thị Cẩm, người được xem là nữ trạng sư đầu tiên của Việt Nam.[6][3] Thời gian đầu họ định cư tại Đường Legrand de la Liraye (đường Điện Biên Phủ, phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh).[3]
Học vấn
Năm 1921, Phạm Ngọc Thuần khi đó bảy tuổi được cha đưa sang Pháp cùng anh trai là Henri Phạm Ngọc Thuần, họ theo học tại trường Lycée Saint-Charles ở Marseille.[3] Một thời gian sau, ông về nước học tại Trường dòng Taberd (Brothers of the Christian Schools)[6] đến tháng 5 năm 1926, ông tiếp tục sang Pháp học phổ thông tại Lycée Gay-Lussac ở Limoges, quen biết Bùi Thị Cẩm và Phan Khắc Sửu. Trong thời gian này Phạm Ngọc Thuần cũng quen biết và thân thiết với kỹ sư nông nghiệp Bùi Quang Chiêu – chủ tịch Đảng Lập hiến Đông Dương – bác của vợ của ông trong tương lai.[3]
Từ năm 1927 đến 1929, Phạm Ngọc Thuần và các anh em được chuyển đến các trường công giáo ở Montpellier để tránh những bạn học có tư tưởng bài trừ giáo sĩ.[3] Năm 1930, ông về nước học tại Chasseloup Laubat – cùng lớp với Marguerite Duras.[6][3]
Sau khi đậu tú tài năm 1933, Phạm Ngọc Thuần sang Paris du học luật tại Đại học Panthéon đến năm 1938.[3][2] Ông học đậu cử nhân luật công pháp và tư pháp quốc tế, rồi tiếp tục học bậc tiến sĩ luật và được nhận vào Đoàn Luật sư Paris; ngoài ra ông còn học Tâm lý tại Đại học Sorbonne. Trong khoảng thời gian này, ông đã tiếp xúc với Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Bích, Ngô Đình Nhu, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Hà và Nguyễn Văn Hiếu.[3] Vì mang quốc tịch Pháp[3] nên ông cũng bắt buộc phải học và đỗ khóa huấn luyện quân sự của Pháp.[2]
Sự nghiệp
Sĩ quan quân đội Pháp
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tháng 9 năm 1939, ông xin nhập ngũ vào quân đội Pháp dù không đủ điều kiện vì chấn thương đầu gối, được điều động vào học tại Trường Sĩ quan lưu hậu, khi ra trường được phong quân hàm thiếu úy và chiến đấu ở mặt trận miền Đông nước Pháp trong cuộc chiến tranh Đức – Pháp.[3][2] Ông kết bạn với một đồng đội người Pháp, sau này là Hạ nghị sĩ Jean Daniel Jurgensen (1917-1987).[3]
Tháng 6 năm 1940, Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng nên ông xuất ngũ và tiếp tục chương trình tiến sĩ vào tháng 10 cùng năm.[3] Ngày 5 tháng 5 năm 1941, Phạm Ngọc Thuần và vợ – Bùi Hồng Cẩm trở về Sài Gòn. Cuối năm 1941, ông được chiêu mộ tham gia Chiến tranh Pháp – Thái trong bộ phận quân y.[3]
Hoạt động chính trị – pháp luật
Năm 1942, Phạm Ngọc Thuần giải ngũ, hoàn thành khóa thực tập luật tại Sài Gòn, sau đó là tại Rạch Giá.[3] Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, khi đang làm luật sư thực tập ở Sài Gòn, ông tham gia lập tòa án thay thế bộ máy tòa án Pháp đang bị quân đội Nhật Bản bỏ tù. Ngày 29 tháng 5 năm 1945, Thống đốc Fujio Minoda cử Phạm Ngọc Thuần làm Tổng Chưởng lý, Phụ tá Công tố của Tòa Sơ thẩm Sài Gòn, chức vụ ông giữ đến cho tới sau khi lực lượng Việt Minh tiếp quản từ tháng 8 cùng năm.[3][2] Trước đó, Phạm Ngọc Thuần chưa từng có ý định tham gia bất cứ đảng phải nào kể cả Đảng Lập hiến Đông Dương của Bùi Quang Chiêu. Năm 1946, ông từ chối lời mời của Nguyễn Văn Thinh – thủ tướng của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ.[3]
Tháng 9 năm 1945, Pháp tái chiếm Việt Nam, các cơ quan Xứ bộ Nam Bộ của Việt Minh dời từ Sài Gòn về Mỹ Tho, Phạm Ngọc Thuần tham gia các phong trào kháng chiến và được mời làm cố vấn Ủy ban Kháng chiến quận An Hóa rồi làm Hội thẩm chuyên môn Tòa án quân sự tỉnh Mỹ Tho. Tháng 01 năm 1946, quân đội Pháp đánh chiếm Cai Lậy, ông bí mật lên miền Đông, gặp người bạn là Thái Văn Lung và được tiếp nhận vào đoàn tập kết ra Bắc, nhưng do chiến tranh ngày càng ác liệt nên hai ông ở lại Gia Định, công tác ở Đại đội 15 – Chi đội 6, còn gọi là Bộ đội Thái Văn Lung đóng quân tại Bình Thái, Gia Định. Ông công tác tại đây trong tháng 3 và tháng 4 năm 1946.[3][2]
Tháng 5 và tháng 6 năm 1946, Phạm Ngọc Thuần được chỉ định làm Phó ban Tuyên truyền tỉnh Gia Định. Cái chết của Thái Văn Lung là một động lực để Phạm Ngọc Thuần gia nhập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 14 tháng 7 năm 1946 tại An Phú Đông – Gia Định. Người giới thiệu ông ông vào Đảng là Lý Chính Thắng.[2][3] Phạm Ngọc Thuần được điều động về miền Tây nhận nhiệm vụ mới. Tháng 9 năm 1946, ông được cử giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Nam Bộ. Trong thời gian Chủ tịch Phạm Văn Bạch ra bắc công tác, ông được phân công làm Quyền Chủ tịch cho đến tháng 7 năm 1948.[7][2]
Năm 1947, Phạm Ngọc Thuần bắt đầu liên kết các nhóm Công giáo tại miền nam và thành lập Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ.[3] Từ năm 1950 đến 1954, ông được phân công làm Phó Hội trưởng Công giáo Kháng chiến Nam Bộ và kiêm Bí thư Đảng đoàn Công giáo Kháng chiến từ 1951 đến 1954, trực tiếp mở hai lớp huấn luyện cho cán bộ Công giáo cấp họ (cấp xã) và cấp tỉnh vào năm 1950 đến 1951.[2]
Ngày 15 tháng 02 năm 1948, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm 1 trong số 11 ủy viên Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ, trong số này còn có Phạm Văn Bạch, Nguyễn Thanh Sơn, Kha Vạng Cân, Ung Văn Khiêm. Đồng thời, ông và Nguyễn Bình giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ.[7] Phạm Ngọc Thuần tiếp tục giữ vai trò này trong nhiệm kỳ thứ hai từ tháng 10 năm 1949.[8] Từ năm 1948 Phạm Ngọc Thuần được bổ nhiệm làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ phụ trách 3 quân khu 7, 8 và 9.[9][10] Cũng từ năm 1948 cho đến tháng 9 năm 1954, ông còn được bầu làm Ủy viên Đảng đoàn Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam Bộ.[2] Ông có 3 tháng nghỉ phép từ ngày 15 tháng 7 năm 1949, sau đó tiếp tục chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến kiêm Hành chính Nam Bộ, còn Chính ủy Bộ Tư lệnh Nam Bộ được giao lại cho Dương Quốc Chính. Các tài liệu của Pháp có nêu quan điểm không chắc chắn về việc Phạm Ngọc Thuần có tư tưởng, hành động đối lập với tướng Nguyễn Bình và bị nội bộ giám sát.[3] Dấn thân vào kháng chiến, Phạm Ngọc Thuần và những người Công giáo cách mạng tại Nam Bộ tiếp tục thực hành tôn giáo nhờ vào các linh mục và nỗ lực của Nguyễn Thành Vĩnh trong việc vận động các chức sắc tôn giáo tại Sài Gòn công nhận phong trào của họ.[11]:264
Hoạt động ngoại giao
Tháng 9 năm 1954, Phạm Ngọc Thuần tập kết ra Bắc.[12][2] Tháng 10 năm 1954, ông được phân công về Bộ Ngoại giao Việt Nam, giữ chức Vụ trưởng Vụ Pháp và các nước Tây Âu – sau này gọi là Vụ Tây Âu cho đến tháng 8 năm 1956. Trong thời gian này, ông được triệu tập đi học lớp chỉnh huấn khóa II (từ tháng 4 năm 1956 đến tháng 8 năm 1956) tại Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương. Từ năm 1955, ông tham gia Ban Thường vụ Bộ Biên tập báo Le Vietnam démocratique và được phân công tham quan cải cách ruộng đất.[2]
Năm 1956, lớp đào tạo về ngoại giao được thành lập tại trường Bưởi do Ung Văn Khiêm làm Hiệu trưởng, Đinh Nho Liêm làm Phó Hiệu trưởng. Phạm Ngọc Thuần tham gia với vai trò giảng viên.[12]
Năm 1957, Phạm Ngọc Thuần được cử đi học 6 tháng tại Trưởng Đảng Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho nhiệm vụ ngoại giao. Năm 1958, Phạm Ngọc Thuần được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Dân chủ Đức kiêm Bí thư Đảng ủy Đại sứ quán.[2][12] Nhiệm kỳ kết thúc vào năm 1963, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ tại Pháp nhưng đã từ chối.[3] Từ năm 1963 cho đến 1971, Phạm Ngọc Thuần giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài.[2][12]
Từ năm 1971 đến 1972, Phạm Ngọc Thuần được cử đi học lớp chính trị đặc biệt tại Trường Nguyễn Ái Quốc, ông sau đó được được phân công làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương.[2]
Cuối đời
Năm 1974, Phạm Ngọc Thuần xin nghỉ hưu nhưng đã rút lại quyết định khi được Ủy ban tổ chức cán bộ động viên.[3] Từ năm 1975 ông công tác tại Ban Mặt trận – Dân vận Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu chính thức từ ngày 29 tháng 10 năm 1979.[2]
Năm 1982, ông sang Pháp chữa bệnh, định cư tại Paris và lấy quốc tịch Pháp mặc dù vợ ông vẫn ở Việt Nam. Ông tham gia ký tên vào một tâm thư đề nghị Chính phủ Việt Nam cải cách chế độ. Bức thư được công bố vào ngày 22 tháng 1 năm 1990.[3]
Phạm Ngọc Thuần qua đời ngày 20 tháng 2 năm 2002.[3]
Vinh danh
Phạm Ngọc Thuần được đặt tên cho con Đường Số 21 tại Thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, Long An.
Xem thêm
Tham khảo
- ↑ Đại biện lâm thời
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 "Đồng chí Phạm Ngọc Thuần - suốt đời vì lợi ích dân tộc". Trang tin Điện tử Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh. ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 Tran, Claire Thi-Liên (2025). "Gaston Phạm Ngọc Thuần (1914-2002) : de la bourgeoisie cochinchinoise au communisme. Contribution à l'histoire des élites au Viêt Nam au xxe siècle". Moussons. Quyển 46. tr. 147–191. doi:10.4000/159u6. ISSN 1620-3224. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 Hoàng Hải Vân (ngày 21 tháng 12 năm 2012). "Gia thế Phạm Ngọc Thảo". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Hoàng Anh (ngày 12 tháng 9 năm 2004). "Thân thế và sự nghiệp của nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo". Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 "Tiến sĩ Bùi Hồng Cẩm – luật sư nữ đầu tiên của Việt Nam thời Pháp thuộc". Tạp chí Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 "Luật sư Phạm Văn Bạch: Để Nhân dân hưởng lẽ công bằng của chân lý thì thật không gì hạnh phúc bằng". Báo Đại biểu Nhân dân. ngày 4 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Sắc lệnh số 20 của Chủ tịch nước: Sắc lệnh cử ông Phạm Ngọc Thuần làm chính trị viên Bộ tư lệnh Nam bộ". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Lê Hồng Lĩnh (ngày 19 tháng 10 năm 2011). "Lê Đức Thọ - Người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài năng". Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Huỳnh Tho (ngày 8 tháng 10 năm 2025). "Ôn lại truyền thống vẻ vang của đội ngũ luật sư Việt Nam và chặng đường 35 năm Đoàn Luật sư tỉnh Lâm Đồng". Luật sư Việt Nam. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2026.
- ↑ Trân, Claire Thi Liên (2004). "Les catholiques et la République démocratique du Viêt Nam (1945–1954): une approche biographique". Trong Goscha, Christopher E.; de Tréglodé, Benoît (biên tập). Naissance d’un État-Parti: Le Viêt Nam depuis 1945. Les Indes savantes. tr. 253–276. ISBN 9782846540643.
- 1 2 3 4 Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 124, 126, 131.