Cộng hòa Tự do Congo
Cộng hòa Tự do Congo | |||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Tên bản ngữ
| |||||||||
| 1960–1962 | |||||||||
Cộng hòa Tự do Congo màu đỏ (1961) | |||||||||
| Tổng quan | |||||||||
| Vị thế | Chính phủ đối lập được công nhận hạn chế | ||||||||
| Thủ đô và thành phố lớn nhất | Stanleyville | ||||||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Pháp | ||||||||
| Chính trị | |||||||||
| Chính phủ | Cộng hòa đại nghị | ||||||||
| Thủ tướng | |||||||||
• 1960–1962 | Antoine Gizenga | ||||||||
| Lịch sử | |||||||||
| Thời kỳ | Khủng hoảng Congo | ||||||||
| 12 tháng 2 1960 | |||||||||
• Được công nhận hạn chế | 20 tháng 2 năm 1961 | ||||||||
• Giải thể | 16 tháng 1 1962 | ||||||||
| Thông tin khác | |||||||||
| Múi giờ | UTC+2 (CAT) | ||||||||
| Mã ISO 3166 | CD | ||||||||
| |||||||||
| Hiện nay là một phần của | Cộng hòa Dân chủ Congo | ||||||||
Cộng hòa Tự do Congo (tiếng Pháp: République Libre du Congo), thường được gọi là Congo-Stanleyville, là một chính phủ đối lập tồn tại trong thời gian ngắn, song song với Cộng hòa Congo (Congo-Léopoldville). Chính phủ này có thủ đô tại miền đông Congo và do Antoine Gizenga lãnh đạo.
Sau khi Thủ tướng Patrice Lumumba bị phế truất vào tháng 9 năm 1960 trong bối cảnh Khủng hoảng Congo, nhiều người ủng hộ ông không còn tin vào chính quyền ở Léopoldville (ngày nay là Kinshasa). Dưới sự lãnh đạo của Antoine Gizenga, vốn là phó cấp của Lumumba, những người cánh tả tập hợp tại Stanleyville (ngày nay là Kisangani) và vào tháng 12 tuyên bố chính phủ của họ là người kế nhiệm hợp pháp cho chính quyền của thủ tướng. Gizenga nhanh chóng tích lũy sức mạnh quân sự và đến tháng 2 năm 1961 đã chiếm đóng phần lớn lãnh thổ Congo. Vào tháng 8, các cuộc đàm phán giữa hai chính phủ dẫn đến việc Gizenga đồng ý từ chức. Ông trở lại chức vụ phó thủ tướng dưới quyền tân thủ tướng Cyrille Adoula. Tuy nhiên, Gizenga vẫn giữ khoảng cách với chính quyền trung ương đồng thời tái thiết quyền lực chính trị và quân sự của riêng mình. Chính phủ đối lập không được tái hòa nhập hoàn toàn vào Cộng hòa Congo cho đến khi Gizenga bị bắt vào tháng 1 năm 1962.
Bối cảnh Cộng hòa Tự do Congo
Vào ngày 30 tháng 6 năm 1960, Congo thuộc Bỉ giành độc lập với tên gọi Cộng hòa Congo. Tuy nhiên, tình hình trong nước nhanh chóng trở nên bất ổn khi quân đội nổi loạn, bắt đầu Khủng hoảng Congo. Bất chấp những nỗ lực của Thủ tướng Patrice Lumumba nhằm ổn định quân đội, tình hình vẫn trở nên tồi tệ hơn. Katanga và Nam Kasai sau đó ly khai khỏi chính quyền trung ương. Trong tình hình đó, Liên Hợp Quốc (LHQ) tổ chức một chiến dịch gìn giữ hòa bình và gửi quân đến Congo. Vào ngày 5 tháng 9, Tổng thống Joseph Kasa-Vubu cách chức Lumumba. Chính phủ bị tê liệt bởi cuộc chiến chính trị xảy ra sau đó, và vào ngày 14 tháng 9, Đại tá Joseph-Désiré Mobutu tuyên bố tiếp quản Léopoldville (ngày nay là Kinshasa) và thành lập chính quyền riêng.[1] Hai ngày sau, Lumumba bị quản thúc tại gia. Đến tháng 10, những người ủng hộ vị thủ tướng tin rằng rất ít mục tiêu của họ có thể đạt được thông qua chính phủ mới.[2]
Phó thủ tướng dưới quyền Lumumba là Antoine Gizenga chuyển đến Stanleyville (nay là Kisangani) vào ngày 13 tháng 11 để thành lập chính phủ riêng.[3] Những người theo chủ nghĩa dân tộc khác nỗ lực gia nhập phe của ông, bao gồm Joseph Mbuyi, Maurice Mpolo, Anicet Kashamura, Christophe Gbenye, Pierre Mulele (cựu bộ trưởng trong chính phủ Lumumba), Joseph Okito (phó chủ tịch Thượng viện), và Barthélemy Mujanay (thống đốc Ngân hàng Trung ương Congo). Trong số này chỉ có Kashamura, Gbenye và Mulele thành công. Mpolo và Okito bị bắt và đưa về thủ đô, trong khi Mbuyi và Mujanay bị xử tử tại vùng Charlesville.[4]
Chỉ huy quân đội của Lumumba là Victor Lundula đã trốn thoát khỏi sự giam giữ ở Léopoldville và tìm đường đến Stanleyville. Trước đó, ông từng bị Mobutu bắt giữ.[5] Lundula và quân đội dưới quyền tuyên thệ trung thành với Gizenga.[6] Sức mạnh quân sự của Gizenga ở tỉnh Orientale tăng lên nhanh chóng,[7] và quân đội của ông đã tập hợp được 6.000 người.[8] Vào ngày 26 tháng 11, Lundula tổ chức một cuộc duyệt binh quân sự tại Stanleyville với sự tham gia của hầu hết các đơn vị quân đội ở Orientale. Sự gắn kết của quân đội chủ yếu là do sự ngưỡng mộ và tôn trọng của binh lính đối với Lundula. Họ cũng được các lý tưởng dân tộc chủ nghĩa của Lumumba thu hút.[9]
Cũng trong tháng 11, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bỏ phiếu công nhận một phái đoàn do Kasa-Vubu và Mobutu tập hợp, chính thức chấm dứt hy vọng trở lại nắm quyền một cách hợp pháp của Lumumba. Vào ngày 27 tháng 11, vị thủ tướng bị phế truất đã trốn khỏi nhà và đi đến Stanleyville để gia nhập phái Gizenga, nhưng ông bị bắt năm ngày sau đó và giam giữ tại trại lính ở Thysville.[10][2] Đại biểu do Lumumba chỉ định tại Liên Hợp Quốc là Thomas Kanza đã đổi phe và hoạt động như một đại diện cho Gizenga ở nước ngoài.[11]
Lịch sử Cộng hòa Tự do Congo

Vào ngày 12 tháng 12 năm 1960, Gizenga tuyên bố chính phủ mới với tên gọi Cộng hòa Tự do Congo,[6] có trụ sở tại tỉnh Orientale, là chính quyền cai trị hợp pháp tại Congo.[12] Chính quyền trung ương gần như ngay lập tức áp đặt lệnh phong tỏa nguồn tiếp tế dọc theo sông Congo.[13] Sở hữu sức mạnh quân sự nhưng chính quyền Stanleyville chưa bao giờ thiết lập một cơ cấu hành chính rộng lớn mà hoạt động như một chính phủ lưu vong.[14] Tuy nhiên, chính quyền này có sự ủng hộ của dân chúng nhiều hơn cả Cao đẳng Ủy viên Tổng hợp hoặc chính quyền của Tshombe.[15] Hầu hết các chức năng hành chính vẫn do chính quyền tỉnh trước đây đảm nhiệm, vốn gặp khó khăn khi cùng tồn tại với chính quyền tập trung mới của Gizenga.[16] Các đại biểu ôn hòa của hội đồng tỉnh đã chạy sang Léopoldville.[17]
Đến ngày 20 tháng 2 năm 1961, Cộng hòa Tự do Congo đã được Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Ba Lan, Đông Đức, Nam Tư, Albania, Bulgaria, Hungary, Cuba, Iraq, Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, Ghana, Guinée, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Algérie và Maroc công nhận là chính phủ hợp pháp của đất nước.[18] Gizenga yêu cầu các quốc gia phương Tây di dời đại sứ quán của họ đến Stanleyville hoặc có nguy cơ bị trục xuất lãnh sự.[19]
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nikita Khrushchev đã phê chuẩn khoản tiền 500.000 đô la cho Mulele. Số tiền này được dùng để trả lương cho binh lính của chính phủ đối lập, vì trên lãnh thổ của họ chưa thu thuế và không nhận được bất kỳ khoản thu nào để tài trợ cho quân đội. Tuy nhiên, các điệp viên Liên Xô tin rằng Mulele đã biển thủ một phần số tiền này. Chính phủ Tiệp Khắc đề xuất cung cấp vũ khí cho chế độ này thông qua một cầu hàng không từ Praha qua Ai Cập, nhưng bị Tổng thống Gamal Abdel Nasser phủ quyết.[8]
Trong khi đó, tướng Lundula thành lập một bộ tham mưu gồm các sĩ quan chủ yếu đến từ Orientale và Kasaï. Ba vị chỉ huy quan trọng nhất của ông là Thiếu tá L. Loso (phụ trách cảnh sát quân sự), Thiếu tá Joseph Opepe và Đại tá Camille Yangara. Để củng cố quân đội, Lundula tăng cường tuyển mộ thanh niên thất nghiệp ở Stanleyville và các thành viên trẻ tuổi của Mouvement National Congolais.[9]
Cộng hòa Tự do Congo tiếp tục mạnh lên trong suốt mùa đông.[20] Vào ngày 24 tháng 12, quân đội Stanleyville chiếm đóng Bukavu và bắt giữ chỉ huy quân đội địa phương. Chủ tịch tỉnh Kivu là Jean Miruho đã cố gắng can thiệp vào ngày hôm sau, nhưng ông cũng bị quân lính của Gizenga bắt giữ và đưa đến Stanleyville cùng với chỉ huy quân đội Bukavu. Một số đại biểu tỉnh cũng bị đưa đến Stanleyville. Vào lúc bình minh ngày 1 tháng 1 năm 1961, quân đội chính quyền trung ương được quân Bỉ cố vấn tiến vào Bukavu từ Ruanda và chiếm đóng trại quân Saio. Sau đó, lực lượng Stanleyville can thiệp, bắt giữ 40 binh sĩ và đẩy đoàn quân viễn chinh trở lại Ruanda. Cả hai bên tiếp tục đấu súng qua biên giới trong suốt buổi chiều.[21] Ngày hôm sau, Anicet Kashamura đến để tiếp quản chính quyền tỉnh Kivu. Tình hình ở miền nam Kivu trở nên hỗn loạn trong những tháng tiếp theo; người châu Âu bị cướp bóc, đánh đập và quấy rối, nhiều người chọn cách chạy trốn khỏi khu vực, trong khi hơn 200 người Congo bị giết. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc không thể ngăn chặn bạo lực.[21]

Đến ngày 10 tháng 1, lực lượng Stanleyville đã chiếm đóng miền bắc Katanga đến tận Manono mà không gặp phải sự kháng cự nào. Gizenga cũng kiểm soát huyện Sankuru thuộc tỉnh Kasai. Vào khoảng thời gian đó, Stanleyville củng cố quyền kiểm soát ở Goma và vùng Bắc Kivu. Tất cả tù chính trị ở địa phương đều được trả tự do. Nỗi lo sợ về một cuộc xâm lược khác do Bỉ hậu thuẫn từ Ruanda đã dẫn đến một cuộc đấu súng vào ngày 12 tháng 1 trên biên giới giữa Goma và Gisenyi.[22] Chính phủ đối lập đạt đến phạm vi lãnh thổ lớn nhất vào ngày 24 tháng 2 khi một số lực lượng của họ nhận được sự ủng hộ của quân đồn trú Luluabourg trong thời gian ngắn.[6]
Cũng trong tháng 2, bảy người ủng hộ Lumumba bao gồm cả Chủ tịch tỉnh Orientale Jean-Pierre Finant, bị một "tòa án truyền thống" của các tù trưởng Baluba gần Bakwanga xét xử và hành quyết vì phạm "tội ác chống lại dân tộc Baluba". Để trả đũa, chính quyền Cộng hòa Tự do Congo bắn chết 15 tù nhân chính trị tại Stanleyville, bao gồm Gilbert Pongo, một trong những sĩ quan quân đội đã bắt giữ Lumumba, và Bộ trưởng Truyền thông của Lumumba là Alphonse Songolo.[8][20] Songolo không còn ủng hộ Lumumba từ giữa tháng 10 và cùng một số đồng nghiệp đến Stanleyville để cố gắng kêu gọi người dân chống lại Lumumba cho đến khi bị bắt. Chính quyền trung ương tỏ ra bất thành trong việc đảm bảo việc trả tự do cho ông.[23]
Vào ngày 17 tháng 1 năm 1961, trật tự ở Thysville bị lung lay và chính quyền trung ương đưa Lumumba đến Élisabethville, thủ phủ của Katanga. Tại đây, ông bị các đối thủ chính trị và lãnh đạo nhà nước ly khai Moïse Tshombe và Godefroid Munongo tra tấn dã man.[24] Đêm đó, ông bị một đội xử bắn Bỉ-Katanga xử tử.[25] Khi tin tức về cái chết của Lumumba nổ ra vào tháng 2, 3.000–4.000 binh lính giận dữ đã tập trung tại khu phố châu Âu của Stanleyville để trả thù vào cư dân địa phương. Tướng Lundula đàm phán với họ suốt đêm và cuối cùng thuyết phục họ rời khỏi thành phố trong hòa bình.[9] Vào ngày 15 tháng 2, chính quyền Stanleyville thả tất cả những người nước ngoài bị giam giữ.[26] Tuy nhiên, cái chết của Lumumba khiến thiện cảm của người dân đối với Katanga và chính quyền trung ương xuống mức thấp nhất. Với hy vọng xoa dịu tình hình, chính quyền trung ương đã mở các cuộc đàm phán nghiêm túc với chính quyền Gizenga.[13] Vào tháng 3, Cléophas Kamitatu được phái từ Léopoldville đến Stanleyville để đàm phán. Lệnh phong tỏa Cộng hòa Tự do Congo được dỡ bỏ vào tháng sau.[27]
Một số nỗ lực đã được thực hiện vào tháng 6 để đưa chính phủ Gizenga vào Phong trào Không liên kết, mặc dù các đề xuất đã bị các quốc gia thành viên khác phủ quyết.[28] Vào tháng 7, phái đoàn ngoại giao Liên Xô đã đến Stanleyville, tiếp đó là phái đoàn Trung Quốc vào cuối tháng.[29]
Giải thể trên danh nghĩa

Đại biểu của cả hai chính phủ đã gặp nhau tại phái bộ Liên Hợp Quốc ở Léopoldville để đàm phán vào ngày 13 tháng 6. Đại diện chính phủ trung ương là Cyrille Adoula, Jean Bolikango và Marcel Lihau, trong khi đại diện chính phủ Stanleyville là Jacques Massena, Etienne Kihuyu và S. P. Mapago.[30] Các cuộc họp được tổ chức trong ba ngày tiếp theo và vào ngày 19 tháng 6. Kết thúc cuộc họp cuối cùng, các đại biểu ký một thỏa thuận quy định việc tổ chức một hội nghị do Liên Hợp Quốc giám sát tại Đại học Lovanium để thảo luận về tương lai chính trị của Congo.[31]
Vào tháng 7, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc phong tỏa Lovanium và chuẩn bị cho việc triệu tập lại Quốc hội. Gbenye, Kashamura và 58 đại biểu khác từ Orientale và Kivu đã tham dự, nhưng Gizenga chọn ở lại Stanleyville.[32] Những người theo chủ nghĩa dân tộc nắm giữ một lợi thế nhỏ, và vào ngày 2 tháng 8, một chính phủ liên minh mới đã tuyên thệ nhậm chức với Adoula làm Thủ tướng và Gizenga làm Phó Thủ tướng thứ nhất. Gbenye trở về Stanleyville để thuyết phục Gizenga đến thủ đô và đảm nhận chức vụ của mình. Vào ngày 6 tháng 8, ông tuyên bố công nhận Chính phủ Adoula hợp pháp nhưng không đưa ra tuyên bố nào về việc liệu ông có đến Léopoldville hay không.[33] Việc hàn gắn quan hệ được chính thức kỷ niệm vào ngày 15 tháng 8 khi Adoula bay đến Stanleyville và đặt vòng hoa lên tượng đài dành riêng cho Lumumba.[27] Các đại biểu cấp tỉnh từ vùng Sankuru tiếp tục công việc của họ tại Hội đồng Tỉnh Kasai.[34]
Sau khi Gizenga được đưa trở lại chính quyền trung ương, Liên Xô nhanh chóng khôi phục phái bộ ngoại giao đến Léopoldville, khuyến khích Adoula tiếp nối di sản của Lumumba và chấm dứt sự ly khai của người Katanga. Tuy nhiên, Trung Quốc triệu hồi phái bộ ngoại giao của mình về Bắc Kinh và tuyên bố rằng chính phủ Gizenga "không còn tồn tại".[29] Cộng hòa Ả Rập Thống nhất (UAR) vẫn giữ đại sứ của mình tại Stanleyville và tuyên bố sẽ tuân theo chỉ đạo của chính phủ Stanleyville. Sau khi được thông báo về kế hoạch sáp nhập Stanleyville vào chính quyền trung ương, UAR tuyên bố sẽ chuyển đại sứ quán trở lại thủ đô vào tháng 1 năm 1962.[35]
Giải thể trên thực tế
Gizenga trở về Stanleyville vào tháng 9 năm 1961 để tập hợp lực lượng vũ trang nhằm chiếm lại miền bắc Katanga. Cuộc tấn công thất bại, nhưng Gizenga từ chối trở về Léopoldville.[36] Không thực hiện bất kỳ nhiệm vụ chính thức nào được giao, ông thành lập một lực lượng dân quân gồm 300 người và bắt đầu quản lý tỉnh Orientale độc lập với chính quyền trung ương.[37] Vào ngày 19 tháng 10, ông sắp xếp việc loại bỏ Chủ tịch Tỉnh Jean Manzikala và thay thế bằng Simon Losala, một trong những người ủng hộ mình. Các quản trị viên ủng hộ Gizenga đã được bổ nhiệm vào các huyện Maniema và Sankuru, trong khi các đơn vị quân đội đóng tại Orientale và Kivu dường như do ông kiểm soát.[38] Lực lượng hiến binh tỉnh Orientale cũng từ chối nằm dưới sự kiểm soát của quân đội chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh, tuyên thệ trung thành tuyệt đối với Gizenga.[39] Đến tháng 11, Gizenga một lần nữa đặt ra mối đe dọa chính trị và quân sự đáng kể đối với chính quyền Léopoldville.[38] Hành động này đã chia rẽ sâu sắc những người theo chủ nghĩa dân tộc trong Quốc hội, vì một số người cảm thấy rằng nên tham gia cùng ông và tái lập chế độ Stanleyville, trong khi những người khác cảm thấy tốt nhất là ở lại thủ đô và thúc đẩy các chính sách mà họ ưa thích thông qua chính phủ.[40]
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Gizenga không còn tuyên bố một chính phủ kế nhiệm hợp pháp và dường như đang lên kế hoạch cho một cuộc nổi loạn hoàn toàn. Nhưng những thất bại quân sự và sự suy thoái chính trị ở Orientale đã làm Lundula nản lòng;[41] vào ngày 11 tháng 11, ông rời Orientale đến Léopoldville.[42] Cùng ngày, danh tiếng của Gizenga càng bị tổn hại khi quân đội Stanleyville sát hại 13 phi công Liên Hợp Quốc người Ý trong vụ việc được gọi là tội ác Kindu.[38] Vào ngày 13 tháng 11, Lundula tuyên thệ trung thành với chính phủ Adoula, tuyên bố hành động của Gizenga là bất hợp pháp.[42] Vào tháng 12, chính quyền trung ương đạt được thỏa thuận ngừng bắn tạm thời với Katanga và tập trung vào nỗ lực loại bỏ mối đe dọa do Gizenga gây ra.[43]

Vào ngày 23 tháng 12, 25 thành viên Hạ viện đưa ra một động thái kêu gọi chính quyền trung ương triệu hồi Gizenga về thủ đô, giải tán lực lượng hiến binh của ông và bổ nhiệm một ủy viên đặc biệt để nắm quyền kiểm soát chính quyền Orientale.[43] Vào ngày 8 tháng 1 năm 1962, Hạ viện thông qua một nghị quyết yêu cầu triệu hồi Gizenga về Léopoldville trong vòng 48 giờ, giải tán lực lượng dân quân của ông và bổ nhiệm một ủy ban đặc biệt để tái lập chính quyền trung ương ở Orientale. Hai ngày sau, Gizenga đáp trả rằng ông sẽ không làm gì trừ khi cuộc ly khai Katanga được giải quyết. Adoula ra lệnh cho tướng Lundula bắt giữ Gizenga và giải tán tàn dư chính quyền của ông.[37] Gizenga trả đũa bằng cách ra lệnh cho lực lượng hiến binh tỉnh giam giữ Lundula và các quan chức Liên Hợp Quốc tại Stanleyville, do những người này đã điều tra tội ác Kindu. Các sĩ quan hiến binh từ chối thi hành lệnh, có lẽ là vì Liên Hợp Quốc đã cảnh báo lực lượng đồn trú địa phương về tình hình này. Vào ngày 12 tháng 1, Hạ viện đưa ra một động thái nhằm tước bỏ chức vụ bộ trưởng của Gizenga. Ngày hôm sau, chủ tịch tỉnh Orientale cam kết ủng hộ chính quyền trung ương và bày tỏ mong muốn Gizenga rời khỏi Stanleyville.[39] Các cuộc đụng độ giữa hiến binh và quân đội chính quyền trung ương đã xảy ra trên khắp thành phố khiến một số người thiệt mạng.[36][44] Với sự hậu thuẫn từ Adoula, Lundula yêu cầu Liên Hợp Quốc hỗ trợ loại bỏ lực lượng hiến binh.[39] Tổng thư ký Liên Hợp Quốc U Thant lệnh cho quân gìn giữ hòa bình khôi phục trật tự trong khi binh lính của Lundula bao vây dinh thự của Gizenga. Dân quân của Gizenga dần đầu hàng và ông bị quản thúc tại gia.[44] Từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 1, một trung đội gìn giữ hòa bình hỗ trợ quân đội của Lundula giải giáp lực lượng hiến binh tỉnh.[45] Vào ngày 15 tháng 1, Quốc hội chính thức khiển trách và tước chức phó thủ tướng của Gizenga.[46]
Hậu quả Cộng hòa Tự do Congo
Việc bắt giữ Gizenga làm sâu sắc thêm sự chia rẽ trong Quốc hội.[47] Theo yêu cầu của cá nhân Gizenga, quân đội Liên Hợp Quốc đã đảm nhận nhiệm vụ canh gác ông. Vào ngày 20 tháng 1 năm 1962, theo chỉ thị của tướng Lundula và chính quyền tỉnh, Liên Hợp Quốc đưa Gizenga bằng máy bay đến Léopoldville.[37][46] Hai ngày sau, ông yêu cầu Liên Hợp Quốc dỡ bỏ lệnh canh gác, nhưng lệnh này nhanh chóng được thay thế bằng "sự bảo vệ" của chính quyền trung ương. Vào ngày 25 tháng 1, ông bị giam giữ tại Trại Kokolo. Theo yêu cầu của Gizenga, Thant yêu cầu Adoula tôn trọng các quyền hợp pháp của lãnh đạo đối thủ.[37] Vào tháng 2, Adoula đảm bảo với các thành viên cánh tả trong chính phủ rằng Gizenga sẽ không bị hành quyết.[48] Cuối cùng, ông bị giam giữ trên đảo Bula Mbemba ở cửa sông Congo cho đến khi được trả tự do vào năm 1964.[49]
Vào tháng 5, một ủy ban của Hạ viện kết luận Gizenga phạm tội kích động binh biến, ngược đãi tù nhân và tìm kiếm viện trợ nước ngoài (từ Tổng thống Ai Cập Nasser) để phát động một cuộc nổi loạn. Ông chính thức bị luận tội và tước bỏ quyền miễn trừ quốc hội.[48] Vào tháng 8, chính quyền chia Orientale thành ba tỉnh, qua đó làm suy yếu vị thế chính trị của vùng này. Kể từ tháng sau, chính quyền trung ương trực tiếp quản lý Stanleyville.[50]
Tham khảo Cộng hòa Tự do Congo
- ↑ Young 1965, tr. 325–329
- 1 2 Young 1965, tr. 330
- ↑ Kisangani & Bobb 2009, tr. 202
- ↑ de Witte 2002, tr. 52.
- ↑ Kisangani & Bobb 2009, tr. 325
- 1 2 3 Villafana 2011, tr. 53
- ↑ James 1996, tr. 113
- 1 2 3 Othen 2015, Chapter 9: The Rhodesian Connection
- 1 2 3 Willame 1972, tr. 71
- ↑ de Witte 2002, tr. 93.
- ↑ "Gizenga Delegate Here". The Harvard Crimson. ngày 16 tháng 2 năm 1961.
- ↑ James 1996, tr. xix
- 1 2 Young 1965, tr. 332
- ↑ Gondola 2002, tr. 127
- ↑ Hoskyns 1965, tr. 292.
- ↑ Young 1965, tr. 335
- ↑ Young 1965, tr. 368.
- ↑ de Witte 2002, tr. 154.
- ↑ Fedorowich & Thomas 2013, tr. 159
- 1 2 Young 1965, tr. 331
- 1 2 Nelson 1992, tr. 104
- ↑ Nelson 1992, tr. 105
- ↑ Kalb 1982, tr. 161
- ↑ Gondola 2002, tr. 126–127.
- ↑ de Witte 2002, tr. 120.
- ↑ de Witte 2002, tr. 152.
- 1 2 LaFontaine 1986, tr. 16
- ↑ Oron 1961, tr. 60
- 1 2 Brzezinski 1963, tr. 181
- ↑ Africa 1980, tr. 421
- ↑ Cordier & Foote 2013, tr. 501
- ↑ Hoskyns 1965, tr. 374.
- ↑ Hoskyns 1965, tr. 375–377.
- ↑ Turner 1973, tr. 311.
- ↑ Oron 1961, tr. 641
- 1 2 Mockaitis 1999, tr. 34
- 1 2 3 4 Luard 2016, tr. 290
- 1 2 3 Young 1965, tr. 339
- 1 2 3 Burns 1963, tr. 155
- ↑ Hoskyns 1965, tr. 460.
- ↑ Willame 1972, tr. 72
- 1 2 Hoskyns 1965, tr. 440.
- 1 2 Hoskyns 1965, tr. 458.
- 1 2 O'Ballance 1999, tr. 64
- ↑ Burns 1963, tr. 156, 158
- 1 2 Burns 1963, tr. 159
- ↑ Hoskyns 1965, tr. 461.
- 1 2 O'Ballance 1999, tr. 65
- ↑ Akyeampong & Gates 2012, tr. 468
- ↑ Young 1965, tr. 340
Thư mục Cộng hòa Tự do Congo
- Akyeampong, Emmanuel Kwaku; Gates, Henry Louis (2012). Dictionary of African Biography [Từ điển tiểu sử châu Phi]. Quyển 6. OUP USA. ISBN 978-0-19-538207-5.
- Brzezinski, Zbigniew K., biên tập (1963). Africa and the Communist World [Châu Phi và thế giới cộng sản] . Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-0179-2.
- Burns, Arthur Lee (1963). Peace-Keeping by U. N. Forces, from Suez to the Congo [Sự gìn giữ hòa bình bởi các lực lượng LHQ, từ Suez đến Congo]. New York: Praeger.
- Cordier, Andrew W.; Foote, Wilder (2013). Public Papers of the Secretaries General of the United Nations [Các văn bản công khai của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc]. Quyển 5. Columbia University Press. ISBN 978-0-231-51379-1.
- Fedorowich, Kent; Thomas, Martin (2013). International Diplomacy and Colonial Retreat [Ngoại giao quốc tế và sự rút lui của thực dân]. Routledge. ISBN 978-1-135-26866-4.
- LaFontaine, J.S. (1986). City Politics: A Study of Léopoldville 1962–63 [Chính trị thành phố: Nghiên cứu về Léopoldville 1962–63]. American Studies. Cambridge University Press Archive.
- Gondola, Ch. Didier (2002). The History of Congo [Lịch sử Congo]. Greenwood histories of the modern nations . Greenwood Publishing Group. ISBN 978-0-313-31696-8. ISSN 1096-2905.
- Hoskyns, Catherine (1965). The Congo Since Independence: January 1960 – December 1961 [Congo từ khi giành độc lập: Tháng 1 năm 1960 – Tháng 12 năm 1961]. London: Oxford University Press. OCLC 414961.
- James, Alan (1996). Britain and the Congo Crisis, 1960–63 [Nước Anh và khủng hoảng Congo, 1960–63] . Springer. tr. xix. ISBN 978-1-349-24528-4.
- Kalb, Madeleine G. (1982). The Congo Cables: the Cold War in Africa — From Eisenhower to Kennedy [Điện tín Congo: Chiến tranh Lạnh ở Châu Phi — Từ Eisenhower đến Kennedy]. Macmillan. ISBN 978-0-02-560620-3.
- Kisangani, Emizet Francois; Bobb, Scott F. (2009). Historical Dictionary of the Democratic Republic of the Congo [Từ điển lịch sử Cộng hòa Dân chủ Congo] . Scarecrow Press. ISBN 978-0-8108-6325-5.
- Luard, Evan (2016). A History of the United Nations [Lịch sử Liên Hợp Quốc]. Quyển 2: The Age of Decolonization, 1955–1965 . Springer. ISBN 978-1-349-20030-6.
- Mockaitis, Thomas R. (1999). Peace Operations and Intrastate Conflict: The Sword Or the Olive Branch? [Các hoạt động hòa bình và xung đột nội bộ: Thanh gươm hay cành ô liu?] . Greenwood Publishing Group. ISBN 978-0-275-96173-2.
- Nelson, Jack E. (1992). Christian Missionizing and Social Transformation: A History of Conflict and Change in Eastern Zaire [Truyền giáo Cơ đốc và chuyển đổi xã hội: Lịch sử xung đột và thay đổi ở Đông Zaire] . Greenwood Publishing Group. ISBN 978-0-275-94246-5.
- O'Ballance, Edgar (1999). The Congo-Zaire Experience, 1960–98 [Trải nghiệm Congo-Zaire, 1960–98]. Basingstoke: Palgrave Macmillan. ISBN 978-0-230-28648-1.
- Oron, Yitzhak, biên tập (1961). Middle East Record: 1961 [Chương trình dịch thuật khoa học của Israel]. Quyển 2. Jerusalem: Israel Program for Scientific Translations.
- Othen, Christopher (2015). Katanga 1960–63: Mercenaries, Spies and the African Nation that Waged War on the World [Katanga 1960–63: Lính đánh thuê, gián điệp và quốc gia châu Phi đã gây chiến với thế giới] . The History Press. ISBN 978-0-7509-6580-4.
- Chatham House (1980). Africa [Sự gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, 1946–1967: Tài liệu và bình luận]. United Nations Peacekeeping, 1946–1967: Documents and Commentary. Quyển 3. New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 9780192183217.
- Turner, Thomas Edwin (1973). A Century of Conflict in Sankuru (Congo-Zaire) [Một thế kỷ xung đột ở Sankuru (Congo-Zaire)]. Madison. OCLC 38789852.
- Villafana, Frank R. (2011). Cold War in the Congo: The Confrontation of Cuban Military Forces, 1960–1967 [Chiến tranh lạnh ở Congo: Cuộc đối đầu của lực lượng quân sự Cuba, 1960–1967]. Transaction Publishers. ISBN 978-1-4128-1522-2.
- Willame, Jean-Claude (1972). Patrimonialism and Political Change in the Congo [Chủ nghĩa gia trưởng và biến động chính trị ở Congo]. Stanford University Press. ISBN 978-0-8047-0793-0.
- de Witte, Ludo (2002). The Assassination of Lumumba [Vụ ám sát Lumumba] . Verso. ISBN 978-1-85984-410-6.
- Young, Crawford (1965). Politics in the Congo: Decolonization and Independence [Chính trị ở Congo: Phi thực dân hóa và độc lập]. Princeton: Princeton University Press. OCLC 307971.
- Khủng hoảng Congo
- Khởi đầu năm 1960 ở châu Phi
- Chấm dứt năm 1962 ở châu Phi
- Quốc gia và lãnh thổ thành lập năm 1960
- Quốc gia và lãnh thổ chấm dứt năm 1962
- Chính phủ đối lập
- Lịch sử Cộng hòa Dân chủ Congo