Dung tần
| Thanh Văn Tông Dung tần 清文宗容嫔 | |
|---|---|
| Hàm Phong Đế tần | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 4 tháng 6 năm 1837 |
| Mất | 12 tháng 5 năm 1869 |
| An táng | 26 tháng 2 năm 1873 Phi viên tẩm của Định lăng (定陵), Thanh Đông lăng |
| Phối ngẫu | Thanh Văn Tông Hàm Phong Hoàng đế |
| Tước hiệu | [Quan nữ tử; 官女子] [Dung Thường tại; 容常在] [Dung Quý nhân; 容貴人] [Hoàng khảo Dung tần; 皇考容嬪] |
| Thân phụ | Tát Nhĩ Hàng A |
| Thân mẫu | Lạc thị |
Dung tần Y Nhĩ Căn Giác La thị (chữ Hán: 容嫔伊尔根觉罗氏, 4 tháng 6 năm 1837 - 12 tháng 5 năm 1869), là một phi tần của Thanh Văn Tông Hàm Phong Đế.
Thân thế Dung tần
Dung tần sinh ngày mồng 4 tháng 6 năm Đạo Quang thứ 17 (1837). Căn cứ theo hồ sơ hộ tịch Nội vụ phủ, Dung tần xuất thân từ họ Y Nhĩ Căn Giác La thị dưới quyền Tá lĩnh thuộc Bao y Tương Hoàng kỳ. Cha bà tên là Tát Nhĩ Hàng A (萨尔杭阿), sinh năm Gia Khánh nguyên niên (1796), những năm Đạo Quang từng giữ chức Thất phẩm Thanh ngữ Giáo tập của Hàm An cung Quan học, sau đó thăng lên Tòng lục phẩm, vẫn đảm nhiệm chức vụ Giáo tập tại Hàm An cung[1].
Tháng 6 năm Đạo Quang thứ 17 (1837), Dung tần chào đời, năm đó Tát Nhĩ Hàng A 42 tuổi, mẹ của Dung tần là Lạc thị, xuất thân là người dưới quyền Quản lĩnh thuộc Bao y Tương Hoàng kỳ, năm đó 33 tuổi. Ngày 13 tháng 5 năm Đạo Quang thứ 18 (1838), Tát Nhĩ Hàng A vì bệnh qua đời, chỉ để lại người mẹ góa họ Lạc thị nuôi nấng Dung tần[2]. Trong hộ tịch hiển thị, cụ nội của Dung tần tên là Y Lý Bố (伊里布), là Phi giáp nhân của Nội vụ phủ. Y Lý Bố chỉ có một con trai, chính là ông nội của Dung tần tên Đoàn Nhĩ Hoát (端尔华), làm quan đến chức Lục phẩm Giáo tập.
Đoàn Nhĩ Hoát cũng chỉ có một con trai, chính là cha của Dung tần - Tát Nhĩ Hàng A. Tát Nhĩ Hàng A dưới gối không có con trai, họ hàng gần lại không có ai nương tựa, gia cảnh tương đối bần hàn. Sau khi ông bệnh qua đời, Dung tần chỉ dựa vào khoản Sương phụ tiền lương mỗi tháng 1 lạng của mẹ là Lạc thị để sinh sống, trú tại nhà của người anh họ cùng tộc đã ra khỏi ngũ phục với Tát Nhĩ Hàng A là Anh Khuê (英圭)[3].
Đại Thanh tần phi Dung tần
Dung tần là hậu cung chủ vị được nạp vào thời kỳ đầu khi Hàm Phong tức vị. Căn cứ hồ sơ, vào năm Hàm Phong nguyên niên (1851), trong cung chỉ có duy nhất một vị đương triều chủ vị là Vân Quý nhân Vũ Giai thị. Các hậu cung chủ vị phụng chỉ nhập cung vào năm Hàm Phong thứ 2 (1852) gồm có Trinh tần Nữu Hỗ Lộc thị, Anh tần Y Nhĩ Căn Giác La thị, Lan Quý nhân Diệp Hách Na Lạp thị, Lệ Quý nhân Tha Tha Lạp thị, Uyển Thường tại Tác Xước Lạc thị, Xuân Quý nhân Minh Am thị .Nhưng Dung tần không nằm trong số đó.
Mà trong hồ sơ cung phân vào tháng 11 năm Hàm Phong thứ 2 (1852), đã có tên Dung Thường tại (容常在) trong danh sách[4]. Từ đó có thể biết, Dung tần không phải thông qua Bát kỳ tuyển tú mà nhập cung, mà là trước tháng 11 năm Hàm Phong thứ 2, với tư cách Quan nữ tử được Văn Tông nạp làm hậu cung chủ vị, điều này cũng phù hợp với thân phận người dưới quyền Bao y Tá lĩnh thuộc Tương Hoàng kỳ của bà.
Về tình hình cuộc sống của Dung tần trong cung đình, tư liệu hiện có thể biết được rất ít, và có những điểm mâu thuẫn lẫn nhau. Ví dụ, Vu Thiện Phổ (乌善普) trong tác phẩm của mình có nhắc đến Dung tần “Năm Hàm Phong thứ 2 phong làm Dung Thường tại, năm thứ 4 tấn làm Dung Quý nhân”[5], nhưng căn cứ theo hồ sơ cung phân tháng 12 năm Hàm Phong thứ 4 (1854), khi đó Dung tần vẫn chỉ là “Dung Thường tại”[6], chứ không phải Quý nhân, mãi đến hồ sơ cung phân tháng 12 năm Hàm Phong thứ 5 (1855) mới ghi là Dung Quý nhân (容貴人)[7]. Vào năm Hàm Phong thứ 8 (1858), Dung tần trú tại Cảnh Nhân cung[8], khi đó chủ vị của Cảnh Nhân cung là Uyển tần, những năm đầu triều Đồng Trị bà vẫn trú tại Cảnh Nhân cung[9].
Tháng 7 năm Hàm Phong thứ 11 (1861), Hàm Phong Đế băng hà, Hoàng thái tử Tải Thuần đăng cơ trở thành Hoàng đế thứ 10 của nhà Thanh, sử gọi [Đồng Trị Đế]. Ngày 10 tháng 10 cùng năm, phụng ý chỉ của Lưỡng cung Hoàng thái hậu, tấn tôn Dung Quý nhân Y Nhĩ Căn Giác La thị làm Hoàng khảo Dung tần (皇考容嬪). Phong hiệu cũng được giải nghĩa, theo Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hiệu "Dung" có Mãn văn là 「yongsonggo」[10], ý là "Có lễ nghi". Vào ngày 12 tháng 5 năm Đồng Trị thứ 8 (1869), Hoàng khảo Dung tần Y Nhĩ Căn Giác La thị qua đời, hưởng niên 33 tuổi. Ngày 26 tháng 2 năm Đồng Trị thứ 12 (1873), phụng an tại Định lăng Phi viên tẩm (定陵妃园寝).
Tham khảo Dung tần
- ↑ 《为咸安宫官学教习萨尔杭阿期满照例赏给从六品官食六品单俸仍留学行走并开写旗分履历事》,道光十六年二月十五日,档案号:05-13-002-000650-0059,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《为给发镶黄旗原教官萨尔杭阿之妻孀妇骆氏养赡钱粮米石事》,道光十九年八月初三日,档案号:05-08-020-000218-0047,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 此段伊尔根觉罗氏谱系,整理自中国第一历史档案馆编:《清代谱牒档案(缩微胶卷)》A1-A37。
- ↑ 《呈为恭进宫分缎匹等项清单》,咸丰二年十一月二十九日,档案号:05-0769-038,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 于善浦:《清代帝后的归宿》,第206页。
- ↑ 《奏为进宫分绸缎等项事折》,档案号:奏销档663-093,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《呈为恭进宫分清单》,咸丰五年十二月初二日,档案号:05-0785-002,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《为领取景仁宫主位挪运什物雇觅人夫车辆用过钱文事》,咸丰八年二月初九日,档案号:05-08-001-000085-0002,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《奏为景仁宫交出女子因笨情形事》,同治二年三月初十日,档案号:05-0818-079,中国第一历史档案馆藏。
- ↑ 《为容嫔前行初祭礼读文致祭并行大祭礼派公德鉴公堃林承祭抄录原奏事致内务府等》,同治八年五月十七日,档案号:05-13-002-000233-0118,中国第一历史档案馆藏。