Chính sách giảm kép
Chính sách song giảm hay còn gọi là Chính sách giảm kép (tiếng Trung: 双减政策; bính âm: shuāng jiǎn zhèng cè) là một chính sách giáo dục của Trung Quốc nhằm giảm bớt áp lực bài tập về nhà và học thêm ngoài giờ đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở, giảm chi tiêu của các gia đình cho việc học thêm, và cải thiện giáo dục bắt buộc.[1]
Chính sách này, có tiêu đề chính thức là Ý kiến về việc tiếp tục giảm gánh nặng bài tập về nhà và gánh nặng đào tạo ngoài trường cho học sinh trong giai đoạn giáo dục bắt buộc, được ban hành vào ngày 24 tháng 7 năm 2021 bởi Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[2] Chính sách này được thúc đẩy bởi các vấn đề liên quan đến nền giáo dục ứng thí nặng nề, bao gồm sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh (ví dụ: thiếu ngủ, béo phì, lo âu và tự tử).[3]
Bối cảnh
Các yếu tố gây áp lực cho học sinh
Thời gian mà thanh thiếu niên Trung Quốc dành cho việc học thuộc hàng cao nhất thế giới. Học sinh ở Thượng Hải trong độ tuổi từ mười hai đến mười bốn dành 9,8 giờ mỗi ngày để học tập tại trường.[4] Thời gian học tập trung bình của học sinh Trung Quốc là 55 giờ mỗi tuần, cao hơn nhiều so với mức trung bình quốc tế là 44 giờ.[5] Nhiều học sinh thậm chí còn tốn nhiều thời gian học hơn thông qua các chương trình gia sư. Do áp lực cạnh tranh của Kỳ thi tuyển sinh trung học phổ thông, học sinh trung học cơ sở tại các thành phố hạng nhất của Trung Quốc cải thiện thành tích học tập của mình thông qua việc học thêm ngoại khóa. Tại Thượng Hải, hơn 45 phần trăm học sinh tham gia các lớp học thêm toán ít nhất bốn giờ một tuần, và hơn 20 phần trăm dành hơn bốn giờ để được gia sư kèm cặp.[4] Số giờ học thêm của thanh thiếu niên Trung Quốc vào cuối tuần đã tăng từ 0,7 giờ lên 2,1 giờ trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015.[6]Học sinh từ các khu vực nông thôn tham gia các buổi học tối kéo dài bốn giờ do các trường nội trú cung cấp,[4] có thể kéo dài đến 11 giờ đêm.[7]
Thiếu ngủ đã trở thành một xu hướng phổ biến trong thanh thiếu niên Trung Quốc,[4][7] vì bài tập về nhà tốn nhiều thời gian phải được hoàn thành sau giờ học tại lò luyện thi.[8] Nghiên cứu do nền tảng giáo dục Trung Quốc Afanti thực hiện đã chỉ ra rằng 45 phần trăm học sinh gặp khó khăn trong việc hoàn thành bài tập về nhà.[9] 87,6 phần trăm học sinh trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông được phỏng vấn (từ 13 đến 18 tuổi) hoàn thành bài tập về nhà sau 10 giờ tối và ngủ dưới 8 tiếng trung bình mỗi ngày.[8] 13,3 phần trăm học sinh tiểu học (từ 6 đến 12 tuổi) bị thiếu ngủ trong các ngày trong tuần.[10]
Khối lượng bài tập về nhà nhiều hơn trong các ngày trong tuần có tương quan thuận với tỷ lệ thanh thiếu niên Trung Quốc thừa cân cao hơn.[3] Tỷ lệ béo phì ở trẻ em Trung Quốc từ 5 đến 19 tuổi đã vượt quá 18 phần trăm vào năm 2016, gần gấp năm lần tỷ lệ béo phì 4 phần trăm vào năm 1975.[11] Học sinh tiểu học từ 7 đến 9 tuổi gặp vấn đề béo phì nghiêm trọng nhất, với tỷ lệ 5,7% ở nam và 8% ở nữ.[3] 19,6 phần trăm học sinh lớp 1 bị thừa cân, và tỷ lệ béo phì của học sinh tiểu học từ lớp 1-3 đang tăng nhanh hơn so với học sinh lớp 4–6.[3]
Tự tử là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong giới thanh thiếu niên Trung Quốc.[12] Bảy mươi chín vụ tự tử ở học sinh tiểu học và trung học vào năm 2013 có liên quan đến áp lực của nền giáo dục định hướng thi cử ở Trung Quốc và sự cạnh tranh khốc liệt trong trường học.[13] 63 phần trăm các vụ tự tử xảy ra trong học kỳ hai, khi Kỳ thi tuyển sinh trung học phổ thông và Kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia (高考, viết tắt là cao khảo) đến gần. Trầm cảm do căng thẳng là yếu tố hàng đầu dẫn đến tự tử, và hơn 10 phần trăm thanh thiếu niên Trung Quốc mắc chứng trầm cảm. Trong khi 33 phần trăm các vụ tự tử ở thanh thiếu niên Trung Quốc liên quan đến mâu thuẫn gia đình, thì 22 phần trăm được quy trực tiếp cho áp lực học tập.[14] Hơn nữa, Trung Quốc thiếu các nguồn lực tâm lý đầy đủ cho học sinh có vấn đề về tâm lý, điều này có thể gây khó khăn cho những học sinh gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần.[13]
Các yếu tố gây áp lực cho phụ huynh
Các gia đình Trung Quốc, chịu ảnh hưởng của Nho giáo và khoảng cách thu nhập cao giữa các trình độ học vấn, coi thành tích học tập của con cái là một phương tiện hiệu quả để đạt được sự thăng tiến trong xã hội.[14][15] Kỳ vọng cao của cha mẹ cũng có thể liên quan đến chính sách một con được thực hiện vào năm 1979: với ít con cái hơn để trông cậy vào sự thành công và môi trường làm việc ngày càng cạnh tranh ở Trung Quốc, cha mẹ đặt ra những yêu cầu cực độ đối với con cái để thành công trong học tập.[15] Những áp lực này, kết hợp với sự đố kỵ giai cấp và nỗi sợ hãi của tầng lớp thấp hơn, khiến các gia đình tăng chi tiêu cho giáo dục, đặc biệt là cho việc học thêm tốn kém sau giờ học.[16]
Chi phí giáo dục cao dẫn đến áp lực kinh tế đáng kể cho các gia đình Trung Quốc. Cuộc khảo sát hộ gia đình của Viện Nghiên cứu Tài chính Giáo dục Trung Quốc Lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2023 tại Wayback Machine (CIEFR) cho thấy các gia đình Trung Quốc đã chi 296 tỷ USD cho giáo dục mầm non và tiểu học từ năm 2016 đến năm 2017,[17] mặc dù giáo dục bắt buộc được miễn học phí và do chính phủ tài trợ. Các gia đình ở các thành phố hạng nhất chi trung bình 16.800 nhân dân tệ cho giáo dục học sinh trong giai đoạn giáo dục bắt buộc.[17] Các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu chi tiêu nhiều nhất cho việc giáo dục con cái trong tất cả các nhóm.[18] Cha mẹ trung lưu muốn xây dựng 'vốn liếng con cái' thông qua khoản đầu tư tài chính này vào việc học thêm.[19]
Yêu cầu của giáo viên có thể đặt thêm gánh nặng lên vai các bậc cha mẹ Trung Quốc. Ở Trung Quốc, một số giáo viên yêu cầu phụ huynh kiểm tra và giám sát bài tập về nhà của con em mình.[20] 91,2% phụ huynh Trung Quốc làm điều này.[21] Học sinh và gia đình không thực hiện được có thể bị giáo viên khiển trách và cáo buộc là vô trách nhiệm, làm gia tăng căng thẳng trong gia đình và các mối quan hệ gia đình.[20]
Các biện pháp chính sách
Chính sách song giảm nhấn mạnh mô hình học tập lấy học sinh làm trung tâm, khuyến nghị dạy học sinh theo năng khiếu và áp dụng "cách tiếp cận văn hóa".[15][cần giải thích] Các trường học hiện cung cấp các khóa học trên phạm vi sở thích rộng hơn và tôn trọng nhu cầu học tập khác biệt, thế mạnh cá nhân và cá tính của từng học sinh để học sinh có thể đạt được sự phát triển toàn diện, bao gồm cả thông qua các dịch vụ sau giờ học.[1]
Chính sách Song giảm cũng nhằm mục đích giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình bằng cách quy định chặt chẽ ngành công nghiệp dạy thêm và giảm áp lực lên các gia đình. Chính sách kêu gọi phát triển "giáo dục hợp tác gia đình - nhà trường", hướng dẫn cha mẹ có những kỳ vọng hợp lý đối với con cái. Đồng thời, nhà trường cung cấp sự giám sát sau giờ học để giảm bớt sự lo lắng của cha mẹ về các lớp học thêm và việc giám sát tại nhà.[22]
Ý kiến về việc tiếp tục giảm gánh nặng bài tập về nhà và gánh nặng đào tạo ngoài trường cho học sinh trong giai đoạn giáo dục bắt buộc quy định các biện pháp chính sách sau đây để giảm gánh nặng học tập cho học sinh:[2][23]
- Giảm thời gian làm bài tập về nhà. Chính sách đặt ra giới hạn về tổng số bài tập về nhà được giao: không có bài tập về nhà bằng văn bản cho lớp 1 và lớp 2; tối đa 60 phút bài tập về nhà trung bình cho lớp 3 đến lớp 6; không quá 90 phút bài tập về nhà bằng văn bản cho trung học cơ sở. Phần này cũng bao gồm những cải tiến về thiết kế bài tập về nhà, hỗ trợ bài tập về nhà từ giáo viên và hướng dẫn cân bằng thời gian ở nhà dành cho bài tập trên lớp với các hoạt động khác.
- Cải thiện dịch vụ sau giờ học. Chính sách yêu cầu các trường dành nhiều thời gian hơn cho các dịch vụ sau giờ học, mở rộng các kênh cho giảng viên riêng biệt thực hiện các dịch vụ này và cải thiện sự đa dạng của các hoạt động xã hội và học thuật. Nó yêu cầu các dịch vụ sau giờ học không được sử dụng như thời gian học thêm. Chính sách cũng tăng cường và cải thiện các dịch vụ học tập trực tuyến miễn phí theo khu vực.
- Quy định về đào tạo ngoại khóa và dạy thêm tư nhân. Chính sách mới tạo ra các hệ thống giám sát và lưu trữ hồ sơ cho các cơ sở đào tạo và dạy thêm ngoại khóa, cấm phê duyệt các cơ sở mới, đồng thời hạn chế và quy định việc thu phí. Vào ngày 23 tháng 7, Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông báo rằng họ sẽ không cấp giấy phép hoạt động vì lợi nhuận mới cho các cơ sở dạy thêm nữa và yêu cầu các cơ sở hiện có ngừng dạy thêm "các môn học văn hóa cốt lõi" cho học sinh đang trong giai đoạn giáo dục bắt buộc. Tất cả các cơ sở dạy thêm sau giờ học đều trở thành tổ chức phi lợi nhuận.[24] Chính phủ Trung Quốc cũng tuyên bố quy định chặt chẽ này đối với ngành công nghiệp dạy thêm nhằm mục đích loại bỏ hiện tượng phân bổ nguồn lực giáo dục không bình đẳng.[25]
- Nâng cao chất lượng giáo dục, tuyển sinh và đánh giá: Các sở giáo dục thúc đẩy sự phát triển cân bằng của giáo dục bắt buộc giữa các vùng miền, với hy vọng giảm khoảng cách giáo dục giữa học sinh thành thị và nông thôn. Các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Trung Quốc cũng bị cấm rõ ràng việc xếp hạng thành tích học tập của học sinh hoặc sử dụng các bảng xếp hạng đó để xét tuyển lên các cấp học cao hơn. Bộ Giáo dục đã nhấn mạnh quyền nhân thân của học sinh để tránh áp lực tâm lý tiêu cực do bảng xếp hạng thi cử công khai gây ra. Việc cấm xếp hạng bảo vệ lòng tự trọng tâm lý của học sinh, đặc biệt là đối với thanh thiếu niên vẫn đang trong giai đoạn phát triển mong manh. Việc bãi bỏ xếp hạng và "các kỳ thi chính thức thường xuyên" đã cải thiện sự nhiệt tình học tập của học sinh và thay đổi hệ thống giáo dục lâu đời lấy điểm số làm trung tâm và định hướng thi cử của Trung Quốc.[26][27]
- Hỗ trợ của chính phủ, thí điểm và thực hiện. Chính sách đặt ra các tiêu chuẩn cho chính quyền khu vực và tỉnh để phân bổ kinh phí và nhân sự hỗ trợ các quy trình cải tiến. Nó cũng nêu chi tiết các yêu cầu cho công tác thí điểm, chỉ định các thành phố và khu vực cụ thể để thực hiện thí điểm, và làm rõ trách nhiệm và thủ tục của các bộ ngành.[cần dẫn nguồn]
Tác động
Dạy thêm
Khoảng 15 triệu người ở Trung Quốc đã làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ngoài trường trước khi chính sách này được công bố.[22] Sau khi chính sách song giảm được thực hiện, 10 triệu người đã rơi vào cảnh thất nghiệp.[22] Nhìn chung, ngành công nghiệp dạy thêm đã bị thu hẹp đáng kể. Số lượng các cơ sở dạy thêm trực tiếp giảm 83,8 phần trăm, trong khi các cơ sở dạy thêm trực tuyến giảm 84,1 phần trăm.[28] Ngành công nghiệp dạy thêm trở nên có tính thay thế cao vì các trường học cung cấp nguồn tài nguyên học tập phong phú tại trường, và 91% học sinh đã tham gia các hoạt động đó.[28]
Doanh nghiệp
Các công ty hàng đầu trong lĩnh vực giáo dục tư nhân bao gồm Wall Street English và Giáo dục Cự Nhân (Juren Education) đã ngừng hoạt động.[29](tr174)
Các công ty giáo dục tư nhân trước đây vẫn còn hoạt động đã chuyển đổi mô hình kinh doanh của họ sang tập trung vào các chủ đề như giáo dục người lớn hoặc giáo dục kỹ thuật.[29](tr174) Sau khi doanh thu giảm 80% và sa thải 60.000 nhân viên, Tân Đông Phương (New Oriental) đã chuyển trọng tâm sang bán hàng qua livestream, qua đó các cựu giảng viên bán hàng hóa trong khi giảng bài về các chủ đề khác nhau.[29](tr174-175)
Sức khỏe tâm thần
Thiếu ngủ và các vấn đề về sức khỏe tâm thần đã giảm nhẹ sau khi giảm lượng bài tập về nhà.[30] Tỷ lệ học sinh bị trầm cảm giảm từ 9,9 phần trăm xuống 9,4 phần trăm, và tỷ lệ lo âu giảm từ 7,4 phần trăm xuống 7,1 phần trăm.[30] Tuy nhiên, tình trạng lo âu cuối cùng cũng có thể được cải thiện nhờ các nguồn lực hạn chế giúp cải thiện điểm số. Tỷ lệ học sinh tiểu học và trung học cơ sở có thể hoàn thành bài tập về nhà tại trường đã tăng từ 46 phần trăm lên hơn 90 phần trăm, cho thấy thanh thiếu niên hiện có nhiều thời gian hơn để đạt được sự cân bằng giữa học tập và cuộc sống.[28][30]
Giáo viên
Dưới sự khuyến khích của chính sách song giảm, giáo viên Trung Quốc được khuyến khích sửa đổi phương pháp giáo dục của họ. Để giúp học sinh hoàn thành bài tập về nhà với khối lượng công việc nhỏ hơn và thời gian lên lớp ngắn hơn, giáo viên Trung Quốc đã bắt đầu có ý thức cải thiện hiệu quả giảng dạy trên lớp.[31] Chính sách song giảm cũng cung cấp một "môi trường tư tưởng thuận lợi" hơn và không gian phát triển nghề nghiệp cho những giáo viên đầy tham vọng với khả năng giảng dạy tốt hơn. Các giáo viên trung niên sinh vào những năm 1970 và 1980 được truyền cảm hứng để tham gia các dự án nghiên cứu và dẫn dắt các giáo viên trẻ hơn. Các giáo viên trẻ có được cơ hội phát triển nghề nghiệp, và nhận thức về sự đổi mới cũng như lợi thế về công nghệ thông tin đã giúp họ dễ dàng nổi bật.[31]
Tuy nhiên, từ năm 2018 đến năm 2020, nhiều giáo viên lo ngại về khả năng tăng khối lượng công việc và thiếu các biện pháp bảo vệ quyền lợi của họ và cảm thấy lo lắng về nghề nghiệp. Trong khi giáo viên vẫn mong đợi phụ huynh chịu trách nhiệm giám sát con cái và tích cực giao tiếp với giáo viên, một số phụ huynh lại nghĩ rằng chính sách này có nghĩa là việc giáo dục trẻ em hoàn toàn là trách nhiệm của nhà trường.[31] Cũng có sự xung đột vai trò: nhiều giáo viên cũng là phụ huynh cảm thấy họ không thể chăm sóc gia đình riêng của mình vì bận cung cấp các dịch vụ sau giờ học và thiết kế bài tập về nhà theo yêu cầu sau khi chính sách được thực hiện.[32]
Giáo viên cũng có một số lo ngại về thành tích học tập theo chính sách này. Một số người phát hiện ra rằng chất lượng giảng dạy giảm trong ngắn hạn sau khi giảm lượng bài tập về nhà. Ngoài ra, một số trường vẫn giữ các kỳ thi và bảng xếp hạng, chỉ thay đổi tên các kỳ thi cuối kỳ và giữ kín bảng xếp hạng, vẫn yêu cầu giáo viên cải thiện điểm số của học sinh. Một số người lo lắng rằng việc giảm bài tập về nhà sẽ gây hại cho thành tích học tập của học sinh về lâu dài vì nền giáo dục vẫn theo định hướng thi cử. Đặc biệt khi phải đối mặt với quy mô lớp học lớn, giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc thiết kế bài tập về nhà linh hoạt phù hợp cho các học sinh khác nhau. Nhiều giáo viên bắt đầu nghi ngờ khả năng giảng dạy của mình và thể hiện mức độ tự tin vào năng lực bản thân thấp. Hơn nữa, một số giáo viên tin rằng bài tập về nhà cá nhân hóa sẽ khiến việc hiểu sự khác biệt giữa trình độ học vấn của học sinh trở nên khó khăn hơn.[31][32]
Đón nhận
Một đánh giá về các bài đăng trên Weibo cho thấy sự pha trộn giữa các phản hồi tích cực và tiêu cực. Trong số các chủ đề tích cực được công chúng quan tâm, 45,9% thảo luận về công bằng giáo dục. Công chúng tin rằng chính sách song giảm có thể giải quyết hiệu quả sự phân bổ không đồng đều các nguồn lực giáo dục đã tồn tại từ lâu. Các chủ đề tiêu cực nổi bật mà công chúng đề cập là ảnh hưởng của chính sách và "tác động đến ngành", chủ yếu thảo luận về các vấn đề như sự phá sản của các cơ sở dạy thêm.[28][33]
Các đối tượng tham gia thảo luận trên Weibo chủ yếu là học sinh, phụ huynh, các cơ sở dạy thêm và giáo viên. Giáo viên thảo luận về sự thất vọng của họ với khối lượng công việc gia tăng mà không có sự thay đổi về thu nhập. Một số giáo viên bày tỏ nỗi buồn, sự bối rối và sợ hãi về sự phát triển cá nhân trong tương lai của họ và việc phá vỡ thói quen giảng dạy của mình.[34] Nhiều "tài khoản truyền thông cá nhân" và "những người dẫn dắt ý kiến giáo dục" (KOL) đã bày tỏ ý kiến tiêu cực và hoài nghi đối với chính sách song giảm, gây ảnh hưởng đến sự hiểu biết của công chúng.[34]
Một số phụ huynh phàn nàn về việc khó lấy lại học phí sau cuộc đàn áp của chính sách song giảm đối với các cơ sở dạy thêm.[28][33] Trên Zhihu, bình luận của các bậc cha mẹ phản đối chính sách song giảm. Họ lập luận rằng chính sách này không làm giảm nhu cầu của phụ huynh đối với các lớp học thêm, và họ chỉ tăng giá và tạo ra khoảng cách nguồn lực giáo dục lớn hơn. Một số người lo lắng rằng việc đóng cửa các viện tư nhân sẽ làm tăng áp lực cho cha mẹ trong việc giám sát thành tích học tập. Một số người cảm thấy rằng chính sách song giảm chỉ là một sản phẩm của chính phủ Trung Quốc để khuyến khích sinh sản. Những người khác tin rằng sự cạnh tranh giữa các học sinh vẫn tồn tại.[35]
Xem thêm
- Dạy thêm
- Giáo dục ở Trung Quốc
- Bất bình đẳng giáo dục ở Trung Quốc
Tham khảo
- 1 2 Eryong; Xue; Li, Jian (ngày 17 tháng 2 năm 2022). "What is the value essence of "double reduction" (Shuang Jian) policy in China? A policy narrative perspective". Educational Philosophy and Theory. 55 (7): 787–796. doi:10.1080/00131857.2022.2040481. ISSN 0013-1857. S2CID 246985777.
- 1 2 "中共中央办公厅 国务院办公厅印发《关于进一步减轻义务教育阶段学生作业负担和校外培训负担的意见》_中央有关文件_中国政府网". www.gov.cn. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- 1 2 3 4 Ren, Hong; Zhou, Zhixiong; Liu, Wenxi Kevin; Wang, Xiujiang; Yin, Zenong (tháng 1 năm 2017). "Excessive homework, inadequate sleep, physical inactivity, and screen viewing time are significant contributors to high pediatric obesity". Acta Paediatrica (bằng tiếng Anh). 106 (1): 120–127. doi:10.1111/apa.13640. PMC 6680318. PMID 27759894.
- 1 2 3 4 Wei, Kan (ngày 24 tháng 2 năm 2014). "Copying the long Chinese school day could have unintended consequences". The Conversation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2023.
- ↑ Ma, Yingyi (ngày 17 tháng 12 năm 2019). "China's education system produces stellar test scores. So why do 600,000 students go abroad each year to study?". The Washington Post. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
- ↑ ""双减"之下 教育还要迎接哪些挑战". www.scjc.gov.cn. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 "A day in the life of Chinese students | HechingerEd Blog" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 "'Burden' of homework leaves Chinese pupils sleep-deprived, study finds". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "《中国中小学写作业压力报告》结果发布,你怎么看?". www.sohu.com. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Zhang, Yushu; Huang, Zhengjing; Zhang, Mei; Li, Chun; Zhao, Zhenping; Zhang, Xiao; Guan, Yunqi; Mudoti, Nyasha Grace; Wang, Limin (ngày 6 tháng 1 năm 2023). "Sleep Status Among Children and Adolescents Aged 6–17 Years — China, 2016–2017". China CDC Weekly (bằng tiếng Anh). 5 (1): 11–16. doi:10.46234/ccdcw2023.003. ISSN 2096-7071. PMC 9902748. PMID 36777469.
- ↑ Zhang, Na; Ma, Guansheng (ngày 1 tháng 3 năm 2018). "Childhood obesity in China: trends, risk factors, policies, and actions". Global Health Journal (bằng tiếng Anh). 2 (1): 1–13. doi:10.1016/S2414-6447(19)30115-0. ISSN 2414-6447.
- ↑ "The rise of youth suicide in China". The Week (bằng tiếng Anh). tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 "China's Cutthroat School System Leads to Teen Suicides". Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 Jiang, Shan; Ren, Qiang; Jiang, Chaoxin; Wang, Lin (ngày 1 tháng 12 năm 2021). "Academic stress and depression of Chinese adolescents in junior high schools: Moderated mediation model of school burnout and self-esteem". Journal of Affective Disorders (bằng tiếng Anh). 295: 384–389. doi:10.1016/j.jad.2021.08.085. ISSN 0165-0327. PMID 34492431. S2CID 237442845.
- 1 2 3 Zhao, Xu; Selman, Robert L.; Haste, Helen (ngày 31 tháng 12 năm 2015). Cheng, May (biên tập). "Academic stress in Chinese schools and a proposed preventive intervention program". Cogent Education. 2 (1) 1000477. doi:10.1080/2331186X.2014.1000477. S2CID 154372408.
- ↑ Yu, Shuo; Zheng, Jiansong; Xu, Zhibin; Zhang, Tao (ngày 19 tháng 5 năm 2022). "The Transformation of Parents' Perception of Education Involution Under the Background of "Double Reduction" Policy: The Mediating Role of Education Anxiety and Perception of Education Equity". Frontiers in Psychology. 13 800039. doi:10.3389/fpsyg.2022.800039. ISSN 1664-1078. PMC 9161288. PMID 35664177.
- 1 2 Liu, Yi-Ling (ngày 13 tháng 8 năm 2019). "China's AI Dreams Aren't for Everyone". Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Middle class spend less as they scrimp and save for children's education". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Lin, Xiaoshan (ngày 18 tháng 6 năm 2019). ""Purchasing hope": the consumption of children's education in urban China". The Journal of Chinese Sociology. 6 (1): 8. doi:10.1186/s40711-019-0099-8. ISSN 2198-2635. S2CID 256428266.
- 1 2 Matamoros, Cristina Abellan (ngày 10 tháng 12 năm 2017). "Chinese parents protest against 'stress caused by children's homework'". euronews (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Chinese students spend almost 3 hours on homework daily, three times the world average - People's Daily Online". en.people.cn. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2023.
- 1 2 3 Wang, Qichao; Luo, Xiaotong; Yang, Jie (2022). "Understanding China's Double Reduction Policy on Educational Economy". Global Economic Observer; Bucharest (bằng tiếng English). 10 (1): 63–69. ProQuest 2678525598.
{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ↑ China Law Translate (ngày 3 tháng 11 năm 2021). "Opinions on Further Reducing the Burden on Students in the Compulsory Education State from Homework and Extracurricular Training". China Law Translate (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Davidson, Helen (ngày 3 tháng 8 năm 2021). "China's crackdown on tutoring leaves parents with new problems". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "What's the end game for China's crackdown on private tutoring?". South China Morning Post (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Hatch, T. (ngày 3 tháng 11 năm 2021). "Surprise, Controversy, and the "Double Reduction Policy" in China". International Education News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- ↑ 陶幸. "Is it good to abolish test rankings?-- Beijing Review". www.bj review.com. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- 1 2 3 4 5 "'Double reduction' policy adds strength to China's education reform | english.scio.gov.cn". english.Scio.gov.cn. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- 1 2 3 Borst, Nicholas (2025). The Bird and the Cage: China's Economic Contradictions. Singapore: Palgrave Macmillan. ISBN 978-981-96-3996-0.
- 1 2 3 Wang, Dongfang; Chen, Xiao-Yan; Ma, Zijuan; Liu, Xianchen; Fan, Fang (ngày 28 tháng 11 năm 2022). "Has the "Double Reduction" policy relieved stress? A follow-up study on Chinese adolescents". Child and Adolescent Psychiatry and Mental Health. 16 (1): 91. doi:10.1186/s13034-022-00530-6. ISSN 1753-2000. PMC 9707210. PMID 36443852.
- 1 2 3 4 "Dilemmas, Challenges and Opportunities under Double Reduction Policy Faced by Teachers in Urban Primary School of China". Frontiers in Educational Research. 5 (9). 2022. doi:10.25236/FER.2022.050904. S2CID 252328774.
- 1 2 Yue, Wei; Yu, Le; Yang, Yanru (ngày 22 tháng 3 năm 2023). "The occupational anxiety of teachers caused by China's 'double reduction' policy—a study based on the grounded theory". Frontiers in Psychology. 14. doi:10.3389/fpsyg.2023.1144565. ISSN 1664-1078. PMC 10074598. PMID 37034957.
- 1 2 徐, 佳铭. ""双减"政策背景下的教育舆情探究——基于微博数据". 艺术科技.
- 1 2 Jia, Weichen; Peng, Jun (ngày 8 tháng 9 năm 2022). Zhang, Dalin (biên tập). "The Public Sentiment Analysis of Double Reduction Policy on Weibo Platform". Computational Intelligence and Neuroscience (bằng tiếng Anh). 2022: 1–9. doi:10.1155/2022/3212681. ISSN 1687-5273. PMC 9477569. PMID 36120674.
- ↑ "China's Crackdown on Pricey Tutoring Schools Upsets Parents". VOA (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2023.
- Bài viết có văn bản tiếng Quan thoại
- Vấn đề xã hội ở Trung Quốc
- Chính sách công ở Trung Quốc
- Giáo dục ở Trung Quốc