Bước tới nội dung

Chi Cà phê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cà phê
Cây cà phê chè (Coffea arabica) ở Brasil
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Asterids
Bộ (ordo)Gentianales
Họ (familia)Rubiaceae
Phân họ (subfamilia)Ixoroideae
Tông (tribus)Coffeeae
Chi (genus)Coffea
L.
Các loài chọn lọc

Coffea arabica - Cà phê chè (Arabica)
Coffea benghalensis - Cà phê Bengal
Coffea canephora - cà phê vối (Robusta)
Coffea cochinchinensis - cà phê Việt Nam
Coffea congensis - cà phê Congo
Coffea dewevrei - cà phê Excelsa
Coffea excelsa - cà phê Liberia/cà phê mít
Coffea gallienii - không chứa caffein
Coffea bonnieri - không chứa caffein
Coffea mogeneti - không chứa caffein
Coffea liberica - cà phê Liberia/cà phê mít
Coffea stenophylla - cà phê Sierra Leon

Coffea magnistipula

Chi Cà phê (chữ Anh: Coffea) là một chi thuộc ngành Thực vật hạt kín, lớp Song tử diệp, phân lớp Cánh hoa hợp, bộ Thiến thảo, họ Thiến thảo. Chi này gồm khoảng 40 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới của bán cầu Đông, đặc biệt là châu Phi. Cà phê là một cây trồng nhiệt đới quan trọng, cùng với tràca cao, được xem là ba loại đồ uống lớn của thế giới. Đặc biệt ở châu Âuchâu Mỹ, việc uống cà phê đã trở thành một thói quen phổ biến, như câu nói: “Sáng không cà phê, chẳng khác chi trời không nắng”.

Về mặt thực vật học, chi Coffea thuộc họ Thiến thảo, có nguồn gốc ở châu Phi, và tồn tại nhiều giống, nhiều thứ hình thái khác nhau, mỗi giống lại thích nghi với một điều kiện khí hậuđộ cao nhất định. Cây cà phê hoang dã là cây bụi thường xanh, cao khoảng 3 đến 3,5 mét. Lá mọc đối, hình bầu dục thuôn dài, đầu nhọn dần, mép nguyên, phiến dày và dai. Hoa mọc thành chùm ở nách lá, màu trắng, toả hương thơm như hoa nhài; quả mọng hình cầu, khi chín chuyển từ xanh → vàng → đỏ, hình bán cầu, có khi trên lá xuất hiện đốm vàng. Thời kì ra hoa kết quả kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9. Quả cà phê dài 1,5–1,8 cm, khi chín có màu đỏ tươi, bên trong chứa hai hạt nằm liền kề nhau, mỗi hạt được bao bọc bởi lớp nội quả bì (en) và màng mỏng bóng sáng.

Hạt của một số loài — thường được gọi là hạt cà phê — được dùng để chế biến và tạo hương vị cho nhiều loại đồ uống và sản phẩm thực phẩm. Quả của cây, giống như hạt, chứa hàm lượng caffeine rất cao, đồng thời có vị ngọt đặc trưng.

Từ “coffee” có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập “qahwah” (قَهْوَة), nghĩa là “thức uống từ thực vật”.

Cây cà phê được xem là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao nhất và được buôn bán rộng rãi nhất trên thế giới, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhiều quốc gia, đặc biệt ở TrungNam Mỹ, vùng Caribechâu Phi. Ngành thương mại cà phê toàn cầu chủ yếu dựa vào hai trong số hơn 120 loài thuộc chi Coffea, đó là:

  • Cà phê tiểu quả (thường gọi là coffea arabica) — chiếm khoảng 60–80% sản lượng cà phê toàn cầu;
  • Cà phê trung quả (được biết đến với tên coffea robusta) — chiếm khoảng 20–40% còn lại.[1][2]

Cả hai loài cà phê này đều dễ bị tổn thương trước sự thay đổi khí hậu, đặc biệt là khi vùng canh tác dần dịch chuyển do biến đổi môi trường. Hệ quả là, sản lượng cà phê có thể suy giảm đáng kể tại những khu vực trồng trọt trọng điểm trên thế giới.[3][4][5] Nói như người xưa: “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà” – nhưng với cây cà phê, chỉ cần thiếu “thiên thời”, mọi công sức vun trồng cũng có thể trở thành “công dã tràng”. Bởi lẽ, khí hậu chính là hơi thở sống còn của loài cây mang lại hương vị thức tỉnh cho cả nhân loại này.

Cây cà phê có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, ngày nay được trồng phổ biến tại nhiều nơi, trong đó có các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Sơn LaĐiện Biên của Việt Nam. Đây là loài cây trung tính, thiên về ưa sáng, ưa khí hậu ấm áp, ẩm ướt, thích nơi nhiều ánh sáng hoặc hơi râm, chịu được cả lạnh lẫn nóng, sống lâu năm, có thể tồn tại hơn trăm năm. Cà phê sinh sản chủ yếu bằng hạt (gieo trồng) và giâm cành.

Về dược tính và công dụng, cà phê có vị ngọt, tính ôn, không độc, có tác dụng kích thích hệ thần kinh, cường tim và lợi tiểu. Ngoài ra, cây cà phê còn được dùng để trang trí sân vườn, làm cây cảnh chậu lớn, cành quả dùng trong nghệ thuật cắm hoa. Thịt quả có vị ngọt nhẹ, có thể ăn tươi, còn hạt (cà phê nhân) được chế biến thành đồ uống cà phê. Trong y học cổ truyền, hạt cà phê có màu đỏ thuộc hành Hoả, vào kinh Tâm, có vị ngọt dịu, tính điều hoà, có tác dụng bổ dưỡng, làm dịu thần kinh, trị phong nhiệt và nhức đầu — đúng như câu ngạn ngữ phương Đông: “Hạt nhỏ mà công lớn, vị đắng mà tâm tỉnh”.

Đặc trưng

Thân

Thân cây cà phê vối, khi cưa đốn thường được dùng chạm trổ các đồ thủ công mỹ nghệ.

Cây cà phê chè có thể cao tới 6 m, cà phê vối tới 10 m. Tuy nhiên ở các trang trại cà phê người ta thường phải cắt tỉa để giữ được độ cao từ 2–4 m, thuận lợi cho việc thu hoạch. Cây cà phê có cành thon dài, lá cuống ngắn, xanh đậm, hình oval. Mặt trên lá có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt hơn. Chiều dài của lá khoảng 8-15 cm, rộng 4–6 cm. Rễ cây cà phê là loại rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất từ 1 đến 2,5 m với rất nhiều rễ phụ tỏa ra xung quanh làm nhiệm vụ hút chất dinh dưỡng nuôi cây.

Hoa

Hoa cà phê

Hoa cà phê màu trắng, có năm cánh, thường nở thành chùm đôi hoặc chùm ba. Màu hoa và hương hoa dễ làm ta liên tưởng tới hoa nhài. Hoa chỉ nở trong vòng 3 đến 4 ngày và thời gian thụ phấn chỉ vài ba tiếng. Một cây cà phê trưởng thành có từ 30.000 đến 40.000 bông hoa.

Ngay từ khi cây cà phê ra hoa kết quả người ta đã có những đánh giá đầu tiên về vụ mùa cà phê. Ở các nước sản xuất cà phê lớn điều này đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra những nhận định về giá cảthị trường. Tuy vậy những đợt rét đậm hoặc hạn hán có thể làm đảo lộn mọi sự tính toán và đẩy thị trường vào tình thế hoàn toàn khác.

Quả

Quả cà phê chè

Cà phê là loài cây tự thụ phấn, do đó giócôn trùng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh sản của cây. Sau khi thụ phấn quả sẽ phát triển trong 7 đến 9 tháng và có hình bầu dục, bề ngoài giống như quả anh đào. Trong thời gian chín, màu sắc của quả thay đổi từ xanh sang vàng rồi cuối cùng là đỏ. Quả có màu đen khi đã chín nẫu. Do thời gian đâm hoa kết trái lâu như vậy mà một vụ cà phê kéo dài gần một năm trời và có thể xảy ra trường hợp trên một cây vừa có hoa, vừa có quả.

Thông thường một quả cà phê chứa hai hạt. Chúng được bao bọc bởi lớp thịt quả bên ngoài. Hai hạt cà phê nằm ép sát vào nhau. Mặt tiếp xúc giữa chúng là mặt phẳng, mặt hướng ra bên ngoài có hình vòng cung. Mỗi hạt còn được bảo vệ bởi hai lớp màng mỏng: một lớp màu trắng, bám chặt lấy vỏ hạt; một lớp màu vàng rời rạc hơn bọc ở bên ngoài. Hạt có thể có hình tròn hoặc dài, lúc còn tươi có màu xám vàng, xám xanh hoặc xanh. Thỉnh thoảng cũng gặp những quả chỉ có một hạt (do chỉ có một nhân hoặc do hai hạt bị dính lại thành một).

Niên vụ (năm sản xuất)

Ở Việt Nam, nước hiện đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê vối (robusta), niên vụ được tính từ tháng 10 đến hết tháng 9 năm sau (theo dương lịch). Thời gian thu hoạch tại các tỉnh Tây Nguyên (là nơi sản xuất khoảng 80% tổng sản lượng của Việt Nam) thường kéo dài trong 4 tháng, tính từ cuối tháng 10 đến hết tháng 1.

Ngay sau thu hoạch là thời gian nông dân trồng cà phê vối bắt đầu tưới nước cho cây và bón phân, chia thành nhiều đợt ngắn. Giai đoạn này kéo dài đến tháng 4 hàng năm.

Các loài

Một vài hình ảnh về cây cà phê

cây cà phê trong đời sống tây nguyêntrong thị trường hiện nay giá trị của nó thế nàovà kèm theo la rất nhiêu tác ung của no

Tham khảo

  1. "Coffee Plant: Arabica and Robusta". Coffee Research Institute. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2018.
  2. "Coffee: World Markets and Trade" (PDF). United States Department of Agriculture – Foreign Agricultural Service. ngày 16 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017.
  3. Läderach, Peter; Ramirez–Villegas, Julian; Navarro-Racines, Carlos; Zelaya, Carlos; Martinez–Valle, Armando; Jarvis, Andy (ngày 26 tháng 10 năm 2016). "Climate change adaptation of coffee production in space and time". Climatic Change. 141 (1): 47–62. doi:10.1007/s10584-016-1788-9. hdl:10568/77563. ISSN 0165-0009.
  4. Moat, Justin; Williams, Jenny; Baena, Susana; Wilkinson, Timothy; Gole, Tadesse W.; Challa, Zeleke K.; Demissew, Sebsebe; Davis, Aaron P. (ngày 19 tháng 6 năm 2017). "Resilience potential of the Ethiopian coffee sector under climate change". Nature Plants. 3 (7): 17081. Bibcode:2017NatPl...317081M. doi:10.1038/nplants.2017.81. ISSN 2055-0278. PMID 28628132. S2CID 6873955.
  5. Worland, Justin (ngày 21 tháng 6 năm 2018). "Your Morning Cup of Coffee Is in Danger. Can the Industry Adapt in Time?". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2019.

Liên kết ngoài