Emmanuel de Rohan-Polduc
Emmanuel de Rohan-Polduc | |
|---|---|
Chức vụ | |
| Nhiệm kỳ | Ngày 12 tháng 11 năm 1775 – Ngày 14 tháng 7 năm 1797 |
| Tiền nhiệm | Francisco Ximénez de Tejada |
| Kế nhiệm | Ferdinand von Hompesch zu Bolheim |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | Người Pháp |
| Sinh | 18 tháng 4 năm 1725 La Mancha, Tây Ban Nha |
| Mất | 14 tháng 7 năm 1797 (72 tuổi) Valletta, Hiệp sĩ Cứu tế Malta |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
Emmanuel Marie des Neiges de Rohan-Polduc (18 tháng 4 năm 1725, tại La Mancha, Tây Ban Nha – 14 tháng 7 năm 1797, tại Valletta, Hiệp sĩ Cứu tế Malta) là thành viên của nhánh Poulduc thuộc gia tộc Rohan giàu có và có ảnh hưởng của Pháp, đồng thời là Thân vương và Đại thống lĩnh thứ 70 của Hiệp sĩ Cứu tế từ năm 1775 đến năm 1797.
Tiểu sử

Rohan sinh ra ở La Mancha, Tây Ban Nha vào ngày 18 tháng 4 năm 1725. Ông là con trai của Jean-Baptiste de Rohan, Bá tước xứ Poulduc, seigneur de Kercabus, (1691-1755) và vợ ông, Marie Louise de Velthoven.[1] Cha ông là người Pháp, nhưng đã bị lưu đày đến Tây Ban Nha. Ông phục vụ Vua Felipe V của Tây Ban Nha trong Vệ binh Walloon và sau đó phục vụ con trai của Felipe V là Filippo I xứ Parma với tư cách là Chỉ huy Kỵ binh. Ông được cử làm đại sứ của Parma tại triều đình Hoàng đế Franz I của Thánh chế La Mã.[cần dẫn nguồn]
Nhờ một sắc lệnh của Giáo hoàng, Rohan được nhận vào Hiệp sĩ Cứu tế ở Langue của Vương quốc Pháp.[2] Ông được bổ nhiệm làm Chấp hành viên, và năm 1755 là Tổng tư lệnh Hải quân của Hiệp sĩ Cứu tế.[2] Sau cái chết năm 1773 của Đại Thống lĩnh Manuel Pinto da Fonseca, Rohan được coi là người kế nhiệm tiềm năng, nhưng Francisco Ximénez de Tejada đã được bầu chọn thay thế. Triều đại của Ximenes không được lòng dân do sự phá sản của Dòng Hiệp sĩ. Sau cái chết của Ximenes, Rohan được bầu làm Đại Thống lĩnh vào ngày 12 tháng 11 năm 1775.[3] Năm sau, ông triệu tập Đại Hội đồng của Hiệp sĩ Cứu tế, lần đầu tiên được tổ chức kể từ năm 1631.[3]
Rohan tìm cách giành được sự tôn trọng của người dân trên đảo Malta, và ông trở thành một Đại Thống lĩnh được yêu mến. Vào ngày 21 tháng 6 năm 1777, ông nâng làng Żebbuġ lên thành phố, đặt tên là Città Rohan. Huy hiệu của Żebbuġ có huy hiệu của Gia tộc Rohan, để vinh danh Đại Thống lĩnh.[4] Cổng vòm De Rohan kỷ niệm sự kiện này được xây dựng vào năm 1798.[5]
Rohan đã biên soạn Bộ luật Rohan, một cuốn sách luật hiến pháp được xuất bản thành hai tập vào năm 1782. Ông cũng chịu trách nhiệm xuất bản Diritto Municipale vào năm 1784.[6][7]
Rohan đã thiết lập langue Anglo-Bavaria, được đặt tại Palazzo Carniero cũ. Năm 1797, ông thành lập Đại Tu viện Nga, sau này phát triển thành truyền thống Hiệp sĩ Cứu tế Nga.[6]
Năm 1792, Rohan đã ủy nhiệm và tài trợ một phần cho việc xây dựng Pháo đài Tigné.[8] Tháp và Pháo đài St. Lucian cũng được nâng cấp trong thời kỳ Rohan làm Đại thống lĩnh, và khu phức hợp được đổi tên thành Pháo đài Rohan vào năm 1795 theo tên của Đại Thống lĩnh. Nó được xây dựng lại thành Pháo đài San Lucian vào những năm 1870, nhưng vẫn giữ huy hiệu của Rohan trên mặt tiền.[9]
Những năm cuối nhiệm kỳ của Rohan gặp nhiều khó khăn do sự suy tàn của Dòng Hiệp sĩ vì Cách mạng Pháp. Rohan bị đột quỵ vào năm 1792 và sức khỏe bắt đầu suy yếu. Ông qua đời vào ngày 14 tháng 7 năm 1797 và được chôn cất tại Nhà thờ chính tòa Thánh Gioan ở Valletta. Những lời cuối cùng của ông là "Dù sao thì tôi cũng là vị đại giáo chủ cuối cùng, ít nhất là của một dòng hiệp sĩ lừng lẫy và độc lập".[6] Chưa đầy một năm sau khi ông qua đời, người Pháp xâm lược Malta và trục xuất Dòng Hiệp sĩ khỏi hòn đảo.[cần dẫn nguồn]
Tham khảo
- ↑ "Rohan-Pouldu" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2023.
- 1 2 L. F. de Villeneuve-Bargemont, Monumens des Grand Maitres de l'Ordre de Saint Jean de Jérusalem (Paris: J. J. Blaise, 1829), II, 252.
- 1 2 Villeneuve-Bargemont, II, 253.
- ↑ "City of Ħaż Żebbuġ (Malta Island) (Malta)". crwflags.com. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "The De Rohan Arch". Haz-Zebbug.com. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- 1 2 3 "Emmanuel de Rohan (1775-1797)". Haz-Zebbug.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- ↑ Morana, Martin (2011). Bejn Kliem u Storja (bằng tiếng Maltese). Malta: Books Distributors Limited. ISBN 978-99957-0137-6. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2016.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ Spiteri, Stephen C. (2011). "Fort Tigné 1792". Arx - International Journal of Military Architecture and Fortification (1): 20. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- ↑ "Fort San Luċjan" (PDF). National Inventory of the Cultural Property of the Maltese Islands. ngày 16 tháng 12 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
Liên kết ngoài
- Coins of Grandmaster Emmanuel de Rohan Lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2016 tại Wayback Machine
- Sinh năm 1725
- Mất năm 1797
- Đại thống lĩnh Hiệp sĩ Cứu tế
- Hiệp sĩ Malta
- Gia tộc Rohan
- Người Tây Ban Nha gốc Pháp