Bước tới nội dung

Callum Keith Rennie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Callum Keith Rennie
Rennie vào năm 2011
Sinh14 tháng 9, 1960 (65 tuổi)
Sunderland, Anh
Tư cách công dânCanada
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1989–nay

Callum Keith Rennie (sinh ngày 14 tháng 9 năm 1960[1]) là một nam diễn viên người Canada, sống tại British Columbia.[2] Vai diễn đột phá của ông là tay chơi punk Billy Tallent trong phim giả tài liệu âm nhạc Hard Core Logo (1996), tiếp theo là vai chính Thám tử Stanley Raymond Kowalski trong mùa thứ ba và thứ tư của loạt phim truyền hình Due South (1997–99).[1] Sau đó, ông giành được Giải Genie cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất nhờ vai diễn trong bộ phim của Don McKellar, Last Night (1998).[1]

Các vai diễn truyền hình đáng chú ý của Rennie bao gồm Leoben Conoy / Số 2 trong Battlestar Galactica (2003–09), Lew Ashby trong Californication (2008–13), Rick Felder trong The Killing (2011–2012), Gary Connell trong The Man in the High Castle (2016), Karl Malus trong Jessica Jones (2018), và Chỉ huy Rayner trong Star Trek: Discovery (2024). Ông từng giành Giải Gemini cho hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong loạt phim chính kịch dài tập với vai Thám tử Ben Sullivan trong Shattered, và Giải Genie thứ hai nhờ bộ phim Normal (2007). Ông cũng đã bốn lần đoạt Giải Leo.[1]

Thiếu thời

Rennie sinh ra tại Sunderland, Tyne and Wear. Khi ông 4 tuổi, gia đình quyết định di cư sang Canada. Rennie lớn lên trong một gia đình trung lưu ở Edmonton, Alberta, là con trai thứ hai trong ba anh em.[3][4] Ông tốt nghiệp Trường Trung học Strathcona Composite, nơi ông gặp gỡ và kết bạn với Bruce McCulloch – người sau này là thành viên của nhóm hài The Kids in the Hall.[5][2] Sau trung học, ông bỏ dỡ đại học và trải qua nhiều công việc khác nhau, ông rời Edmonton để đến sống ở VancouverToronto trong thời gian ngắn trước khi chọn định cư tại Vancouver.[5][2]

Sự nghiệp

Giai đoạn đầu

Việc làm tại đài phát thanh của Đại học Alberta đã giúp Rennie nhận ra niềm đam mê diễn xuất ở tuổi 25. Ông bắt đầu sự nghiệp trên sân khấu, biểu diễn tại A.B.O.P. Theatre ở Edmonton trong vở Amerika, một vở kịch chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Franz Kafka, sau đó là vở American Buffalo. Sau khi theo học tại Học viện Sân khấu Bruhanski ở Vancouver, ông có màn biểu diễn chuyên nghiệp đầu tiên vào năm 1989 trong vở Lost Souls and Missing Persons của Sally Clark, do Touchstone Theatre sản xuất. Thành công này đã giúp ông nhận được lời mời làm việc tại Shaw Festival, nơi ông xuất hiện trong các vở Man and SupermanTrelawny of the Wells (1990) của Pinero.[3]

1993–2001

Rennie trong phim ngắn Frank's Cock năm 1993

Rennie lần đầu xuất hiện trên màn ảnh trong bộ phim độc lập Canada Purple Toast, quay năm 1990 và phát hành năm 1993. Cũng trong năm 1993, ông bắt đầu nhận những vai nhỏ trên truyền hình, gồm các phim Highlander, Forever Knight và phiên bản làm lại của The Outer Limits. Trong thời gian này, vị thế của Rennie trong ngành công nghiệp điện ảnh Canada được nâng cao nhờ các vai chính trong phim truyền hình Paris or Somewhere (1994) và For Those Who Hunt the Wounded Down (1996). Do một số mâu thuẫn trong quá trình sản xuất For Those Who Hunt the Wounded Down, Rennie tuyên bố sẽ không bao giờ làm việc cho CBC nữa, mặc dù ông vẫn là người ủng hộ nhiệt tình ngành công nghiệp điện ảnh Canada nói chung. Sau lần xuất hiện trong Hồ sơ tuyệt mật, ông được mời đảm nhận vai Alex Krycek nhưng từ chối vì không muốn gắn bó lâu dài với một loạt phim truyền hình vào thời điểm đó.[2]

Sự nghiệp của ông tiếp tục phát triển và nhận được nhiều vai lớn hơn trong các bộ phim Canada, bao gồm phim ngắn độc lập Frank's Cock của Mike Hoolboom và Double Happiness của Mina Shum, trong Double Happiness, ông thủ vai người tình của Sandra Oh, vai này giúp ông được đề cử giải Genie cho Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất. Ông cũng đảm nhận những vai quan trọng hơn trên truyền hình, trong đó có loạt phim 2 mùa La Femme Nikita.

Những vai nổi bật đầu tiên của ông là tay guitar Billy Tallent trong Hard Core Logo (1996) của Bruce McDonald và thám tử Stanley Raymond Kowalski trong mùa 3 và 4 của loạt phim Due South phát sóng trên kênh CTV, được phát sóng tại hơn 150 quốc gia. Ban nhạc Canada Billy Talent được đặt theo tên nhân vật Billy Tallent trong Hard Core Logo.[6] Về vai diễn trong Due South, người ta nhận xét rằng "cường độ đầy chán nản và vẻ ngoài hơi say xỉn" của ông đã tạo thêm nét sắc sảo cho bộ phim.[2]

Rennie sau đó xuất hiện trong các vai diễn định kỳ, bao gồm nhân vật chuyên gia cửa hàng tiện lợi Newbie trong loạt phim truyền hình Twitch City của Don McKellar và thám tử Bobby Marlowe trong loạt phim Da Vinci's Inquest.

Vai diễn tay chơi tình dục Craig Zwiller trong bộ phim Last Night của Don McKellar đã giúp ông giành giải Genie đầu tiên (1999). Sau một vai trong bộ phim eXistenZ (1999) của David Cronenberg, thành công quốc tế đầu tiên trên màn ảnh rộng của ông là vai Dodd, một tên côn đồ trong Memento (2000) của Christopher Nolan Cùng năm đó, ông hóa thân thành một kẻ lang thang vừa đáng sợ vừa quyến rũ trong Suspicious River.

2002–nay

Với các vai người cha trong Falling Angels (2003) và Flower and Garnet (2002), Rennie mở rộng sang các vai diễn trưởng thành hơn, thay vì các nhân vật trẻ tuổi và tự hủy hoại bản thân. Ông cũng thủ vai thanh tra Wood điềm tĩnh trong phim tâm lý lịch sử Torso: The Evelyn Dick Story (2002) và một họa sĩ trầm lặng mắc chứng khó đọc trong Wilby Wonderful (2004).

Ông góp mặt trong nhiều bộ phim truyền hình của Canada và Hoa Kỳ với tư cách diễn viên khách mời, bao gồm Mutant X, The Dead Zone, Smallville, Supernatural, The L Word, Bionic WomanHarper's Island. Trong cùng thời gian, ông cũng đóng vai những nhân vật trái ngược nhau trong các bộ phim như The Butterfly Effect, H2O: the Last Prime Minister, The Five People You Meet in Heaven, Blade: Trinity (2004), Lucid (2005), Unnatural & Accidental (2006), The Invisible, Tin Man, Normal, Silk (2007) và Hồ sơ chết (2008).

Vai diễn định kỳ của ông trong vai Cylon Leoben Conoy trong phiên bản làm lại của Battlestar Galactica (2003–2009) và vai nhà sản xuất âm nhạc Lew Ashby trong suốt mùa thứ 2 của Californication (2008) đã giúp ông đạt được sự công nhận rộng rãi, gây dựng danh tiếng trên phạm vi quốc tế.

Trong giai đoạn 2009–2010, Rennie đảm nhận vai Jeff Slingerland, còn được gọi là Dr. Maurice Raynaud, trong loạt phim FlashForward của ABC. Trước khi loạt phim bị hủy, David Goyer, người từng đạo diễn ông trong Blade và The Invisible, đã cho biết Rennie sẽ trở lại và dự kiến xuất hiện trong mùa thứ hai.[7] Ông cũng xuất hiện trong vai tội phạm người Nga Vladimir Laitanan trong mùa 8 của 24.[8]

Mùa thu năm 2010, ông đảm nhận vai chính Detective Brian Sullivan trong loạt phim Shattered, kể về một thám tử mắc chứng rối loạn nhân cách phân liệt. Phim được phát sóng tại Canada trên kênh Global TV và sau đó chiếu tại một số quốc gia khác, nhưng không được phát sóng ở Hoa Kỳ.[9] Nhờ diễn xuất trong Shattered, Rennie nhận được nhiều lời khen ngợi từ giới phê bình nhờ diễn xuất của mình và giành cả giải Gemini lẫn giải Leo vào năm 2011.[10][11] Tuy nhiên, Shattered không được gia hạn để sản xuất mùa thứ hai.

Trong năm 2010, ông còn xuất hiện trên màn ảnh trong bộ phim Gunless của Canada, một phim hài cao bồi có sự tham gia của Paul Gross, ông vào vai một thợ săn tiền thưởng đang truy đuổi nhân vật Montana Kid do Gross thủ vai.[12][13]

Năm 2015, Rennie được chọn vào vai chính trong mùa thứ 2 của loạt phim The Man in the High Castle của Amazon. Ông đảm nhận vai Gary Connell, thủ lĩnh của phong trào kháng chiến ở Bờ Tây Hoa Kỳ.[14]

Đời tư

Rennie yêu thích hội họa và ngưỡng mộ các họa sĩ thuộc trường phái trừu tượng như Jean-Michel Basquiat, Robert Motherwell và Jackson Pollock (hình xăm logo Champion spark plug trên cánh tay phải của ông là lời tri ân dành cho Stuart Davis).[3] Ông từng là một người đam mê leo núi khi còn trẻ[15] và là một người rất thích chơi golf.[4]

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 "Callum Keith Rennie". www.thecanadianencyclopedia.ca (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2024.
  2. 1 2 3 4 5 "Callum Keith Rennie". The Canadian Movie Database. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  3. 1 2 3 "12 Steps to Stardom". Saturday Night Magazine. tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  4. 1 2 Amsden, Cynthia (tháng 12 năm 2001). "The Tao of Callum Keith Rennie". Take One. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  5. 1 2 "Getting Under Callum Keith Rennie's Skin". Vines. April–May 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  6. "Billy Talent". Access Magazine. February–March 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  7. "David Goyer: More New Characters Ahead for 'Flash Forward'". buddyTV. ngày 12 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  8. "Callum Keith Rennie knows how to be bad, from 'Californication' to 'Oz' to '24'". The Canadian Press. ngày 28 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  9. "Global Fall Preview: Callum Keith Rennie's Shattered experience BY Melissa Leong". National Post. ngày 1 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010.
  10. "Rick Mercer, The Borgias earn Geminis". CBC News. ngày 7 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011.
  11. "2011 Winners". Leo Awards official website. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011.
  12. "Paul Gross & Sienna Guillory to star in Gunless". CNW Group. ngày 27 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.
  13. "Paul Gross Goes Gruff in 'Gunless'". Moviefone. ngày 29 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.
  14. Petski, Denise (ngày 15 tháng 4 năm 2016). "Callum Keith Rennie Joins Amazon's 'Man in the High Castle'; Rafael de la Fuente In 'When We Rise' ABC Miniseries".
  15. "DECISIVE MOMENT: Callum Keith Rennie Climbs to the Top". The Globe and Mail. ngày 14 tháng 12 năm 1996. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2009.

Liên kết ngoài