Bước tới nội dung

Chrysiridia rhipheus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bướm đêm hoàng hôn Madagascar
Bản khắc chạm có chú thích Urania riphaeus từ Dictionnaire universel d'histoire naturelle của Charles D. d'Orbigny (1849)
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Arthropoda
Lớp (class)Insecta
Bộ (ordo)Lepidoptera
Họ (familia)Uraniidae
Phân họ (subfamilia)Uraniinae
Chi (genus)Chrysiridia
Loài (species)C. rhipheus
Danh pháp hai phần
Chrysiridia rhipheus
(Drury, 1773)
Đặc hữu Madagascar
Đặc hữu Madagascar
Danh pháp đồng nghĩa
  • Papilio rhipheus Drury, 1773[1]
  • Urania ripheus var. madagascariensis Lesson, 1831[2]
  • Urania crameri Maassen, 1897[2]
  • Urania druryi Boisduval, 1874[3][4]
  • Rhipheus dasycephalus Swainson, 1833[5]
  • Leilus orientalis Swainson, 1833[2]
  • Chrysiridia riphearia Hübner, 1823[6]
  • Urania ripheus[7]
  • Urania rhiphaeus[8]
  • Urania rhipheus
  • Chrysiridia madagascariensis[8]
  • Chrysiridia rhiphaeus[9]
  • Chrysiridia ripheus

Bướm hoàng hôn Madagascar (Chrysiridia rhipheus) là một loài bướm đêm hoạt động vào ban ngày thuộc họ Uraniidae. Nó được coi là một trong các loài côn trùng cánh vẩy ấn tượng và hấp dẫn nhất.[10] Nổi tiếng trên toàn thế giới, nó xuất hiện trong hầu hết các sách ảnh về bướm và được nhiều người sưu tập bướm săn lùng.[11][12], mặc dù nhiều nguồn cũ viết sai tên loài thành "ripheus".[11][12] Màu sắc trên cánh bắt nguồn từ sự giao thoa trong cách vùng óng ánh, trong khi vùng màu đen là do sắc tố.[7][13] Con trưởng thành có sải cánh dài từ 7–9 cm (2,8–3,5 in)

Dru Drury, người đã mô tả loài bướm này vào năm 1773, đặt nó trong chi Papilio, xem rằng nó là một loài bướm ngày. Jacob Hübner đặt nó trong chi bướm đêm Chrysiridia vào năm 1823.[2] Những lần tái mô tả sau này dẫn đến các danh pháp đồng nghĩa thứ cấp hơn như Chrysiridia madagascariensis (Lesson, 1831).[2]

Lúc đầu, loài bướm này được cho là từ Trung Quốc hoặc Bengal,[14][15] nhưng sau đó được phát hiện là loài đặc hữu của Madagascar. Nó được tìm thấy trong suốt cả năm ở khắp nơi trên đảo, với số lượng cao nhất giữa tháng 3 và tháng 8, và số lượng nhỏ nhất giữa tháng 10 và tháng 12. Con cái đẻ khoảng 80 trứng dưới lá của các loài cây thuộc chi Omphalea. Sâu bướm có màu vàng trắng với những đốm đen và chân đỏ, được bao phủ bởi lớp lông cứng màu đen hình chùy. Tơ được nhả ra từ miệng giúp sâu bướm bám chặt vào lá nhẵn và leo trở lại cây khi lá rụng. Sau khi hoàn thành bốn giai đoạn phát triển, sâu bướm tạo thành một kén mạng lưới mở. Giai đoạn nhộng kéo dài từ 17 đến 23 ngày.[16] Chrysiridia rhipheus là loài ăn thực vật chuyên biệt duy nhất của bốn loài Omphalea ở Madagascar. Omphalea có độc: chất độc được sâu bướm cô lập và được giữ lại trong giai đoạn nhộng và trưởng thành.[17] Hàng ngàn con bướm đêm này di cư giữa các khu vực phía đông và phía tây của cây chủ.[16][17]

Chrysiridia rhipheus

Phân loại

Bướm hoàng hôn Madagascar lần đầu tiên được nhà côn trùng học người Anh Dru Drury mô tả vào năm 1773 từ một mẫu vật thu được từ huyện trưởng May của Hammersmith. Do giống với các loài bướm phượng, Drury đã mô tả loài này là Papilio rhipheus.[1]1 Mẫu vật Drury nhận được có đầu của một loài khác, có thể là đầu của một con bướm, có râu hình dùi trống[5] — đặc điểm này thường được sử dụng để phân biệt bướm đêm với bướm thường. Sau khi phát hiện ra sự không chính xác trong mẫu vật của Drury, loài bướm đêm này được xếp vào chi Urania, cho đến năm 1823 khi nhà côn trùng học người Đức Jacob Hübner xếp nó vào một chi mới, Chrysiridia. Loài bướm đêm này cũng đã được mô tả dưới những cái tên khác. Vì Drury mô tả mẫu vật của mình có râu hình dùi trống và không có đuôi, William Swainson nghĩ rằng nó là một loài khác với mẫu vật hoàn chỉnh do Pieter Cramer mô tả. Năm 1833, Swainson đặt tên cho loài bướm là Rhipheus dasycephalus và loài bướm đêm là Leilus orientalis.[5] Các danh pháp đồng nghĩa khác bao gồm U. crameri của Maassen năm 1879 và U. ripheus var. madagascariensis của Lesson năm 1831.[2]

Người dân bản địa Malagasy gọi loài bướm là adriandolo hoặc lolonandriana,[8][18] từ lolo có nghĩa là "linh hồn" hoặc "bướm" và andriana có nghĩa là "cao quý" hoặc "vua",[19] do đó có nghĩa là "bướm cao quý",[8] "linh hồn cao quý",[20] "bướm vua"[18] hoặc "linh hồn vua".

Chi Chrysiridia phân bố hoàn toàn ở châu Phi và loài duy nhất còn lại trong chi là C. croesusĐông Phi. Chrysiridia là một trong ba chi thuộc họ Uraniine sống vào ban ngày. Hai chi còn lại là Urania, đơn vị phân loại chị em của nó, và Alcides, chi cơ bản nhất. Trong nhóm này, việc Endospermum là cây chủ là một đặc điểm tổ tiên. Chi Alcides cơ bản hơn có cây chủ thuộc các chi EndospermumOmphalea, trong khi UraniaChrysiridia chỉ có cây chủ thuộc chi Omphalea.

Mô tả

Chrysiridia rhipheus có sải cánh dài 7–9 xentimét (2,8–3,5 in), đôi khi đến 11 xentimét (4,3 in). Nếu sống ở vùng cao 900–1.080 mét (2.950–3.540 ft) sải cánh trung bình là 7 cm (2,8 in); ở các vùng thấp hơn, 600 m (2.000 ft), sải cánh trung bình là 9 cm (3,5 in).[16] Giống các Uraniinae khác, Chrysiridia rhipheus giống với các loài Papilionidae một cách kỳ lạ, đặc biệt là đôi cánh màu sắc của nó, có thể làm nó bị lầm tưởng là bướm ngày.[21] Loài này có màu đen với các đốm đỏ, xanh lam và xanh lục ánh kim và một dải vảy trắng ở mép cánh, rộng hơn ở cánh sau. Loài bướm đêm này có sáu đuôi, hay bị mất hoặc hư hại trong suốt vòng đời.[16] Các biến thể hoa văn rất phổ biến và loài bướm đêm này thường có một phần không đối xứng;[22] một trong những yếu tố gây ra điều này là sốc nhiệt trong giai đoạn nhộng.[16]

Vi cấu trúc cánh

Chi tiết vảy cánh của Chrysiridia rhipheus

Không giống như nhiều loài bướm đêm khác, màu sắc cánh của C. rhipheus không đến từ sắc tố. Màu sắc này bắt nguồn từ sự tán xạ kết hợp và giao thoa ánh sáng bởi cấu trúc vi mô của các vảy hình dải băng bao phủ cánh bướm.[7][13] Những đặc điểm cấu trúc này khiến loài này và họ hàng Urania ở vùng Tân nhiệt đới của chúng trở thành đối tượng nghiên cứu phổ biến trong quang học.[13]

Màu sắc trên cánh của loài bướm hoàng hôn Madagascar được tạo ra bởi sự kết hợp của hai hiện tượng quang học:

  1. Một cấu trúc đa lớp biểu bì cutin-khí trong vảy tạo ra giao thoa quang học. Mỗi vảy chứa các lớp biểu bì cutin với các khối biểu bì nằm ngẫu nhiên, giữ chúng cố định và duy trì một khoảng trống khí giữa chúng. Các lớp và khoảng trống khí hẹp hơn bước sóng của ánh sáng khả kiến. Cấu trúc thay đổi từ một lớp ở đầu gần của mỗi vảy đến khoảng sáu lớp ở đầu xa. Cấu trúc đa lớp này phản xạ mạnh một số bước sóng ánh sáng nhất định, được xác định bởi độ dày của các lớp và góc chiếu của ánh sáng vào vảy.
  2. Vảy có độ cong lớn, tạo ra sự phản xạ giữa các vảy. Cơ chế này khá hiếm gặp ở các loài cánh vảy. Phần gần giữa của mỗi vảy gần như phẳng; sau đó vảy dần dần cong lên và rồi dốc xuống ở phía xa tâm, che phủ phần gần tâm của hàng vảy tiếp theo. Do hình dạng này, các hàng vảy liền kề có các rãnh giống như thung lũng giữa chúng. Điều này cho phép ánh sáng chiếu vào một vảy, phản xạ ở góc khoảng 90°, chiếu vào vảy tiếp theo và bị phản xạ ra xa khỏi cánh. Vì góc của mỗi phản xạ khác xa với góc tới pháp tuyến, hiệu ứng giao thoa tạo điều kiện cho sự phản xạ của các màu ánh sáng khác nhau so với khi ánh sáng chiếu vào gần đỉnh của phần cong của vảy.

Màu sắc nhìn thấy ở mỗi phần của cánh là sự kết hợp của các màu sắc phản chiếu bởi hai hiệu ứng này.

Do các lớp biểu bì được sắp xếp thành hàng, với đường cong hình trụ, nên lượng phản xạ loại thứ hai phụ thuộc vào độ phân cực của ánh sáng chiếu vào. Điều này làm cho độ phân cực màu tổng thể của bướm đêm phụ thuộc vào độ phân cực. Nhiều loài côn trùng có thể phát hiện sự phân cực của ánh sáng, vì vậy người ta cho rằng đặc điểm này có thể được sử dụng làm tín hiệu thị giác giữa các con bướm đêm.[7] Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được nghiên cứu.

Tham khảo

  1. 1 2 Belouino, Paul (1852). Dictionnaire général et complet des persécutions souffertes par l'Église (bằng tiếng Pháp). Paris: J.P. Migne Éditeur. tr. 1784–1786. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008.
  2. 1 2 3 4 5 6 Kirby, William Forsell (1897). A Hand-book to the Order Lepidoptera (PDF). Baldwin & Cradock. tr. 50–53. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Kirby" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  3. {{chú thích sách |last=Grote |first=A. R. |title= The Canadian entomologist |origyear=1874 |url=http://books.google.com/?id=g0EUAAAAYAAJ&pg=PA180&dq=Chrysiridia+druryi#PPA180,M1 |access-date =ngày 5 tháng 7 năm 2008 |series=No.9 |volume=VI |date=ngày 17 tháng 1 năm 2008 |publisher=Entomological Society of Canada |page=180 |Niepelt]], 1931
  4. "Chrysiridia papageno". World Wide Web electronic publication. The Global Lepidoptera Names Index (LepIndex). 2003. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2008. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  5. 1 2 3 Swainson, William S. (1833). Zoological Illustrations. Vol III. Second series. London: Baldwin & Cradock. tr. 130–131. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Swainson" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  6. Savela, Markku (ngày 15 tháng 3 năm 2007). "Chrysiridia". Lepidoptera and some other life forms. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
  7. 1 2 3 4 15 tháng 5 năm 2691 "Polarization-sensitive color mixing in the wing of the Madagascan sunset moth". Optics Express. Quyển 15 số 5. Washington: Optical Society of America. ngày 5 tháng 3 năm 2007. tr. 2691–701. doi:10.1364/OE.15.002691. PMID 19532506. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2008. {{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |authors= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  8. 1 2 3 4 Decary, Raymond (1950). La Faune Malgache (bằng tiếng Pháp). Paris: Payot.
  9. Biosecurity New Zealand (ngày 24 tháng 8 năm 2005). "Import Health Standard for the Importation of Tropical Butterfly and Moth Pupae into New Zealand". Commercial Imports. New Zealand Government. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2006.
  10. Tait, Malcolm (ngày 28 tháng 8 năm 2006). Animal Tragic: Popular Misconceptions of Wildlife Through the Centuries. Think Books. tr. 38. ISBN 1-84525-015-X. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  11. 1 2 Smith, Neal G. (tháng 3 năm 1983). "Host Plant Toxicity and Migration in the Dayflying Moth Urania". The Florida Entomologist. Quyển 66 số 1. Florida Entomological Society. tr. 76–85. doi:10.2307/3494552. ISSN 0015-4040. JSTOR 3494552. {{Chú thích tạp chí}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |lay-source= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lay-url= (trợ giúp)
  12. 1 2 Griveaud, Paul (1963). "4". The Invertebrates of Madagascar (PDF, 3.87 Mbit). s.n. tr. 81–82. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  13. 1 2 3 Prum, Richard O.; Quinn, Tim; Torres, Rodolfo H. (ngày 31 tháng 1 năm 2006). "Anatomically diverse butterfly scales all produce structural colours by coherent scattering" (PDF). The Journal of Experimental Biology. Quyển 209 số Pt 4. Cambridge: The Company Of Biologists. tr. 748–765. doi:10.1242/jeb.02051. PMID 16449568. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Prum" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  14. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Drury
  15. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Boisduval
  16. 1 2 3 4 5 Catala, R. (1940). "Variations expérimentales de Chrysiridia madagascariensis Less. (Lep. Uraniidae)". Archives du Muséum National D'Histoire Naturelle. Quyển 17. tr. Ph.D. Thesis. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Catala" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  17. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên LeesDavidSmith
  18. 1 2 Oberthür, Charles (1922). Études de lépidoptérologie comparée (bằng tiếng Pháp). Rennes: Ch. Oberthür édition. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008.
  19. Webber, Joseph (1855). Dictionnaire français-malgache (PDF) (bằng tiếng Pháp). Ile Bourbon: Établissement malgache de Notre-Dame de la Ressource. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2008.
  20. Shoumatoff, Alex (ngày 7 tháng 3 năm 1988). "Our Far Flung Correspondents (Madagascar)". The New Yorker. New York. tr. 62. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008.
  21. Klots, Alexander Barrett; Elsie Broughton Klots (ngày 25 tháng 5 năm 2007) [1959]. Living Insects of the World. Doubleday. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  22. Kaabak, L. Лицом к лицу с природой (bằng tiếng Nga). НАУКА и ЖИЗНЬ. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2008.

Liên kết ngoài