Bước tới nội dung

Chỉ trích đồ ăn nhanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thức ăn nhanh và hệ lụy rối loạn ăn uống, nguy cơ béo phì
Một phần thức ăn nhanh
Một chiếc burger

Thức ăn nhanh (Fast food) đã và đang hứng chịu nhiều chỉ trích gay gắt (Criticism of fast food) do các tác động tiêu cực đến sức khỏe, những cáo buộc về hành vi tàn ác với động vật, các trường hợp bóc lột công nhân, chiến dịch tiếp thị nhắm vào trẻ em và các tuyên bố về sự suy thoái văn hóa thông qua sự thay đổi trong thói quen ăn uống của người dân, xa lánh các món ăn truyền thống. Các chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh đã phải đối mặt với làn sóng phản đối dữ dội từ các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, tiêu biểu là Trung tâm Khoa học vì Lợi ích Công cộng, một thiết chế có lịch sử lâu đời trong việc chỉ trích thức ăn nhanh liên quan đến các vấn đề nguy hại như hàm lượng năng lượng, chất béo chuyển hóa và kích cỡ khẩu phần ăn. Các nhà khoa học xã hội đã làm nổi bật cách thức mà sự phổ biến của các câu chuyện về thức ăn nhanh trong các truyền thuyết đô thị phổ biến cho thấy người tiêu dùng hiện đại có một mối quan hệ đầy mâu thuẫn (được đặc trưng từ cảm giác tội lỗi) với loại thực phẩm này, đặc biệt là trong mối liên hệ với trẻ em.[1] Một số mối quan ngại này đã góp phần thúc đẩy sự trỗi dậy của các phong trào thực phẩm chậm và sản vật, đặc sản địa phương. Các phong trào này tìm cách thúc đẩy các nền ẩm thực và nguyên liệu địa phương, đồng thời trực tiếp phản đối các điều luật và thói quen khuyến khích sự lựa chọn thức ăn tiện lợi.

Những người ủng hộ phong trào thực phẩm chậm cố gắng giáo dục người tiêu dùng về những gì mà các thành viên của nó coi là lợi ích về môi trường, dinh dưỡng và hương vị của các loại thực phẩm tươi sống tại địa phương. Một nghiên cứu về các sinh viên sống trong vòng nửa dặm từ các địa điểm thức ăn nhanh đã báo cáo rằng họ đã tiêu thụ một lượng trái cây và rau quả ít hơn, tiêu thụ nhiều nước ngọt hơn và có nhiều khả năng bị thừa cân hơn.[2] Nhiều nghiên cứu khác cho thấy việc tiếp xúc với môi trường thực phẩm chất lượng kém có tác động quan trọng đến cách ăn uống và béo phì ở thanh thiếu niên. Do đó, có vẻ như các can thiệp chính sách hạn chế khoảng cách gần của các nhà hàng thức ăn nhanh đối với trường học có thể giúp giảm béo phì ở thanh thiếu niên.[3] Tại Việt Nam, thức ăn nhanh bắt đầu thâm nhập vào thị trường nội địa từ giữa thập niên 1990 với những tranh luận về lối sống công nghiệp và các tác động y tế cộng đồng của một quốc gia đang phát triển. Thức ăn nhanh tại Việt Nam cũng đối mặt với nhiều lo ngại, các chuyên gia dinh dưỡng trong nước thường xuyên cảnh báo về tình trạng Tây hóa chế độ ăn uống dẫn đến tỉ lệ béo phì ở trẻ em tại các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh gia tăng báo động, việc tiếp thị thức ăn nhanh tại Việt Nam thường gắn liền với các chương trình khuyến mãi nhắm trực tiếp vào trẻ em và học sinh tại các cổng trường học dấy lên những lo ngại về an toàn thực phẩm và hình thành thói quen ăn uống thiếu lành mạnh từ sớm dù nhiều bạn trẻ cho rằng đây là phong cách ăn sành điệu, lối sống hiện đại, nhưng đồ ăn nhanh không chỉ mất cân đối về dinh dưỡng mà còn có thể có một số chất độc hại sinh ra trong quá trình chế biến ảnh hưởng tới sức khỏe.[4]

Về sức khỏe Chỉ trích đồ ăn nhanh

Combo gà rán, khoai tây chiên và mực vòng chiên rán giòn rụm
Phô mai chiên
Bánh khoai tây chiên
Khoai tây chiên của hãng McDonald's
Những chỉ trích về nguy cơ sức khỏe của thức ăn nhanh đến từ mất cân bằng dinh dưỡng, thiếu rau xanh, dư thừa calo rỗng, suất đồ ăn nhanh ngập trong chiên rán một màu vàng đầy chết chóc

Thức ăn nhanh thường chứa một lượng đáng kể mayonnaise, phô mai, muối, thịt chiên rán và dầu mỡ quá nhiều. Các thành phần này thường có hàm lượng calo và chất béo cao, tạo nên tính chất giàu năng lượng. Việc tiêu thụ quá mức các loại thực phẩm như vậy có thể dẫn đến một chế độ ăn uống mất cân bằng. Các chuyên gia sức khỏe, bao gồm cả các chuyên gia dinh dưỡng, nhìn chung khuyến nghị một chế độ ăn uống cân bằng bao gồm đầy đủ protein, vitamin và khoáng chất, đồng thời hạn chế việc nạp quá nhiều chất béo và carbohydrate. Việc tiêu thụ quá mức thức ăn nhanh có liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe khác nhau, bao gồm béo phì và các bệnh tim mạch. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng việc tiêu thụ thức ăn nhanh thường xuyên có thể tác động tiêu cực đến việc điều chỉnh cảm giác thèm ăn và chức năng của hệ hô hấp,[5] cũng như chức năng của hệ thần kinh trung ương. Trong một nghiên cứu dữ liệu cắt khúc trên hơn 100.000 thanh thiếu niên tại 32 quốc gia (bao gồm các quốc gia có thu nhập thấp, trung bình và cao), người ta đã phát hiện ra rằng thức ăn nhanh có liên quan đến việc gia tăng các nỗ lực tự tử.[6][7]

Theo Ủy ban của Hiệp hội Y khoa Massachusetts, thức ăn nhanh thường có hàm lượng chất béo cao, và các nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa việc nạp thức ăn nhanh với việc gia tăng chỉ số khối cơ thể (BMI) và tăng cân.[8] Đặc biệt, nhiều loại thức ăn nhanh có hàm lượng chất béo bão hòa cao, vốn được cho là một yếu tố nguy cơ gây bệnh tim.[9] Vào năm 2010, bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Một nghiên cứu năm 2006 đã cho khỉ ăn một chế độ ăn có mức độ chất béo chuyển hóa tương đương với một người ăn thức ăn nhanh thường xuyên. Cả hai chế độ ăn đều chứa cùng một tổng lượng năng lượng. Kết quả cho thấy những con khỉ tiêu thụ mức chất béo chuyển hóa cao hơn đã phát triển nhiều mỡ bụng hơn so với những con được cho ăn chế độ ăn giàu chất béo không bão hòa. Chúng cũng phát triển các dấu hiệu của tình trạng kháng insulin, một chỉ số sớm của bệnh tiểu đường. Sau sáu năm thực hiện chế độ ăn này, những con khỉ ăn chất béo chuyển hóa đã tăng 7,2% trọng lượng cơ thể, so với chỉ 1,8% ở nhóm ăn chất béo không bão hòa. Một nghiên cứu kéo dài 5 năm được thực hiện tại Singapore cho thấy những người tiêu thụ thức ăn nhanh thường xuyên (hơn hai lần một tuần) có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 và nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch vành tăng lên đáng kể so với những người không tiêu thụ.[10]

Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị tiêu thụ khoảng 16 gram chất béo bão hòa mỗi ngày.[11] Lượng calo quá mức là một vấn đề khác của thức ăn nhanh. Theo P. Block, R. Scribner và K. Desalvo trong bài viết "Fast Food, Race/Ethnicity, and Income: A Geographic Analysis" năm 2004, dẫn dẫn một nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ tài trợ cho biết "tỷ lệ calo có thể được quy cho việc tiêu thụ thức ăn nhanh đã tăng từ 3% lên 12% tổng lượng calo tiêu thụ tại Hoa Kỳ từ năm 1978 đến năm 1995. Năm 1995, thực phẩm "ăn ngoài" cung cấp 34% tổng lượng calo nạp vào và 38% tổng lượng chất béo nạp vào so với mức 18% cho cả hai hạng mục trong giai đoạn 1977–1978".[12] Một bữa ăn thông thường tại McDonald's bao gồm một chiếc Big Mac, khoai tây chiên cỡ lớn và một ly Coca-Cola cỡ lớn có hàm lượng calo lên tới 1.430 calo. USDA khuyến nghị lượng calo nạp vào hàng ngày là 2.700 và 2.100 kcal (11.300 và 8.800 kJ) cho nam giới và phụ nữ (tương ứng) ở độ tuổi từ 31 đến 50, với mức độ hoạt động thể chất tương đương với việc đi bộ khoảng 1,5 đến 3 dặm mỗi ngày ở tốc độ 3 đến 4 dặm một giờ bên cạnh các hoạt động thể chất nhẹ nhàng gắn liền với cuộc sống hàng ngày điển hình,[13] với hướng dẫn của Cơ quan An ninh Y tế Dự phòng Quốc gia về Thực phẩm, Môi trường và Nghề nghiệp của Pháp cũng gợi ý mức độ tương đương.[14]

Giám đốc chương trình béo phì của Bệnh viện Nhi Boston, bác sĩ David Ludwig, cho biết "việc tiêu thụ thức ăn nhanh đã được chứng minh là làm tăng lượng calo nạp vào, hệ lụy tăng cân và nâng cao nguy cơ mắc bệnh tiểu đường". Mối liên hệ giữa việc ăn thức ăn nhanh và sự phát triển của bệnh tiểu đường là một nguyên nhân chính gây báo động và đã được truyền thông nhắc đến rất nhiều. Việc tiêu thụ thức ăn nhanh hàng ngày có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Kháng insulin và suy giảm chuyển hóa glucose là những hậu quả sức khỏe phổ biến của một chế độ ăn nhiều carbohydrate tinh chế (gạo trắng, đường trắng, bột trắng), chất béo xấu và đường bổ sung có trong thức ăn nhanh. Tiểu đường loại 2 là một căn bệnh mãn tính, gây tàn phế với những tác động sức khỏe nghiêm trọng, và sự phát triển của nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ nêu trên.[15]

Tuy nhiên, bên cạnh việc tiêu thụ thức ăn nhanh, còn có nhiều lý do khác dẫn đến tình trạng thừa cân ở trẻ em trong quá trình tăng trưởng, bao gồm sự phát triển giới tính, "thay đổi nội tiết tố" và các tương tác xã hội. Tại những thời điểm đó, những người trẻ tuổi có thể cảm thấy trầm cảm, điều này có thể dẫn đến việc tăng hoặc giảm cảm giác thèm ăn. Thực tế, cảm giác đói gia tăng có thể dẫn đến béo phì trong một số trường hợp và "rối loạn cảm xúc theo mùa ảnh hưởng đến 1,7–5,5% thanh thiếu niên lứa tuổi 9–19 dựa trên một nghiên cứu cộng đồng trên hơn 2.000 thanh thiếu niên".[16] Chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh D'Lites, được thành lập vào năm 1978, chuyên về các món ăn ít calo hơn và các lựa chọn thay thế lành mạnh hơn như salad. Chuỗi nhà hàng này đã nộp đơn xin phá sản vào năm 1987 khi các chuỗi thức ăn nhanh khác bắt đầu cung cấp các lựa chọn lành mạnh hơn. McDonald's đã cố gắng cung cấp các lựa chọn lành mạnh hơn bên cạnh salad. Họ đã kết hợp trái cây và sữa làm các lựa chọn của Happy Meals và đã quảng bá các quảng cáo cũng như bao bì lành mạnh hơn cho trẻ em. Liên minh vì một Thế hệ Khỏe mạnh hơn (một phần của Quỹ Clinton) đã thiết lập một tiêu chuẩn với hy vọng tạo áp lực lên các công ty thức ăn nhanh để thực hiện các điều chỉnh lành mạnh được khuyến nghị.[17]

Chế độ ăn Chỉ trích đồ ăn nhanh

Trung bình, gần một phần ba trẻ em Hoa Kỳ ở độ tuổi từ 4 đến 19 ăn thức ăn nhanh mỗi ngày. Trong suốt một năm, điều này có khả năng dẫn đến việc một đứa trẻ tăng thêm sáu pound trọng lượng.[18] Trong một thử nghiệm nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nhi khoa Pediatrics cho biết có 6.212 trẻ em và thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 4 đến 19 đã được kiểm tra để ngoại suy một số thông tin về thức ăn nhanh. Sau khi phỏng vấn những người tham gia thử nghiệm, có báo cáo rằng vào bất kỳ ngày nào, với 30,3% tổng mẫu đã ăn thức ăn nhanh. Việc tiêu thụ thức ăn nhanh phổ biến ở cả nam và nữ, ở tất cả các nhóm chủng tộc/dân tộc và ở tất cả các vùng miền của đất nước Mỹ.[19] Ngoài ra, trong nghiên cứu này, những trẻ em ăn thức ăn nhanh, so với những trẻ không ăn, có xu hướng tiêu thụ nhiều tổng chất béo, carbohydrate và đồ uống có đường hơn. Trẻ em ăn thức ăn nhanh cũng có xu hướng ăn ít chất xơ, sữa, trái cây và các loại rau không chứa tinh bột hơn. Sau khi xem xét các kết quả xét nghiệm này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng việc tiêu thụ thức ăn nhanh của trẻ em dường như có tác động tiêu cực đến chế độ ăn uống của một cá nhân, theo những cách có thể làm tăng đáng kể nguy cơ béo phì.[19]

Các món chiên rán luôn có trong chế độ ăn kiểu Tây ở châu Âu, Mỹ, Úc
Burger và khoai tây chiên

Do khả năng phòng vệ nhận thức chống lại tiếp thị bị giảm sút, trẻ em có thể dễ bị ảnh hưởng từ các quảng cáo thức ăn nhanh hơn, và do đó có nguy cơ béo phì cao hơn.[20] Thức ăn nhanh chỉ là một yếu tố rất nhỏ góp phần vào tình trạng béo phì ở trẻ em. Một nghiên cứu do các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng Toàn cầu Gillings thuộc Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill thực hiện đã chỉ ra rằng chế độ ăn uống nghèo nàn và béo phì như một yếu tố tổng thể là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ béo phì gia tăng ở trẻ em, Jennifer Poti, đồng tác giả và là ứng viên tiến sĩ tại Khoa Dinh dưỡng của Trường đại học Bắc Carolina biết: "Mặc dù việc giảm lượng thức ăn nhanh nạp vào là quan trọng, nhưng phần còn lại trong chế độ ăn của một đứa trẻ không nên bị bỏ qua".[21]

Các bằng chứng trái ngược cũng đã được ghi nhận, đặt ra câu hỏi về mối tương quan giữa chế độ ăn thức ăn nhanh và béo phì. Một bài báo trên tạp chí People năm 2014 kể lại trải nghiệm, với cỡ mẫu là một người, của John Cisna, một giáo viên khoa học tại Trường trung học Colo-NESCO, người đã thực hiện chế độ ăn thức ăn nhanh trong 90 ngày. Kết thúc 90 ngày, ông đã giảm được 37 pound và mức cholesterol giảm từ 249 xuống còn 170. Cisna đã tuân thủ giới hạn nghiêm ngặt 2.000 calo mỗi ngày và đi bộ 45 phút mỗi ngày. Harley Pasternak, một huấn luyện viên của người nổi tiếng và chuyên gia dinh dưỡng, ủng hộ thí nghiệm của Cisna khi nói rằng: "Mặc dù tôi không nghĩ việc ăn quá nhiều thức ăn nhanh là một ý tưởng hay... nhưng tôi nghĩ ông ấy đúng. Thức ăn nhanh, dù còn lâu mới lành mạnh, nhưng không làm cho người ta tăng cân. Ăn quá nhiều thức ăn nhanh quá thường xuyên mới là điều có thể làm bạn tăng cân—cũng giống như việc ăn quá nhiều bất kỳ thứ gì cũng có thể làm bạn tăng cân".[22]

Một nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy mối quan hệ giữa BMI và số lần tiêu thụ thức ăn nhanh mỗi tuần là không đáng kể.[23] Việc giảm cân ngoạn mục của Jared Fogle nhờ chế độ ăn Subway, vốn được coi là một chuỗi thức ăn nhanh, là một trường hợp khác đưa ra cuộc tranh luận công bằng chống lại ý tưởng cho rằng thủ phạm gây ra béo phì là thức ăn nhanh. Fogle đã giảm được 235 pound bằng cách tiêu thụ bánh mì kẹp Subway cho bữa ăn trưa và bữa ăn tối hàng ngày. Không có phô mai hay mayonnaise, lượng calo của cả hai chiếc bánh mì tổng cộng chưa đến 1.000 calo trong một ngày.[24] Nhãn thực phẩm thức ăn nhanh mà không ghi lượng calo sẽ làm tăng nguy cơ béo phì. Trong bài viết của M. McInerney và các cộng sự đã xem xét tác động của việc dán nhãn thức ăn nhanh đối với việc giảm cân của sinh viên đại học. Trong nghiên cứu này, các sinh viên được yêu cầu dán nhãn lượng calo của các thức ăn nhanh trong danh sách các mặt hàng. Kết quả cho thấy những tác động tích cực đến mức độ giảm cân có ý nghĩa giữa các sinh viên đại học.[25] Do đó, các nhà hàng thức ăn nhanh cần niêm yết hàm lượng calo của sản phẩm để thông tin cho người tiêu dùng về các lựa chọn thực phẩm của họ nhằm ngăn ngừa béo phì.

Bao bì Chỉ trích đồ ăn nhanh

Các suất ăn thức ăn nhanh mang đi luôn kèm theo nhiều bao bì, túi đựng
Một suất ăn của McDonald's tại Trung Quốc với rất nhiều bao bì

Thức ăn nhanh thường được đựng trong các loại giấy gói được phủ lớp Polyfluoroalkyl phosphate este (PAPs) để ngăn mỡ rò rỉ qua tay. Các hợp chất này có khả năng di chuyển từ giấy gói vào thực phẩm được đóng gói.[26] Sau khi ăn vào, các PAPs sau đó được biến đổi sinh học thành Axit cacboxylic perfluorinate (PFCAs), những hợp chất từ lâu đã thu hút sự chú ý do tác động có hại đến sức khỏe ở loài gặm nhấm và thời gian bán hủy dài bất thường ở người. Mặc dù bằng chứng dịch tễ học chưa chứng minh được mối liên hệ nhân quả giữa PFCAs và các vấn đề sức khỏe này ở người, các hợp chất này luôn có mối tương quan với mức độ cholesterol và axit uric cao, và PAPs được tìm thấy trên bao bì thức ăn nhanh có thể là một nguồn gây ô nhiễm PFCA đáng kể ở người.[26][27][28] Một nghiên cứu năm 2011 về rác thải tại Khu vực Vịnh San Francisco của tổ chức Clean Water Action cho thấy gần một nửa lượng rác thải hiện diện trên đường phố là bao bì thức ăn nhanh.

Bài báo của Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên (NRDC) "Waste and Opportunity 2015: Environmental Progress and Challenges in Food, Beverage, and Consumer Goods Packaging" đã báo cáo rằng không có thương hiệu thức ăn nhanh nào đáp ứng các thực hành tốt nhất cho việc sử dụng các vật liệu tái chế hoặc thúc đẩy việc tái chế các bao bì đã qua sử dụng. EPA tuyên bố rằng chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ rác thải nhựa do ngành công nghiệp thức ăn nhanh tạo ra được tái chế.[29] Bên cạnh đó, việc sử dụng bộ đồ ăn dùng một lần giúp chuyển dịch chi phí từ việc thuê nhân viên nội bộ sang dòng chất thải đô thị. Bằng cách thuyết phục người tiêu dùng tự dọn dẹp bộ đồ ăn dùng một lần, chủ yếu trong khoảng thời gian 1960-1975, các chuỗi nhà hàng đã có thể giành được lợi thế cạnh tranh so với các hoạt động phục vụ ăn trưa đầy đủ dịch vụ tại quầy, bất chấp chi phí bổ sung của các mặt hàng dùng một lần. Một số nỗ lực[30][31] nhằm ngăn cản điều này đã được thực hiện, nhưng thói quen thu dọn các món đồ dùng một lần vẫn còn phổ biến. Các biện pháp khác bao gồm các đạo luật về "Túi mang về"[32] và các hạn chế đối với chuỗi nhà hàng.[33][34]

Quảng cáo Chỉ trích đồ ăn nhanh

Tổng thống Trump chiêu đãi trọng thể đội Clemson Tigers với các món thức ăn nhanh ưa thích của ông
Các món thức ăn nhanh trong buổi yến tiệc Nhà trắng
Một bữa ăn tại nhà hàng Victoria với đồ ăn nhanh

Một báo cáo ước tính năm 2012 của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ đã tiết lộ khoản chênh lệch chi phí tiếp thị 7,9 tỷ USD giữa chi phí tiếp thị cho tất cả khán giả và chi phí tiếp thị nghiêm ngặt dành cho trẻ em và thanh thiếu niên. Theo báo cáo này, các ngành công nghiệp thức ăn nhanh đã chi khoảng 9,7 tỷ đô la cho việc tiếp thị thực phẩm và đồ uống cho đối tượng khán giả chung trong khi họ chỉ chi 1,8 tỷ đô la cho việc tiếp thị dành cho trẻ em và thanh thiếu niên.[35]Một trong những vấn đề chủ đạo mà các công ty thức ăn nhanh phải đối mặt với hệ thống các quy định liên quan đó là việc quảng cáo "thức ăn rác" (Junk food) tới đối tượng trẻ em. Tại Vương quốc Anh, Dự luật Thực phẩm Trẻ em (Children's Food Bill) được dự định sẽ điều tiết quản lý chặt chẽ việc quảng cáo loại thực phẩm rác này nhắm đến đối tượng trẻ em.[36] Nhiều quốc gia khác cũng đang tìm cách đưa ra các hạn chế nghiêm ngặt đối với quảng cáo thức ăn nhanh. Các cuộc đàm phán giữa Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm (FSA) và các công ty thức ăn nhanh đã được bắt đầu trong một nỗ lực tập thể nhằm cải thiện chế độ ăn uống của trẻ em, mặc dù sau đó tập đoàn Burger King đã rút khỏi các cuộc thảo luận này.[37]

Một số tổ chức đã kêu gọi áp dụng giờ cấm (watershed) đối với các loại thực phẩm không lành mạnh khác nhau các loại, bao gồm cả thức ăn nhanh. Vào tháng 6 năm 2006, FSA đã kêu gọi ban hành luật ngăn chặn các loại thực phẩm không lành mạnh đó được quảng cáo trên truyền hình trước 9 giờ tối. Họ cũng kêu gọi tách biệt các nhân vật truyền hình và điện ảnh khỏi thức ăn nhanh và ngăn chặn những người nổi tiếng xuất hiện trong các quảng cáo kiểu như vậy.[38] Ảnh hưởng của các chiến dịch này thường bị các công ty thức ăn nhanh và các mạng lưới truyền hình phát quảng cáo của họ phủ nhận.[39] Một số mạng lưới truyền hình cũng tuyên bố rằng các quy định chặt chẽ hơn sẽ làm giảm thu nhập quảng cáo và điều đó sẽ làm giảm chất lượng của các chương trình dành cho trẻ em.[40]

Tại Thụy Điển, mọi quảng cáo nhắm đến trẻ em dưới 12 tuổi đều bị cấm, bao gồm cả quảng cáo thức ăn nhanh. Đối mặt với quy định hạn chế trên truyền hình, đài phát thanh và báo in, nhiều công ty thức ăn nhanh đã bắt đầu sử dụng chiến thuật quảng cáo trực tuyến để tiếp cận khách hàng của họ.[41] Vào ngày 3 tháng 6 năm 2004, KFC đã rút lại các quảng cáo truyền hình tại Hoa Kỳ tuyên bố rằng "gà rán, trên thực tế, có thể là một phần của chế độ ăn uống lành mạnh" sau khi đạt được thỏa thuận với Ủy ban Thương mại Liên bang.[42] Các cơ quan quản lý quảng cáo thường xuyên nhận được khiếu nại về quảng cáo thức ăn nhanh, trong đó các thành viên của công chúng thường cho rằng từ ngữ gây hiểu lầm. Không phải mọi khiếu nại đều được chấp thuận. Từ ngày 11 tháng 9 năm 2002 đến ngày 24 tháng 3 năm 2004, Cơ quan Tiêu chuẩn Quảng cáo (ASA) tại Vương quốc Anh đã điều tra các khiếu nại về 06 quảng cáo của McDonald's, nhưng chỉ có hai trong số đó được chấp thuận. ASA đã sử dụng một trong những khiếu nại được chấp thuận làm một nghiên cứu tình huống.[43] Các chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh sử dụng chiến lược tài trợ như một công cụ tiếp thị quan trọng để gia tăng nhận diện thương hiệu, xây dựng thiện cảm với cộng đồng và liên kết thương hiệu của họ với các trải nghiệm tích cực, cảm xúc.

Người tiêu dùng Chỉ trích đồ ăn nhanh

Thức ăn nhanh có sự cạnh tranh bởi tính tiện lợi và giá bình dân
Có một nghịch lý rằng những người thu nhập thấp lại tiêu thụ nhiều thức ăn nhanh vì giá cạnh tranh
Đồ ăn nhanh đã đánh bại thức ăn truyền thống ở nhiều nơi vì giá bình dân và tiện lợi

Những người phát ngôn của ngành công nghiệp thức ăn nhanh tuyên bố rằng không có thực phẩm tốt hay xấu, mà thay vào đó là chế độ ăn uống tốt hay xấu. Ngành công nghiệp này đã tự bảo vệ mình bằng cách đặt gánh nặng về việc ăn uống lành mạnh lên người tiêu dùng, người đã tự do lựa chọn tiêu thụ sản phẩm của họ vượt ngoài những gì các khuyến nghị dinh dưỡng cho phép.[44] Nhiều nhà hàng thức ăn nhanh đã thêm nhãn vào thực đơn của họ bằng cách liệt kê thông tin dinh dưỡng bên dưới mỗi mặt hàng. Mục đích là để thông tin cho người tiêu dùng về hàm lượng calo và dinh dưỡng của thực phẩm được phục vụ tại đó và dẫn đến việc hướng người tiêu dùng đến các lựa chọn lành mạnh hơn có sẵn. Tuy nhiên, các báo cáo không cho thấy bất kỳ sự sụt giảm đáng kể nào trong doanh số bán hàng tại các địa điểm bán bánh mì kẹp thịt hay burger, điều này làm nổi bật việc không có sự thay đổi nào trong hành vi của người tiêu dùng ngay cả sau khi thực phẩm đã được dán nhãn.[45]

Thức ăn nhanh cũng có giá cả phải chăng phù hợp với thu nhập cá nhân của người dân và các chi phí liên quan đến khu vực họ sinh sống. Trong đó, "các thực phẩm lành mạnh bao gồm các sản phẩm ngũ cốc nguyên hạt, thực phẩm từ sữa ít béo, trái cây và rau tươi có thể ít sẵn có hơn, và tương đối đắt hơn ở các khu phố nghèo và khu phố của người thiểu số".[46] Vì vậy, các cửa hàng thức ăn nhanh được đặt tại những khu vực có nhu cầu cao của dân cư. Một số nghiên cứu khác cho thấy việc ăn thức ăn nhanh không phụ thuộc vào thu nhập của một người. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng lượng thức ăn nhanh tiêu thụ không có mối tương quan với mức thu nhập của một người. Bài viết "Wealth doesn't equal health Wealth: Fast food consequences not just for poor" (Sự giàu có không đồng nghĩa với sức khỏe: Hậu quả của thức ăn nhanh không chỉ dành cho người nghèo) thảo luận về vấn đề này đó là không phải tất cả những người giàu đều là những người tiêu thụ thực phẩm lành mạnh, và họ cũng không tiêu thụ thức ăn nhanh ít thường xuyên hơn so với người nghèo. Ngoài ra, những khách hàng của thức ăn nhanh làm việc chăm chỉ hơn và lâu hơn so với những người không ăn thức ăn nhanh hàng ngày.[47]

Một nghiên cứu được thực hiện tại 20 nhà hàng thức ăn nhanh tại Úc cho thấy mặc dù có sẵn các lựa chọn bữa ăn lành mạnh trong thực đơn nhưng chưa đến 3% người tiêu dùng được quan sát đã chọn một bữa ăn lành mạnh, kết quả này tương đồng với các nghiên cứu gần đây khác của Úc về việc tiêu thụ các bữa ăn lành mạnh tại các địa điểm bán thức ăn nhanh. Trong nghiên cứu quan sát kéo dài 12 giờ này, khoảng 34% các bữa ăn được mua là đồ mang về (những bữa ăn bị loại trừ khỏi nghiên cứu), và 65% đại diện cho các bữa ăn không lành mạnh ăn tại chỗ trong khi 1% còn lại đại diện cho các bữa ăn lành mạnh được mua.[48] Ăn uống không kiểm soát, hoặc tiêu thụ quá mức thức ăn nhanh và các thực phẩm không lành mạnh khác có hàm lượng đường và natri cao là một danh mục các thói quen ăn uống khác nhau được rút ra từ kết quả của một nghiên cứu vào năm 2014. Nghiên cứu này mô tả một mối liên hệ nổi bật giữa việc ăn uống không kiểm soát và các y tá làm ca đêm cùng những người chịu áp lực cao. Trái cây và rau quả được báo cáo là khả năng ít được tiêu thụ nhất khi bị căng thẳng. Khoảng 395 y tá đã tham gia vào nghiên cứu này. Tất cả các y tá này đều là nhân viên của hai bệnh viện lớn tại thủ đô Riyadh, Ả Rập Xê Út.[49]

Nghiên cứu thu thập được từ một khảo sát trên toàn quốc tại Trung Quốc tập trung nghiêm ngặt vào mối liên hệ giữa việc tiêu thụ thức ăn nhanh và đại dịch béo phì đang gia tăng ở trẻ em, trong độ tuổi từ 6–18. Mặc dù kết quả cuối cùng không hoàn toàn thiếu thuyết phục, nhưng không có mối quan hệ đáng kể nào được tìm thấy giữa hai yếu tố này. Các biến số được xem xét để hỗ trợ và thu hẹp nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêu thụ thức ăn nhanh tăng lên khi có bất kỳ biến số nào sau đây: các hộ gia đình thu nhập thấp, ảnh hưởng của bạn bè, vị trí địa lý, tiền tiêu vặt và sự độc lập tài chính. Tỷ lệ tiêu thụ thức ăn nhanh leo thang khi khảo sát trẻ lớn hơn trong khi tỷ lệ tiêu thụ ở trẻ nhỏ hơn tỏ ra bình thường. Ngoài ra, thức ăn nhanh phương Tây được trẻ em ở mọi lứa tuổi ưa chuộng hơn vì chúng liên tưởng thức ăn nhanh phương Tây với thực phẩm chất lượng cao.[50] "Vụ kiện McLawsuit" là một nhóm trẻ em thừa cân đã đệ đơn kiện tập thể chống lại McDonald's để đòi bồi thường vì những lý do liên quan đến béo phì.[51] Hiệu ứng Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp (CSR) là một cụm từ được sử dụng để đánh giá một danh mục dựa trên các phán xét từ các danh mục tương tự khác hoặc có liên quan đến chúng.[52] Nói theo thuật ngữ của ngành công nghiệp thức ăn nhanh, một khách hàng đã có trải nghiệm tồi tệ tại một cửa hàng McDonald's sẽ liên tưởng trải nghiệm đó với các cửa hàng McDonald's khác, tạo ra một hình ảnh định sẵn trong tâm trí họ về việc tất cả các cửa hàng McDonald's khác đều như vậy. Ioannis Assiouras tuyên bố rằng "CSR tích cực trước đó dẫn đến sự đồng cảm cao hơn và sự tức giận cũng như sự hả hê (schadenfreude) thấp hơn đối với công ty, so với CSR tiêu cực trước đó hoặc sự thiếu hụt thông tin về CSR."[52]

Đình công Chỉ trích đồ ăn nhanh

Chế biến đồ ăn nhanh ở Nga

Nhiều nhân viên thức ăn nhanh là những người trưởng thành kiếm được mức lương tối thiểu, mà tại Hoa Kỳ là khoảng 7,25 Đô la Mỹ$ cho mỗi giờ.[53] Khoảng 60% công nhân thức ăn nhanh từ 25 tuổi trở lên.[54][55] Nhiều nhân viên đã phản đối để đòi tăng mức lương tối thiểu. Vào ngày 5 tháng 12 năm 2013, những người biểu tình từ 100 thành phố ở Hoa Kỳ đã tổ chức các cuộc tuần hành đòi mức lương 15 đô la mỗi giờ.[56] Cuộc biểu tình này là một trong chuỗi các cuộc đình công bắt đầu từ năm 2012 tại Thành phố New York, nhằm phản đối mức lương thấp.[57] Trong đợt tăng mạnh nhất trong nhiều thập kỷ, công nhân thức ăn nhanh đã chứng kiến mức lương tăng 10% kể từ năm 2020.[58] Đã có một nghiên cứu về mức lương của nhân viên tại các công ty thức ăn nhanh, nghiên cứu này gợi ý ngành công nghiệp thức ăn nhanh cần tăng mức thù lao hàng giờ từ "7,25 lên 10,25" cho những người mới bắt đầu công việc. Ngoài ra, họ khuyến nghị tăng thêm 5 đô la sau một vài năm kinh nghiệm.[59] Từ đó, rõ ràng để hiểu được việc tăng mức lương tối thiểu có tác động như thế nào đến các dịch vụ của nhân viên, lối sống và phúc lợi của họ. Bởi vì công nhân bắt đầu làm việc tốt hơn khi lối sống cũng như các khoản thù lao của họ thay đổi.

Dịch Covid-19 Chỉ trích đồ ăn nhanh

Khách hàng tập trung tại tiệm thức ăn nhanh ở thủ đô Viên

Đại dịch COVID-19 năm 2019 đã tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp để duy trì hoạt động. Đại dịch dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp cắt giảm giờ làm đối với các công nhân hưởng lương tối thiểu, khiến công nhân phải tìm kiếm các cơ hội việc làm mới.[60] Các công nhân thức ăn nhanh tiếp tục đối mặt với môi trường làm việc thù địch đối với những người chọn ở lại. Họ vốn đã ở trong một công việc được trả lương thấp và cần phải đi làm nên họ vẫn tiếp tục xuất hiện ngay cả khi họ có bất kỳ triệu chứng nào do thiếu các chính sách bảo hiểm và luật pháp vốn chỉ hỗ trợ các bệnh liên quan đến COVID-19.[61] Với hai phần ba số công nhân tuyến đầu là phụ nữ có con nhỏ ở nhà, lựa chọn duy nhất là phải đi làm.[62]

Giãn cách xã hội không phải lúc nào cũng là một lựa chọn trong các nhà hàng thức ăn nhanh do không gian hạn chế. Công nhân thức ăn nhanh không phải lúc nào cũng được cung cấp đầy đủ PPE (thiết bị bảo hộ cá nhân), một công nhân thậm chí đã dẫn chứng việc sử dụng cùng một chiếc khẩu trang trong tối đa một tuần mỗi lần. Cả hai biến số này đều góp phần làm cho công nhân thức ăn nhanh có nguy cơ lây nhiễm virus cao hơn.[63] Đại dịch đã làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe tâm thần mà các công nhân thức ăn nhanh đã phải đối mặt. Bên cạnh các vấn đề sức khỏe tâm thần đã biết, hiện nay họ còn có nỗi sợ bị mất việc làm, lây nhiễm COVID-19 và lây lan virus cho người khác.[64] Các công nhân thức ăn nhanh cho biết họ đã phải đối mặt với việc bị quấy rối tình dục và bị ngược đãi về tinh thần. Hơn 60% công nhân đã trải qua một số hình thức ngược đãi kể từ khi đại dịch bùng phát.[58]

Đối phó Chỉ trích đồ ăn nhanh

Một sản phẩm burger ở Trung Quốc
Một phần thức ăn nhanh

John Merritt, phó chủ tịch cấp cao phụ trách các vấn đề công chúng của Hardee's cho biết "chiến lược của họ không nhất thiết là chuyển hướng sang các mặt hàng lành mạnh hơn" mà là "hướng tới nhiều sự lựa chọn hơn".[65] Vào năm 2013, hãng McDonald's và Dunkin' Brands đã công khai cam kết sẽ chuyển đổi khỏi việc sử dụng ly đựng đồ uống nóng bằng bọt xốp (foam). Hãng McDonald's đã thay thế bọt xốp bằng ly giấy, nhưng Dunkin thì vẫn chưa bắt đầu quá trình chuyển đổi. Việc sử dụng ly bọt xốp vẫn có thể thấy tại Chick-fil-A, Burger King và KFC. Chipotle sử dụng nắp đậy suất ăn bằng nhôm được làm từ 95% vật liệu tái chế, nhưng họ không có hoạt động tái chế sau tiêu dùng, vì vậy những chiếc nắp bị để lại tại chỗ sẽ bị đưa ra bãi chôn lấp.[66] Vào năm 2015, một đoạn video clip ghê rợn về trang trại T&S ở Dukedom, Tennessee đã được các nhà hoạt động vì quyền động vật công bố, trong đó các công nhân bị bắt quả tang đang ngược đãi gà. Tyson Foods là công ty cung cấp gà viên cho gã khổng lồ thức ăn nhanh McDonald's, đã hủy hợp đồng với trang trại này và tuyên bố "phúc lợi động vật" là ưu tiên hàng đầu của họ. McDonald's đã ủng hộ quyết định của Tyson Foods và mô tả hành động của các công nhân là không thể chấp nhận được.[67]

Hơn 160 công ty trong lĩnh vực thực phẩm đã thông báo rằng họ đang có kế hoạch chuyển sang sử dụng trứng chỉ từ gà mái không nuôi nhốt (thả vườn), hầu hết vào năm 2025. Danh sách này bao gồm McDonald's, Dunkin' Donuts, Carl's Jr., Burger King, Denny's, Jack in the Box, Quiznos, Shake Shack, Starbucks, Sonic, Taco Bell, Wendy's, White Castle và Subway, cùng với những công ty khác.[68] Vào năm 2013, McDonald's đã thông báo rằng họ sẽ đưa trái cây và rau quả vào các tổ hợp thực đơn của mình. Don Thompson, giám đốc điều hành của McDonald's tuyên bố: "Chúng tôi đã cố gắng tối ưu hóa thực đơn của mình với nhiều trái cây và rau quả hơn và mang đến cho khách hàng các lựa chọn bổ sung khi họ đến với McDonald's".[69] Vào năm 2016, công ty đã thay thế siro ngô hàm lượng fructose cao trong các ổ bánh burger bằng đường và loại bỏ các loại thuốc kháng sinh "quan trọng đối với y học cho con người" khỏi thịt gà của hãng mình. Họ cũng loại bỏ các chất bảo quản nhân tạo khỏi dầu ăn, miếng thịt xúc xích lợn, trứng được phục vụ trong thực đơn bữa sáng và Chicken McNuggets. Da, dầu hoa rum và axit citric từ McNuggets cũng được thay thế bằng tinh bột đậu Hà Lan, tinh bột gạo và nước cốt chanh dạng bột. Những thay đổi này được thực hiện trong nỗ lực nhắm đến những "người tiêu dùng có ý thức về sức khỏe".[70] Nhiều chuỗi thức ăn nhanh đã giảm bớt việc sử dụng vật liệu bằng cách "giảm trọng lượng" (lightweighting), hoặc giảm vật liệu trong một bao bì theo trọng lượng. McDonald's đã thực hiện hơn 10 đợt giảm trọng lượng bao bì vào năm 2012, chẳng hạn như giảm 48% hộp carton bằng bìa giấy cho bánh kẹp gà, và giảm 18–28% số ly nhựa đựng đồ uống lạnh của mình. Starbucks đã giảm trọng lượng chai nước của họ đi 20% và ly lạnh đi 15%.[66]

Hình ảnh Chỉ trích đồ ăn nhanh

Chú thích Chỉ trích đồ ăn nhanh

  1. Robin Croft (2006), Folklore, families and fear: understanding consumption decisions through the oral tradition, Journal of Marketing Management, 22:9/10, pp1053-1076, ISSN 0267-257X
  2. Davis, Brennan; Carpenter, Christopher (tháng 3 năm 2009). "Proximity of Fast-Food Restaurants to Schools and Adolescent Obesity". American Journal of Public Health. 99 (3): 505–510. doi:10.2105/ajph.2008.137638. ISSN 0090-0036. PMC 2661452. PMID 19106421.
  3. Davis, Brennan, and Christopher Carpenter. "Proximity of Fast-Food Restaurants to Schools and Adolescent Obesity." American Journal of Public Health, vol. 99, no. 3, 2009, pp. 505-510.
  4. Thức ăn nhanh - tiện nhưng không lợi (Báo Tuổi trẻ)
  5. Sharon Kirkey. "Fast Food May Be Linked to Higher Asthma Rates; Researchers Look for Triggers of Respiratory Affliction." Edmonton Journal, Edmonton Journal, Jan. 2009.
  6. "Researchers at Anglia Ruskin University Target Affective Disorders (Fast Food Consumption and Suicide Attempts among Adolescents Aged 12-15 Years from 32 Countries)." Obesity, Fitness & Wellness Week, 2020, pp. 660.
  7. Jacob, Louis; Stubbs, Brendon; Firth, Joseph; Smith, Lee; Haro, Josep Maria; Koyanagi, Ai (ngày 1 tháng 4 năm 2020). "Fast food consumption and suicide attempts among adolescents aged 12–15 years from 32 countries". Journal of Affective Disorders (bằng tiếng Anh). 266: 63–70. doi:10.1016/j.jad.2020.01.130. ISSN 0165-0327. PMID 32056938.
  8. Block, J. P.; Scribner, R. A.; Desalvo, K. B. (2004). "Fast Food, Race/Ethnicity, and Income". American Journal of Preventive Medicine. 27 (3): 211–7. Bibcode:2004AmJPM..27..211B. doi:10.1016/j.amepre.2004.06.007. PMID 15450633.
  9. Duffey, Kiyah J (tháng 1 năm 2013). "Greater intake of Western fast food among Singaporean adults is associated with increased risk of diabetes and heart-disease-related death". Evidence-Based Nursing (bằng tiếng Anh). 16 (1): 25–26. doi:10.1136/eb-2012-101006. ISSN 1367-6539. PMID 23100260. S2CID 38737958.
  10. SaturatedFats.NHC.22 August 2013.Web.9 September 2013
  11. Block, Jason P.; Scribner, Richard A.; Desalvo, Karen B. (2004). "Fast Food, Race/Ethnicity, and Income: A Geographic Analysis". American Journal of Preventive Medicine. 27 (3): 211–217. Bibcode:2004AmJPM..27..211B. doi:10.1016/j.amepre.2004.06.007. PMID 15450633.
  12. "Center for Nutrition Policy and Promotion (CNPP) | USDA-FNS" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  13. "Is white castle good? Expectation vs Reality". ngày 14 tháng 3 năm 2022.
  14. Freeman, Andrea (2007). "Fast Food: Oppression through Poor Nutrition". California Law Review. 95 (6): 2221–2259. ISSN 0008-1221. JSTOR 20439143.
  15. Reevis, Gloria M.; Postolache, Teodor T. (2008). "Childhood Obesity and Depression: Connection between These Growing Problems in Growing Children". International Journal of Child Health and Human Development. IJCHD 1.2 (2): 103–114. PMC 2568994. PMID 18941545.
  16. Morrison, Maureen. "McD's vow to promote healthful menu options puts pressure on rivals; Fast-food leader says it will offer salads instead of fries with value meals and push milk and fruit for Happy Meals in industry watershed." Advertising Age 30 September 2013: 0006. General OneFile. Web. 22 November 2013.
  17. "Fast Food Linked To Child Obesity". CBS News. ngày 5 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2015.
  18. 1 2 "Effects of fast-food consumption on energy intake and diet quality among children in a national household survey." Pediatrics 113.1 (2004): 112-118. E-Journals. EBSCO. Web. 27 October 2014.
  19. Brownell, Kelly. "In Your Face: How The Food Industry Drives Us To Eat." Nutrition Action Health Letter 37.4 (2010):3. MasterFILE Premier. Web. 10 September 2013.
  20. Poti, J. M.; Duffey, K. J.; Popkin, B. M. (2013). "The association of fast food consumption with poor dietary outcomes and obesity among children: is it the fast food or the remainder of the diet?". American Journal of Clinical Nutrition. 99 (1): 162–171. doi:10.3945/ajcn.113.071928. PMC 3862453. PMID 24153348.
  21. Pasternak, Harley. "Harley Pasternak: Can You Lose Weight Eating Fast Food?" People, GreatIdeas. 8 January 2014. Web. 26 March 2014.
  22. Ma, R., D. C. Castellanos, and J. Bachman. "Identifying Factors Associated with Fast Food Consumption among Adolescents in Beijing China using a Theory-Based Approach." Public Health, vol. 136, 2016, pp. 87-93.
  23. Downs, Julie (tháng 10 năm 2013). "Does "Healthy" Fast Food Exist? The Gap Between Perceptions and Behavior". Journal of Adolescent Health. 53 (4): 429–430. doi:10.1016/j.jadohealth.2013.08.005. PMID 24054077.
  24. McInerney, M; Hutchins, M (tháng 9 năm 2017). "Menu Labels Decrease the Number of Calories Selected from Fast-food Restaurants among College Students: A Pilot Study". Journal of the Academy of Nutrition and Dietetics. 117 (9): A90. doi:10.1016/j.jand.2017.06.075.
  25. 1 2 D'eon JC, Mabury SA (2010). "Exploring Indirect Sources of Human Exposure to Perfluoroalkyl Carboxylates (PFCAs): Evaluating Uptake, Elimination and Biotransformation of Polyfluoroalkyl Phosphate Esters (PAPs) in the Rat". Environ Health Perspect. 119 (3): 344–350. doi:10.1289/ehp.1002409 (không hoạt động 14 January 2026). PMC 3059997. PMID 21059488.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 1 2026 (liên kết)
  26. Steenland K, Fletcher T, Savitz DA (2010). "Epidemiologic Evidence on the Health Effects of Perfluorooctanoic Acid (PFOA)". Environ. Health Perspect. 118 (8): 1100–8. Bibcode:2010EnvHP.118.1100S. doi:10.1289/ehp.0901827 (không hoạt động 14 January 2026). PMC 2920088. PMID 20423814.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: DOI không hoạt động tính đến tháng 1 2026 (liên kết)
  27. Schlosser, Eric. Fast food nation: The dark side of the all-American meal. Houghton Mifflin Harcourt, 2012.
  28. MacKerron, Conrad B. "Waste and Opportunity 2015: Environmental Progress and Challenges in Food, Beverage, and Consumer Goods Packaging". Rep. no. R:15-01-A. N.p.: NRDC, 2015. Print.
  29. "Don't Bus Throw-Away Utensils and Tableware", skoozeme.com
  30. "Be straw free campaign"
  31. "Bring your bag" information, Dept. of Environmental Protection, Montgomery Cty., Maryland, US
  32. Formula Business Restrictions, Institute for Local Self-Reliance (ILSR)
  33. Analysis of Cities with Formula Business Ordinances, Malibu, California (.pdf)
  34. McClure, Auden (tháng 11 năm 2013). "Receptivity to Television Fast-Food Restaurant Marketing and Obesity Among U.S. Youth". American Journal of Preventive Medicine. 45 (5): 560–568. doi:10.1016/j.amepre.2013.06.011. PMC 3934414. PMID 24139768.
  35. "Children's Food Bill". British House of Commons. ngày 18 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  36. Leake, Jonathan (ngày 9 tháng 10 năm 2005). "Burger King opts out of health food drive". The Sunday Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  37. Derbyshire, David (ngày 15 tháng 6 năm 2006). "Ban all junk food ads before 9pm, says watchdog". Telegraph.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  38. Kedgley, Sue (ngày 6 tháng 3 năm 2003). "TVNZ's defence of fast-food advertising leaves foul taste". Green Party of Aotearoa New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  39. Simmonds, Malcolm (tháng 3 năm 2006). "The Growth of Obesity". Alternative HealthZine. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  40. Bobbie Johnson; Owen Gibson (ngày 27 tháng 3 năm 2006). "Internet used to push fast food to children, say campaigners". Guardian Unlimited. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  41. Bergren, Scott (ngày 3 tháng 6 năm 2004). "KFC Responds to FTC Resolution of Advertising Inquiry". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  42. "End of story for one fast food ad". Advertising Standards Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2006.
  43. Brownell, Kelly."In Your Face: How The Food Industry Drives Us to Eat."Nutrition Action Health Letter 37.4(2010):3.MasterFILE Premier. Web. 10 September 2013.
  44. Downs, Julie (tháng 10 năm 2013). "Does "Healthy" Fast Food Exist? The Gap Between Perceptions and Behavior". Journal of Adolescent Health. 53 (4): 429–430. doi:10.1016/j.jadohealth.2013.08.005. PMID 24054077.
  45. Newman, Beyron Y. (2006). ". "Health Versus Fast Food Locations."". Optometry - Journal of the American Optometric Association. 77 (6): 258. doi:10.1016/j.optm.2006.03.013.
  46. "Wealth doesn't equal health Wealth: Fast food consequences not just for poor". Business Insights: Essentials. Spring 2018.
  47. Wellard, Glasson, Chapman, Lyndal, Colleen, Kathy (tháng 4 năm 2012). "Sales of healthy choices at fast food restaurants in Australia". Health Promotion Journal of Australia. 23 (1): 37–41. doi:10.1071/he12037. PMID 22730936. ProQuest 1011639552.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  48. Almajwal, Ali (tháng 2 năm 2016). "Stress, shift duty, and eating behavior among nurses in Central Saudi Arabia". Saudi Medical Journal. 37 (2): 191–8. doi:10.15537/smj.2016.2.13060. PMC 4800919. PMID 26837403.
  49. Hong, Xue (tháng 3 năm 2016). "Time Trends in Fast Food Consumption and Its Association with Obesity among Children in China". PLOS ONE. 11 (3) e0151141. Bibcode:2016PLoSO..1151141X. doi:10.1371/journal.pone.0151141. PMC 4790849. PMID 26974536. ProQuest 1773263068.
  50. Mello, Michelle M.; Rimm, Eric B.; Studdert, David M. (tháng 11 năm 2003). "The McLawsuit: The Fast-Food Industry And Legal Accountability For Obesity". Health Affairs. 22 (6): 207–216. doi:10.1377/hlthaff.22.6.207. ISSN 0278-2715. PMID 14649448.
  51. 1 2 Assiouras, Ioannis. "Join Academia.edu & Share Your Research with the World." THE EFFECT OF CORPORATE SOCIAL RESPONSIBILITY ON CONSUMERS' EMOTIONAL REACTIONS IN PRODUCT-HARM CRISIS. N.p., 2011. Web. 31 January 2014.
  52. Jablon, Eden (ngày 3 tháng 3 năm 2014). "Understanding the Fast-Food Minimum Wage Debate – Food". The Wesleyan Argus. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  53. "Slow Progress for Fast-Food Workers" (PDF). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  54. "Bill Maher: Average fast food worker is 29, most are on public assistance | PunditFact". Politifact.com. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  55. "Charts: Why Fast-Food Workers Are Going on Strike". Mother Jones. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  56. Mantel, Barbara. "Minimum Wage." CQ Researcher. 4 January 2014. Web. 3 February 2014.
  57. 1 2 "A 10% pay increase and 8 other stats show how crazy it is to work in fast food right now". Business Insider.
  58. Pollin, Robert; Wicks-Lim, Jeannette (tháng 9 năm 2016). "A $15 U.S. Minimum Wage: How the Fast-Food Industry Could Adjust Without Shedding Jobs". Journal of Economic Issues. 50 (3): 716–744. CiteSeerX 10.1.1.675.1509. doi:10.1080/00213624.2016.1210382. S2CID 157629923.
  59. "Restaurant Workers Say Industry Faces A Reckoning, As Owners Struggle To Find Help". WGLT (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  60. Gangopadhyaya, Anuj (tháng 3 năm 2020). "Supporting Food Service and Preparation Workers during the COVID-19 Pandemic" (PDF). Urban Institute.
  61. "A Basic Demographic Profile of Workers in Frontline Industries". Center for Economic and Policy Research.
  62. "COVID-19 HAZARDS AMONG CALIFORNIA FAST-FOOD WORKERS" (PDF).
  63. Cubrich, Marc (2020). "On the Frontlines: Protecting Low-Wage Workers During COVID-19" (PDF). Psychological Trauma: Theory, Research, Practice, and Policy. 12 (S1): S186 – S187. doi:10.1037/tra0000721. PMID 32551757. S2CID 219899588.
  64. Clark, Charles S. "Fast-Food Shake-up." CQ Researcher. 8 November 1991. Web. 3 February 2014.
  65. 1 2 MacKerron, Conrad B. Waste and Opportunity 2015: Environmental Progress and Challenges in Food, Beverage, and Consumer Goods Packaging. Rep. no. R:15-01-A. N.p.: NRDC, 2015. Print.
  66. Tolliver, Whitecomb; Jonathan, Dan (ngày 27 tháng 8 năm 2015). "McDonald's, Tyson Foods drop farm after videotape shows animal cruelty". Reuters.
  67. Strom, Stephanie. "McDonald's Plans a Shift to Eggs From Only Cage-Free Hens." The New York Times, 9 September 2015. Web. 5 March 2017.
  68. Strom, Stephanie (ngày 26 tháng 9 năm 2013). "With Tastes Growing Healthier, McDonald's Aims to Adapt Its Menu". The New York Times. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2019.
  69. "McDonald's to remove corn syrup from buns, curbs antibiotics in chicken". Reuters. ngày 1 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017.