Bước tới nội dung

Dần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thiên can
MộcHỏaThổKimThủy
DươngGiápBínhMậuCanhNhâm
ÂmẤtĐinhKỷTânQuý
Địa chi
DươngDầnThìnNgọThânTuất
ÂmSửuMãoTỵMùiDậuHợi

Dần (寅) là một trong số 12 chi của Địa chi, thông thường được coi là địa chi thứ ba, đứng trước nó là Sửu, đứng sau nó là Mão.

Lịch sử

Tháng Dần trong nông lịch là tháng giêng.

Về thời gian thì giờ Dần tương ứng với khoảng thời gian từ 03:00 tới 05:00 trong 24 giờ mỗi ngày. Về phương hướng thì Dần chỉ hướng đông đông bắc. Theo Ngũ hành thì Dần tương ứng với Mộc, theo thuyết Âm-Dương thì Dần là Dương.[1]

Dần mang ý nghĩa là sống động, chỉ trạng thái phát triển sơ khai của cây cỏ trong khoảng thời gian này tại các vĩ độ ôn đới thấp và nhiệt đới (đầu mùa xuân theo cách hiểu của người Á Đông).

Để tiện ghi nhớ hoặc là do sự giao thoa văn hóa nên mỗi địa chi được ghép với một trong 12 con giáp. Dần tương ứng với hổ.[2]

Trong âm lịch hiện tại thì tháng giêng là tháng khởi đầu của năm, do từ cuối năm Nguyên Phong thứ 7 (104 TCN) thì Hán Vũ Đế đã quyết định từ năm sau (103 TCN) đổi niên hiệu thành Thái Sơ và nhân thể lấy tháng Dần làm chánh nguyệt (tháng bắt đầu) của năm, khi ông cho áp dụng lịch Thái Sơ.[3]

Trong lịch Gregory, năm Dần là năm mà chia cho 12 dư 6.

Các can chi Dần

Xem thêm

Tham khảo

  1. Hoàng Tuấn (2003), Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can chi. Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, tr. 26 - 46. Sách này cũng nói rõ lịch Hà Đồ là gốc định ra phương hướng, can chi (xem ngày, giờ). Lịch này có 10 số, mặc định các số lẻ là số Dương và các số chẵn là số Âm (đó là thuyết Âm - Dương). Lịch cũng chọn bốn số đầu theo lần lượt các hướng Bắc - Nam - Đông - Tây, số 5 là trung tâm; các số cuối là các hướng còn lại (nguyên tắc này tạo cơ sở hình thành hệ Nhị phân, được Leibniz phát triển hoàn chỉnh vào thế kỷ XVII). Hệ tọa độ trong không gian của người Trung Hoa cổ phải phù hợp với Hà Đồ. Sử dụng trục tọa độ kết hợp thuyết Âm - Dương, họ tạo ra 12 chi (12 con vật) với hai trục Tý - Ngọ, Mão - Dậu là chính. Sử dụng bản Hà Đồ và kết hợp thuyết Ngũ hành, người xưa ghi: Thủy (số 1, 6) ở Bắc, Hỏa (số 2,7) ở Nam, Mộc (số 3,8) ở Đông), Kim (số 4,9) ở Tây, Thổ (số 5,10) ở trung tâm
  2. Hoàng Tuấn (2003). Nguyên lý chọn ngày tháng theo lịch Can chi. Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, tr. 35 và Vũ Hoàng - Lâm Bình (dịch, 2002). Hiệp kỷ biện phương thư. Nxb Mũi Cà Mau, tr. 71
  3. (大中大夫公孙卿、壶遂、太史令司马迁等言:“历纪坏废,宜改正朔。”上诏兒宽与博士赐等共议,以为宜用夏正。夏,五月,诏卿、遂、迁等共造汉《太初历》,以正月为岁首...) Zizhi Tongjian, vol.21