Chóng mặt
Có người đề nghị bài viết này cần chia ra thành nhiều bài viết. (Thảo luận) (tháng 3/2026) |
| Chóng mặt | |
|---|---|
| Tên khác | Chóng mặt cấp tính[1] |
![]() | |
| Rung giật nhãn cầu theo chiều ngang, một dấu hiệu có thể đi kèm với chóng mặt quay cuồng | |
| Phát âm | |
| Khoa/Ngành | Tai mũi họng |
| Triệu chứng | Cảm giác quay tròn hoặc lắc lư, nôn, khó đi lại[2][3] |
| Nguyên nhân | Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV), bệnh Ménière, viêm mê đạo, đột quỵ, u não, chấn thương não, đa xơ cứng, đau nửa đầu[2][3] |
| Chẩn đoán phân biệt | Tiền ngất, mất thăng bằng, chóng mặt không đặc hiệu[3] |
| Dịch tễ | 20-40% dân số tại một thời điểm trong đời[4] |
Chóng mặt quay cuồng (vertigo) là một triệu chứng trong đó người bệnh có cảm giác bản thân đang chuyển động hoặc các vật thể xung quanh đang di chuyển dù thực tế không phải vậy.[2] Cảm giác này thường giống như quay tròn hoặc lắc lư.[2][3] Tình trạng này có thể kèm theo buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi hoặc khó đi lại.[3] Các triệu chứng thường nặng hơn khi đầu cử động.[3] Chóng mặt là loại choáng váng phổ biến nhất.[3]
Những bệnh thường gây ra chóng mặt quay cuồng gồm chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV), Bệnh Ménière, và viêm mê đạo.[2][3] Các nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm đột quỵ, u não, chấn thương não, đa xơ cứng, đau nửa đầu, sang chấn, và chênh lệch áp lực giữa hai tai giữa.[3][5][6] Chóng mặt sinh lý có thể xảy ra sau khi tiếp xúc với chuyển động kéo dài, chẳng hạn như đi tàu biển hoặc sau khi quay tròn với mắt nhắm.[7][8] Các nguyên nhân khác có thể bao gồm tiếp xúc với độc tố như CO2, rượu, hoặc aspirin.[9] Chóng mặt quay cuồng thường cho thấy vấn đề ở một phần của hệ tiền đình.[3] Các nguyên nhân khác của choáng váng bao gồm tiền ngất, mất thăng bằng, và chóng mặt không đặc hiệu.[3]
Chóng mặt tư thế kịch phát lành tính (BPPV) thường gặp ở những người bị các cơn chóng mặt lặp đi lặp lại khi cử động, nhưng giữa các cơn thì hoàn toàn bình thường.[10] Các cơn thường kéo dài dưới một phút.[3] Nghiệm pháp Dix-Hallpike thường gây ra một giai đoạn chuyển động mắt nhanh, gọi là rung giật nhãn cầu trong tình trạng này.[2] Trong bệnh Ménière, thường có hiện tượng ù tai, mất thính lực và các cơn chóng mặt kéo dài hơn 20 phút.[10] Trong viêm mê đạo, cơn chóng mặt khởi phát đột ngột và rung giật nhãn cầu xảy ra ngay cả khi không có chuyển động.[10] Trong trường hợp này, chóng mặt quay cuồng có thể kéo dài nhiều ngày.[3] Các nguyên nhân nghiêm trọng hơn cũng cần được xem xét, đặc biệt nếu kèm theo yếu cơ, đau đầu, nhìn đôi hoặc tê bì.[10][3]
Choáng váng nói chung ảnh hưởng đến khoảng 20-40% người vào một thời điểm nào đó trong đời, trong khi khoảng 7,5-10% trải qua chóng mặt quay cuồng.[4] Khoảng 5% dân số bị chóng mặt quay cuồng mỗi năm.[11] Tình trạng này phổ biến hơn khi tuổi tăng và gặp ở phụ nữ nhiều gấp hai đến ba lần so với nam giới.[11] Chóng mặt quay cuồng chiếm khoảng 2-3% số lần đến khoa cấp cứu tại các nước phát triển.[11]
Tài liệu tham khảo
- ↑ Edlow, JA; Carpenter, C; Akhter, M; Khoujah, D; Marcolini, E; Meurer, WJ; Morrill, D; Naples, JG; Ohle, R; Omron, R; Sharif, S; Siket, M; Upadhye, S; E Silva, LOJ; Sundberg, E; Tartt, K; Vanni, S; Newman-Toker, DE; Bellolio, F (tháng 5 năm 2023). "Guidelines for reasonable and appropriate care in the emergency department 3 (GRACE-3): Acute dizziness and vertigo in the emergency department". Academic emergency medicine : official journal of the Society for Academic Emergency Medicine. 30 (5): 442–486. doi:10.1111/acem.14728. PMID 37166022.
- 1 2 3 4 5 6 Post, RE; Dickerson, LM (2010). "Dizziness: a diagnostic approach". American Family Physician. 82 (4): 361–369. PMID 20704166. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2013.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Hogue, JD (tháng 6 năm 2015). "Office Evaluation of Dizziness". Primary Care: Clinics in Office Practice. 42 (2): 249–258. doi:10.1016/j.pop.2015.01.004. PMID 25979586.
- 1 2 von Brevern, M; Neuhauser, H (2011). "Epidemiological evidence for a link between vertigo & migraine". Journal of Vestibular Research. 21 (6): 299–304. doi:10.3233/VES-2011-0423. PMID 22348934.
- ↑ Wicks, RE (tháng 1 năm 1989). "Alternobaric vertigo: an aeromedical review". Aviation, Space, and Environmental Medicine. 60 (1): 67–72. PMID 2647073.
- ↑ Buttaro, Terry Mahan; Trybulski, JoAnn; Polgar-Bailey, Patricia; Sandberg-Cook, Joanne (2012). Primary Care - E-Book: A Collaborative Practice (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 4). Elsevier Health Sciences. tr. 354. ISBN 978-0323075855. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Falvo, Donna R. (2014). Medical and psychosocial aspects of chronic illness and disability (ấn bản thứ 5). Burlington, MA: Jones & Bartlett Learning. tr. 273. ISBN 9781449694425. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Wardlaw, Joanna M. (2008). Clinical neurology. London: Manson. tr. 107. ISBN 9781840765182. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2015.
- ↑ Goebel, Joel A. (2008). Practical management of the dizzy patient (ấn bản thứ 2). Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins. tr. 97. ISBN 9780781765626. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2015.
- 1 2 3 4 Kerber, KA (2009). "Vertigo and dizziness in the emergency department". Emergency Medicine Clinics of North America. 27 (1): 39–50. doi:10.1016/j.emc.2008.09.002. PMC 2676794. PMID 19218018.
- 1 2 3 Neuhauser HK, Lempert T (tháng 11 năm 2009). "Vertigo: epidemiologic aspects" (PDF). Seminars in Neurology. 29 (5): 473–81. doi:10.1055/s-0029-1241043. PMID 19834858. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2018.
- Bệnh thần kinh
- Rối loạn tiền đình
