Cố Huy
Cố Huy | |
|---|---|
Chức vụ | |
Tư lệnh Quân khu Nam Kinh | |
| Nhiệm kỳ | Tháng 4 năm 1990 – Tháng 1 năm 1996 |
| Tiền nhiệm | Hướng Thủ Chí |
| Kế nhiệm | Trần Bỉnh Đức |
Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Tháng 10 năm 1930 Cái Châu, tỉnh Liêu Ninh |
| Mất | 10 tháng 9, 2013 (82 tuổi) Nam Kinh, tỉnh Giang Tô |
| Đảng chính trị | Đảng Cộng sản Trung Quốc |
Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Phục vụ | |
| Năm tại ngũ | 1947-1996 |
| Cấp bậc | |
Cố Huy (sinh tháng 10 năm 1930 – 10 tháng 9 năm 2013, tên khai sinh là Cố Kiến Nghiệp), là Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và từng giữ chức Tư lệnh Quân khu Nam Kinh (1990-1996).
Tiểu sử
Cố Huy sinh tháng 10 năm 1930, người Cái Châu, tỉnh Liêu Ninh.[1]
Tháng 8 năm 1947, Cố Huy tham gia quân đội.[1] Khi mới nhập ngũ, ông lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ như chiến sĩ, nhân viên thông tin rồi nhân viên văn thư tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 5, Sư đoàn độc lập số 2 thuộc Quân khu Liêu Ninh. Sau đó, ông được phân công đảm nhiệm vai trò nhân viên văn thư tại Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 41, Sư đoàn 14 thuộc Tung đội số 5 của Quân Dã chiến Đông Bắc và nhân viên văn thư tại Đại đội 1, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 374, Sư đoàn 125 thuộc Quân đoàn số 42 của Quân Dã chiến số 4.[1]
Tháng 12 năm 1948, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1949, ông đảm nhiệm vai trò nhân viên văn thư, giáo viên văn hóa và thư ký tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 374, Sư đoàn 125 thuộc Quân đoàn số 42.[1]
Năm 1952, ông được phân công đảm nhiệm vai trò tham mưu rồi phó trưởng ban ban tác chiến và huấn luyện Bộ tư lệnh trung đoàn lục quân. Năm 1956, ông được bổ nhiệm làm phó tham mưu trưởng trung đoàn lục quân kiêm trưởng ban ban tác chiến và huấn luyện.[1]
Giai đoạn từ năm 1958 đến năm 1961, ông theo học tại các khoa dự bị và cơ bản của Học viện Quân sự. Năm 1961, ông được bổ nhiệm giữ chức trưởng phòng phòng tác chiến và huấn luyện Bộ tư lệnh sư đoàn lục quân. Năm 1963, ông được điều giữ chức phó trung đoàn trưởng, tham mưu trưởng trung đoàn lục quân. Năm 1966, ông được bổ nhiệm làm trung đoàn trưởng lục quân. Năm 1969, ông giữ chức phó sư đoàn trưởng, tham mưu trưởng sư đoàn lục quân.[1]
Năm 1975, ông được bổ nhiệm làm phó trưởng phòng phòng huấn luyện của Trường Cán bộ Quân chính rồi phó trưởng phòng phòng huấn luyện của Trường Bộ binh thuộc Quân khu Quảng Châu.[1]
Tháng 10 năm 1976, Cố Huy được lệnh sang Tanzania thực hiện nhiệm vụ viện trợ nước ngoài và giữ chức vụ tổ trưởng tổ số 9, tổ chuyên gia quân sự Trung Quốc tại Cộng hòa Thống nhất Tanzania, một đất nước ở bờ biển phía đông châu Phi.[1][2]
Năm 1978, ông được bổ nhiệm làm sư đoàn trưởng lục quân. Năm 1979, ông giữ chức phó tư lệnh quân đoàn lục quân. Trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 1980, ông theo học tại khoa cao cấp của Học viện Quân sự. Năm 1983, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh quân đoàn lục quân.[1]
Tháng 6 năm 1985, ông được bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quân khu, Phó Tư lệnh Quân khu Tế Nam.[1] Tháng 4 năm 1990, ông được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu, Tư lệnh Quân khu Nam Kinh. Tháng 1 năm 1996, Cố Huy giải ngũ, thôi giữ chức Tư lệnh Quân khu Nam Kinh, thay ông ở chức vụ này là Trung tướng Trần Bỉnh Đức.[1]
Năm 1988, ông được phong quân hàm Trung tướng. Năm 1994, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.[2]
Ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 13 (1987-1992) và Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 14 (1992-1997). Ông còn là Ủy viên Ủy ban Thường vụ Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc khóa 9 (1998-2003).[1]
Cố Huy qua đời lúc 5 giờ 35 phút sáng ngày 10 tháng 9 năm 2013 do bệnh tật tại Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, hưởng thọ 83 tuổi.[1][2]