Bước tới nội dung

Chu Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chu Đức
朱德
Chức vụ
Nhiệm kỳ28 tháng 4 năm 1959  6 tháng 7 năm 1976
17 năm, 69 ngày
Tiền nhiệmLưu Thiếu Kì
Kế nhiệmTống Khánh Linh (Quyền)
Diệp Kiếm Anh
Nhiệm kỳ28 tháng 9 năm 1956  1 tháng 8 năm 1966
9 năm, 307 ngày
Nhiệm kỳ27 tháng 9 năm 1954  27 tháng 4 năm 1959
4 năm, 212 ngày
Kế nhiệmTống Khánh LinhĐổng Tất Vũ
Nhiệm kỳtháng 11 năm 1949  tháng 3 năm 1955
Tiền nhiệmLý Duy Hán
Kế nhiệmĐổng Tất Vũ
Nhiệm kỳ28 tháng 11 năm 1946  27 tháng 9 năm 1954
7 năm, 303 ngày
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmMao Trạch Đông (với tư cách Chủ tịch nước)
Nhiệm kỳ17 tháng 1 năm 1975  6 tháng 7 năm 1976
Tiền nhiệmĐổng Tất Vũ (quyền chủ tịch nước)
Kế nhiệmTống Khánh Linh (với tư cách quyền Uỷ viên trưởng)
Thông tin cá nhân
Sinh1 tháng 12 năm 1886
Nam Sung, Tứ Xuyên, Đại Thanh
Mất6 tháng 7 năm 1976 (89 tuổi)
Bắc Kinh
Dân tộcKhách Gia
Tôn giáoKhông
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc
VợKhang Khắc Thanh (康克清)

Chu Đức (tiếng Trung: 朱德, pinyin: Zhū Dé, Wade-Giles: Chu Teh, tên tự: Ngọc Giai 玉阶; 1 tháng 12 năm 18866 tháng 7 năm 1976) là một chính khách và một nhà lãnh đạo quân sự Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông tên thật là Chu Đại Trân, quê ở huyện Nghi Lũng, tỉnh Tứ Xuyên.

Ông là 1 trong 10 Nguyên soái Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được phong hàm trong 1 đợt phong Nguyên soái duy nhất vào ngày 23 tháng 9 năm 1955.

Năm 1928, Chu Đức đem khoảng 10.000 quân đến vùng Tỉnh Cương Sơn nhập với một lực lượng nhỏ hơn của Mao Trạch Đông để lập ra Quân đoàn 4 Hồng quân, và ông là Quân đoàn trưởng Quân đoàn 4, trong khi Mao Trạch Đông làm đại biểu Đảng tại đây, và lực lượng này được gọi là "bộ đội Chu-Mao". Ông làm Tổng Tư lệnh Hồng quân Trung Hoa thời kỳ 1931-37. Khi Quốc-Cộng hợp tác năm 1937, ông là Tổng chỉ huy Bát lộ quân, thuộc Quân Cách mạng quốc dân (do Tưởng Giới Thạch chỉ huy). Cùng với phó tư lệnh Bành Đức Hoài, Chu Đức đã phát động Chiến dịch Bách đoàn tấn công các đồn binh Nhật vào năm 1940. Chiến dịch kết thúc với thắng lợi lớn của Bát Lộ Quân. Mặc dù Mao Trạch Đông ban đồng ủng hộ chiến dịch này,[1] Mao về sau coi đó là tác nhân đưa đến chính sách tiêu thổ, đốt phá tàn bạo của quân Nhật và viện dẫn nó để phê bình họ Bành tại Hội nghị Lư Sơn.[2] Sau chiến tranh chống Nhật, Chu Đức tiếp tục dẫn dắt Hồng quân Trung Hoa đánh bại Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch trong Nội chiến Quốc-Cộng lần thứ hai 1946-49. Năm 1949, Chu Đức được đề cử làm Tổng tư lệnh Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, và do đó ông thường được xem là người sáng lập ra quân đội này.[3][4] Trên cương vị này, Chu lãnh đạo lực lượng Trung Quốc tiến hành chiến tranh "kháng Mỹ, viện Triều" năm 1951-53.[5]

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1922, là ủy viên Trung ương và ủy viên Bộ Chính trị từ năm 1934. Từ năm 1956 đến năm 1966, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị (1956-1969 và từ 1973 cho đến khi mất).

Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, ông giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ nhân dân Trung ương (1949-1954), Phó Chủ tịch nước (1954-1959), Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (1959-1976).

Đời tư

Ông thuộc về một gia đình người Khách Gia có tổ tiên tại Quảng Đông, sau này di cư lên Tứ Xuyên. [6]

  • Cha: Chu Thế Lâm (朱世林, 1861 - 1920)
  • Mẹ: Chung thị (钟氏, 1860 - 1944)
  • Bác (sau là cha nuôi): Chu Thế Liên (朱世连, 1855 - 1922)
  • Bác (sau là mẹ nuôi): Lưu thị (刘氏, 1860 - 1938)
  • Vợ: Chu Đức tổng cộng lấy sáu người vợ trong đời.
    • Lưu Tòng Trân (劉從珍, 1884 - 1958), cùng quê với Chu Đức, là cháu gái mẹ nuôi của ông. Kết hôn vào tháng 9 năm 1905, được nhận xét là một người phụ nữ nông thôn giản dị, kính trọng người lớn và rất thích trẻ con[7].
    • Tiêu Cúc Phương (蕭菊芳, 1893 - 1919), tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Côn Minh. Kết hôn vào mùa thu năm 1912, sinh một con trai rồi qua đời không lâu sau đó vì bệnh kiết lỵ[8].
    • Trần Ngọc Trân (陳玉珍, 1899 - 1967), người Nghi Tân, Tứ Xuyên, xuất thân từ một gia đình khá giả. Kết hôn tháng 6 năm 1917, được Chu Đức đánh giá là một người điểm tĩnh và thận trọng, yêu thích âm nhạc. Theo yêu cầu của quân phiệt Dương Sâm (楊森), hai người chia tay vào năm 1922, qua đời tại Nam Khê. Nơi ở của hai người tại huyện Nam Khê sau đó trở thành di tích văn hóa tại đây[9].
    • Hạ Trĩ Hoa (贺稚华), kết hôn tháng 8 năm 1922 tại huyện Diêm Tân. Có với Chu Đức một con gái, chia tay vào tháng 5 năm 1925 tại Liên Xô. Về sau, bà tái hôn với Hà Gia Hưng (何家兴), một sinh viên Trường Đại học Phương Đông tại Moscow.
    • Ngũ Nhược Lan (伍若兰, 1906 - 1929), người huyện Lỗi Dương, Hồ Nam, tốt nghiệp Trường Nữ sinh số 3 Hồ Nam và gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc trong năm 1926. Trong cuộc Khởi nghĩa Tương Nam năm 1928, bà gặp và kết hôn với Chu Bưu vào mùa xuân cùng năm. Năm sau (1929), bà bị Quốc dân Đảng bắt được tại tỉnh Giang Tây[10], mười ngày sau thì bị chém đầu tại Cống Châu. Nơi ở cũ của bà và Chu Đức là một Di tích văn hóa cần được bảo tồn của thành phố Hành Dương.
    • Khang Khắc Thanh (康克清, 1912 - 1992), người Vạn An, Giang Tây, sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo. Gia nhập Hồng quân tháng 9 năm 1928, năm sau thì kết hôn với Chu Đức không lâu sau khi Ngũ Nhược Lan qua đời. Bị quản thúc tại gia bởi Mao Trạch Đông trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, từng giữ chức Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Trung Quốc, qua đời tại Bắc Kinh.
  • Con:
    • Trưởng tử Chu Kì (朱琦, 1916 - 1988), mẹ là Tiêu Cúc Phương. Mẹ mất khi lên ba tuổi, Chu Kì được mẹ kế Trần Ngọc Trân nuôi dưỡng tại Lộ Châu. Bị thương trong cuộc kháng chiến chống Nhật, sau đó trở thành Khoa trưởng Khoa Thông tin thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu Tấn Tuy. Vợ là Triệu Lục Bình (赵力平, 1926 - ), người Hà Bắc, từng giữ chức Phó Thống đốc Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc chi nhánh Thiên Tân.
      • Chu Viên Triêu (朱援朝, ? - 2013), thành viên Hiệp hội Nghệ sĩ Trung Quốc.
      • Chu Hòa Bình (朱和平, 1952 - ), Thiếu tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Hội nghị Hiệp thương Chính trị Trung Quốc khóa 12 và 13.
      • Chu Toàn Hoa (朱全华, 1956 - 2021), Phó Giám đốc Cục Thiết bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
      • Chu Tân Hoa (朱新华), Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
      • Chu Quốc Hoa (朱国华, 1957 - 1983), Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Đại biểu Nhân dân Trung Quốc, bị bắt giữ vì nghi ngờ cưỡng bức hàng chục phụ nữ từ 1978 đến 1982 rồi bị hành quyết không lâu sau đó[11].
    • Trưởng nữ Chu Mẫn (朱敏, 1926 - 2009), mẹ là Hà Trĩ Hoa. Từng bị Đức Quốc xã bắt giữ và giam cầm trong vòng bốn năm dẫn đến khiếm khuyết ngôn ngữ suốt đời, sau khi trở về nước thì công tác tại Khoa tiếng Nga của Đại học Sư phạm Bắc Kinh, Viện trưởng Học viện Chuyên tu Quân dân Bắc Kinh. Chồng là Lưu Tranh (刘铮, 1927 - 2015) từng hoạt động trong Bộ Ngoại giao, có năm con trai và một con gái. Cuộc đời đầy thăng trầm của bà là nguồn cảm hứng cho bộ phim Anh đào đỏ năm 1995, là bộ phim có doanh thu cao nhất Trung Quốc cùng năm và tham gia Liên hoan phim Berlin tại Đức.
      Chu Đức và người vợ thứ ba Trần Ngọc Trân

Đọc thêm

  • The Great Road: The Life and Times of Chu Teh, Agnes Smedley, Monthy Review Press, New York và London 1956

Tham khảo

  1. Biographical Dictionary of the People's Republic of China. {{Chú thích sách}}: Đã bỏ qua |website= (trợ giúp)
  2. Mao Zedong as Poet and Revolutionary Leader.
  3. "Zhu De". Encyclopedia Britannica.
  4. Distant Water.
  5. "Zhu De". Answers.com.
  6. "Số phận bi tráng của 10 nguyên soái "khai quốc công thần" Trung Quốc và 49 bà vợ (Kỳ 1)".
  7. Tiểu sử Nguyên soái Chu Đức
  8. 中共中央文献研究室编. 朱德年谱. 北京: 人民出版社. 1986: 20.
  9. Biên soạn bởi Cục Văn hóa Khu vực Nghi Tân, tỉnh Tứ Xuyên. *Biên niên sử Di tích Văn hóa Khu vực Nghi Tân*, tháng 10 năm 1992, trang 132.
  10. 姑妈伍若兰:“双枪女将建奇勋”. 人民网. [2025-07-28].
  11. 从一审判决到二审判决只有三天 名门之后朱国华的死刑. 云南信息报. [2015-01-18]. (原始内容存档于2015-01-18).

Liên kết ngoài