Bước tới nội dung

Chủ nghĩa hiện thực trầm cảm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (còn gọi là Chủ nghĩa hiện thực trầm ưu, tiếng Anh: Depressive realism) là giả thuyết do nhà tâm lý học Lauren Alloy [en]giáo sư Lyn Yvonne Abramson [en] phát triển.[1] Giả thuyết này cho rằng, những người trầm cảm có khả năng đưa ra suy luận thực tế hơn những người không trầm cảm. Trong suy nghĩ của nhiều người, người trầm cảm có thiên kiến nhận thức tiêu cực, dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực tự động [en] lặp đi lặp lại, cũng như hành vi không thích ứng [en] và niềm tin sai lệch về thế giới.[2][3][4] Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực trầm cảm lập luận, sự tiêu cực này có thể phản ánh cách đánh giá thế giới chính xác hơn. Đồng thời, giả thuyết cũng cho rằng, những người không trầm cảm có xu hướng đánh giá thế giới với thiên kiến tích cực.[1]

Bằng chứng ủng hộ

Split personality của hoạ sĩ Alina Gerasimova. Tác giả hoàn thành bức tranh này trong 8 tiếng, giữa lúc đang đối mặt với trầm cảm. Theo miêu tả của chính mình, cô đã phải vật lộn với hai cảm xúc trái chiều. Một bên là khao khát được sống, được sáng tạo. Bên còn lại là ước muốn được rút lui, "thu mình vào một góc."

Năm 1979, Alloy và Abramson đã cùng nhau thực hiện một nghiên cứu, với gần 300 tình nguyện viên tham gia. Dựa trên thang đo Beck [en], những người này được chia thành 2 nhóm: trầm cảm và không trầm cảm. Có tất cả 4 thí nghiệm, với mức độ ngẫu nhiên khác nhau. Tuy nhiên, chúng đều xoay quanh việc bật hay không bật công tắc, và liệu quyết định đó có khiến đèn xanh sáng lên hay không. Mỗi lần thực hiện, người tham gia phải ước lượng mức độ quan hệ nhân quả giữa hành động của mình (bật công tắc hoặc không) và hệ quả của hành động đó (đèn xanh sáng hoặc không). Kết quả cho thấy, trong tất cả các bài kiểm tra, nhóm trầm cảm đưa ra đánh giá chính xác đáng kinh ngạc. Ngược lại, nhóm không trầm cảm thường đánh giá mức độ liên hệ quá cao khi kết quả mong muốn xuất hiện thường xuyên, và đánh giá thấp khi kết quả không mong muốn xuất hiện.[5]

Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự. Có thể kể đến 2 thí nghiệm sau:

  • Các tình nguyện viên được yêu cầu hoàn thành một nhiệm vụ duy nhất. Khi hoàn thành, họ không nhận được bất kỳ phản hồi nào. Sau đó, họ phải tự đánh giá kết quả của mình. Kết quả cho thấy, nhóm trầm cảm có xu hướng tự đánh giá chính xác hơn.[6][7][8][9]
  • Các tình nguyện viên được yêu cầu hoàn thành một loạt nhiệm vụ. Sau mỗi nhiệm vụ, họ đều nhận được đánh giá phản hồi. Khi đã hoàn thành tất cả, những người này được yêu cầu tự đánh giá kết quả của mình. Một lần nữa, nhóm trầm cảm lại cho thấy khả năng tự đánh giá chính xác hơn.[10][11][12][13][14][15] Khi được yêu cầu đánh giá hiệu suất của mình, kể cả ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ và một khoảng thời gian sau đó, người trầm cảm vẫn giữ được sự chính xác.[16]

Trong một nghiên cứu chụp cộng hưởng từ chức năng [en][a] não, những người trầm cảm cho thấy khả năng đánh giá nguyên nhân của những sự kiện xã hội tích cực và tiêu cực chính xác hơn so với những người không trầm cảm, vốn thường thể hiện thiên kiến tích cực. Sự khác biệt này cũng được phản ánh qua mức độ hoạt hoá[b] khác nhau của mạng lưới trán-thái dương. Ở nhóm không trầm cảm, hoạt hóa mạnh hơn khi họ đưa ra những đánh giá không mang tính tự phục vụ. Ngược lại, ở nhóm trầm cảm, hoạt hoá[b] mạnh hơn khi họ đưa ra những đánh giá mang tính tự phục vụ. Ngoài ra, khi người trầm cảm thực hiện các đánh giá tự phục vụ, sự liên kết giữa vùng khởi phát[c] võ não trước trán lưng giữa [en][d] và các vùng hệ viền [en] bị giảm đi.[17]

Bằng chứng phản đối

Tranh sơn dầu Depressione. Tác phẩm được thực hiện bởi hoạ sĩ Aurora Mazzoldi vào năm 2007. Theo tác giả, bức tranh tượng trưng cho sự giam cầm nội tâm và mất đi sức sống. Song sắt không giam cầm nhân vật, nhưng chính nỗi sợ của anh ta làm điều đó. Ánh sáng mờ ảo gợi lên ý chí mong manh muốn thức tỉnh khỏi đau khổ.

Nhiều lập luận đã phản đối giả thuyết này. Có thể kể đến như:

  • Khi được yêu cầu đánh giá kết quả của bản thân và của người khác, những người không trầm cảm thể hiện thiên kiến tích cực khi tự đánh giá mình, nhưng lại không có thiên kiến khi đánh giá người khác. Ngược lại, những người trầm cảm không có thiên kiến khi tự đánh giá bản thân, nhưng lại thể hiện thiên kiến tích cực khi đánh giá người khác.[18][19][20]
  • Khi đánh giá suy nghĩ của các tình nguyện viên ở nơi công cộng và riêng tư, những người không trầm cảm cho thấy suy nghĩ lạc quan hơn khi ở nơi công cộng. Ngược lại, những người trầm cảm có xu hướng lạc quan hơn khi ở nơi riêng tư.[21][22][23][24] Nghĩa là, ở những môi trường khác nhau, người trầm cảm có thể bộc lộ thiên kiến tích cực, nên không phải lúc nào họ cũng đánh giá thế giới chính xác hơn người không trầm cảm.
  • Khi được yêu cầu tự đánh giá kết quả ngay sau khi hoàn thành một nhiệm vụ và sau một khoảng thời gian, những người trầm cảm chính xác hơn khi đánh giá ngay lập tức. Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua, họ lại có góc nhìn tiêu cực hơn. Trong khi đó, những người không trầm cảm vẫn lạc quan, kể cả ngay khi hoàn thành nhiệm vụ lẫn sau một khoảng thời gian.[10][14]
  • Người trầm cảm thường đưa ra đánh giá chính xác về việc không có khả năng kiểm soát trong những tình huống mà họ thực sự không thể kiểm soát. Tuy nhiên, họ cũng áp suy nghĩ này sang cả những trường hợp mà bản thân họ có khả năng kiểm soát. Điều này cho thấy, góc nhìn tổng thể của người trầm cảm không hẳn chính xác hơn.[25]
  • Một nghiên cứu chỉ ra rằng, trong bối cảnh thực tế, những người trầm cảm mới là nhóm tự tin thái quá và kém chính xác hơn trong các dự đoán của mình.[26] Độ chính xác trong việc quy kết của người tham gia cũng có thể liên quan nhiều hơn đến phong cách quy kết tổng thể của họ, thay vì chỉ phụ thuộc vào sự hiện diện và mức độ nặng nhẹ của các triệu chứng trầm cảm.[27]

Chỉ trích

Bafflement of Depression. Tranh miêu tả một người trầm cảm của hoạ sĩ Manan Oberoi.

Một số người cho rằng, bằng chứng hiện có chưa đủ thuyết phục, vì không tồn tại bất kỳ chuẩn mực tuyệt đối nào cho thực tế. Các chẩn đoán còn gây tranh cãi, và kết quả có thể không áp dụng được cho đời sống thực.[28] Nhiều nghiên cứu dựa vào các bản tự báo cáo [en][e] về chứng trầm cảm, vốn dễ thiên lệch, nên việc chẩn đoán trầm cảm trong các nghiên cứu này có thể không chính xác. Điều này đặt ra yêu cầu phải sử dụng thêm các thước đo khách quan khác. Ngoài ra, phần lớn các nghiên cứu không được thiết kế để phản ánh đầy đủ các hiện tượng trong đời sống thực, nên tính hiệu lực bên ngoài [en][f] của giả thuyết này vẫn chưa rõ ràng.[28] Cũng có lo ngại rằng, hiệu ứng của chủ nghĩa hiện thực trầm cảm chỉ đơn thuần là hệ quả của việc người trầm cảm rơi vào tình huống vốn phù hợp với thiên kiến tiêu cực.[5][29][30]

Xem thêm

  • Trầm cảm rối loạn tâm thần liên quan đến tâm trạng buồn bã kéo dài, lòng tự trọng thấp và mất hứng thú với các hoạt động mà bệnh nhân từng cảm thấy thú vị
  • Tự hại tự tây thương tích cho bản thân, nhưng chưa đến mức tự sát
  • Tâm thần học sinh học phương pháp tiếp cận tâm thần học, dựa trên chức năng sinh học của hệ thần kinh để tìm hiểu rối loạn tâm thần
  • Tâm thần học thần kinh ngành y học chuyên điều trị các rối loạn tâm thần do bệnh lý hệ thần kinh gây ra
  • Tâm lý học ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi của sinh vật, con người
  • Tâm lý học thần kinh nghiên cứu não bộ liên quan đến các quá trình và hành vi tâm lý cụ thể
  • Tâm lý sinh học phân ngành của thần kinh học hành vi (tâm lý học sinh học)

Ghi chú

  1. tiếng Anh: functional magnetic resonance imaging, viết tắt là fMRI.
  2. 1 2 Thuật ngữ chỉ quá trình chuyển một chất từ trạng thái không hoạt động hoặc kém hoạt động hóa học sang trạng thái hoạt động hơn.
  3. tiếng Anh: seed region. Đây là thuật ngữ chỉ một khu vực giải phẫu cụ thể trong não được chọn làm điểm bắt đầu để phân tích các kết nối thần kinh.
  4. tiếng Anh: dorsomedial prefrontal cortex, viết tắt là dmPFC.
  5. tiếng Anh: self-report, là một phương pháp thu thập dữ liệu, trong đó đối tượng nghiên cứu trực tiếp cung cấp thông tin về trạng thái tâm lý, hành vi, thái độ hoặc cảm xúc của chính họ thông qua các câu hỏi có sẵn. Đây là cách duy nhất để tìm hiểu những trải nghiệm chủ quan như suy nghĩ, niềm tin và cảm xúc mà người ngoài không thể quan sát trực tiếp. Phương pháp này có thể thu thập dữ liệu từ một lượng lớn người tham gia trong khoảng thời gian ngắn với chi phí thấp. Tuy nhiên, người tham gia thường có xu hướng chọn những câu trả lời mà họ cho là phù hợp với chuẩn mực xã hội, thay vì sự thật của bản thân. Họ cũng có thể không nhớ chính xác sự kiện xảy ra trong quá khứ, cũng như không thực sự hiểu rõ động cơ hoặc trạng thái tâm lý của chính mình để báo cáo chính xác.
  6. tiếng Anh: external validity, cũng được dịch là ngoại hiệu lực, giá trị bên ngoài hay tính hợp lệ bên ngoài, là khả năng khái quát hóa kết quả của một nghiên cứu từ mẫu thử nghiệm sang các đối tượng, bối cảnh, thời gian và tình huống rộng lớn hơn trong thế giới thực, cho thấy kết quả đó có áp dụng được ngoài phạm vi thí nghiệm hay không.

Tham khảo

  1. 1 2 Alloy, L.B.; Abramson, L.Y. (1988). Depressive realism: four theoretical perspectives.
  2. Beck, A.T. (1967). Depression: Clinical, experimental, and theoretical aspects. Quyển 32. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.
  3. Beck, Aaron T., biên tập (1979). Cognitive Therapy of Depression (bằng tiếng Anh). New York: Guilford Press. ISBN 9780898629194.
  4. Beck, A.T.; Brown, G.; Steer, R.A.; Eidelson, J.I.; Riskind, J.H. (1987). "Differentiating anxiety and depression: a test of the cognitive content-specificity hypothesis". Journal of Abnormal Psychology. Quyển 96 số 3. tr. 179–183. doi:10.1037/0021-843x.96.3.179. PMID 3680754.
  5. 1 2 Alloy, L.B.; Abramson, L.Y. (1979). "Judgment of contingency in depressed and nondepressed students: Sadder but wiser?" (PDF). Journal of Experimental Psychology: General. Quyển 108 số 4. tr. 441–485. doi:10.1037/0096-3445.108.4.441. PMID 528910. S2CID 18002755. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2026.{{Chú thích tạp chí}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết)
  6. Alloy, L.B.; Abramson, L.Y.; Kossman, D.A. (1985), "The judgment of predictability in depressed and nondepressed college students", trong Brush, F.R.; Overmeir, J.B. (biên tập), Affect, conditioning, and cognition: Essays on the determinants of behavior, Hillsdale, NJ: Erlbaum, tr. 229–246
  7. Alloy, L.B.; Abramson, L.Y.; Viscusi, D. (1981). "Induced mood and the illusion of control". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 41 số 6. tr. 1129–1140. doi:10.1037/0022-3514.41.6.1129. S2CID 54890341.
  8. Musson, R.F.; Alloy, L.B. (1989). "Depression, self-consciousness, and judgments of control: A test of the self-focused attention hypothesis". Unpublished.
  9. Vasquez, C.V. (1987). "Judgment of contingency: Cognitive biases in depressed and nondepressed subjects". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 52 số 2. tr. 419–431. doi:10.1037/0022-3514.52.2.419. PMID 3559899.
  10. 1 2 DeMonbreun, B.G.; Craighead, W.E. (1977). "Distortion of perception and recall of positive and neutral feedback in depression". Cognitive Therapy and Research. Quyển 1 số 4. tr. 311–329. doi:10.1007/bf01663996. S2CID 12735350.
  11. Dennard, D.O.; Hokanson, J.E. (1986). "Performance on two cognitive tasks by dysphoric and nondysphoric students". Cognitive Therapy and Research. Quyển 10 số 3. tr. 377–386. doi:10.1007/bf01173473. S2CID 40508547.
  12. Gotlib, I.H. (1983). "Perception and recall of interpersonal feedback: Negative bias in depression". Cognitive Therapy and Research. Quyển 7 số 5. tr. 399–412. doi:10.1007/bf01187168. S2CID 24017766.
  13. Lobitz, W.C.; Post, R.D. (1979). "Parameters of self-reinforcement and depression". Journal of Abnormal Psychology. Quyển 88 số 1. tr. 33–41. doi:10.1037/0021-843x.88.1.33. PMID 422802.
  14. 1 2 Nelson, R.E.; Craighead, W.E. (1977). "Selective recall of positive and negative feedback, self-control behaviors and depression". Journal of Abnormal Psychology. Quyển 86 số 4. tr. 379–388. doi:10.1037/0021-843x.86.4.379. PMID 903490.
  15. Rozensky, R.H.; Rehm, L.P.; Pry, G.; Roth, D. (1977). "Depression and self-reinforcement behavior in hospitalized patients". Journal of Behavior Therapy and Experimental Psychiatry. Quyển 8. tr. 35–38. doi:10.1016/0005-7916(77)90102-1.
  16. Wenzlaff, R.M.; Berman, J. S. (tháng 8 năm 1985), Judgmental accuracy in depression, The Meeting of the American Psychological Association, Los Angeles{{Chú thích}}: Quản lý CS1: địa điểm thiếu nhà xuất bản (liên kết)
  17. Seidel, Eva-Maria; Satterthwaite, Theodore D.; Eickhoff, Simon B.; Schneider, Frank; Gur, Ruben C.; Wolf, Daniel H.; Habel, Ute; Derntl, Birgit (2012). "Neural correlates of depressive realism — An fMRI study on causal attribution in depression". Journal of Affective Disorders. Quyển 138 số 3. tr. 268–276. doi:10.1016/j.jad.2012.01.041. PMC 3565123. PMID 22377511.
  18. Gotlib, I.H.; Meltzer, S.J. (1987). "Depression and the perception of social skill in dyadic interaction". Cognitive Therapy and Research. Quyển 11. tr. 41–54. doi:10.1007/bf01183131. S2CID 25349029.
  19. Javna, C.D. (1981), "Depressed and nondepressed college students' interpretations of and memory for feedback about self and others", Unpublished Doctoral Dissertation, The Ohio State University, Columbus, OH
  20. Pyszczynski, T.; Holt, K.; Greenberg, J. (1987). "Depression, self-focused attention, and expectancies for positive and negative future life events for self and others". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 52 số 5. tr. 994–1001. doi:10.1037/0022-3514.52.5.994. PMID 3585706.
  21. Benassi, V.A. & Mahler, H.I.M. (1985). "Contingency judgments by depressed college students: Sadder but not always wiser". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 49 số 5. tr. 1323–1329. doi:10.1037/0022-3514.49.5.1323. PMID 4078679.
  22. Sacco, W.P.; Hokanson, J.E. (1978). "Expectations of success and anagram performance of depressives in a public and private setting". Journal of Abnormal Psychology. Quyển 87 số 1. tr. 122–130. doi:10.1037/0021-843x.87.1.122. PMID 649845.
  23. Sacco, W. P. & Hokanson, J. E. (1982). "Depression and self-reinforcement in a public and private setting". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 42 số 2. tr. 377–385. doi:10.1037/0022-3514.42.2.377. PMID 7057358.
  24. Strack, S.; Coyne, J.C. (1983). "Social confirmation of dysphoria: Shared and private reactions". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 44 số 4. tr. 798–806. doi:10.1037/0022-3514.44.4.798. PMID 6842366.
  25. Dykman, B.M.; Abramson, L.Y.; Alloy, L.B.; Hartlage, S. (1989). "Processing of ambiguous and unambiguous feedback by depressed and nondepressed college students: Schematic biases and their implications for depressive realism". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 56 số 3. tr. 431–445. doi:10.1037/0022-3514.56.3.431. PMID 2926638.
  26. Dunning D, Story AL (1991). "Depression, realism, and the overconfidence effect: are the sadder wiser when predicting future actions and events?" (PDF). Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 61 số 4. tr. 521–532. doi:10.1037/0022-3514.61.4.521. PMID 1960645. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011.
  27. Michael Thomas Moore; David Fresco (2007). "Depressive realism and attributional style: implications for individuals at risk for depression" (PDF). Behavior Therapy. Quyển 38 số 2. tr. 144–154. doi:10.1016/j.beth.2006.06.003. PMID 17499081. S2CID 15551427. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2026.
  28. 1 2 Michael Thomas Moore; David Fresco (2012). "Depressive Realism: A Meta-Analytic Review". Clinical Psychology Review. Quyển 32 số 1. tr. 496–509. doi:10.1016/j.cpr.2012.05.004. PMID 22717337.
  29. Langer, E.J. (1975). "The illusion of control". Journal of Personality and Social Psychology. Quyển 32 số 2. tr. 311–328. doi:10.1037/0022-3514.32.2.311. S2CID 30043741.
  30. Msetfi RM, Murphy RA, Simpson J, Kornbrot DE (2005). "Depressive realism and outcome density bias in contingency judgments: the effect of the context and intertrial interval" (PDF). Journal of Experimental Psychology. General. Quyển 134 số 1. tr. 10–22. doi:10.1037/0096-3445.134.1.10. hdl:10344/2360. PMID 15702960. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2026. {{Chú thích tạp chí}}: Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp)

Đọc thêm