Công nghiệp Quốc phòng tại Việt Nam

Công nghiệp Quốc phòng tại Việt Nam bao gồm các hoạt động nghiên cứu, phát triển và sản xuất vũ khí – công nghệ quân sự do các cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện, chủ yếu do Bộ Quốc phòng Việt Nam quản lý và sở hữu với mục tiêu tự chủ về trang bị. Trong nhiều năm, Việt Nam vẫn là nước nhập khẩu vũ khí lớn, giai đoạn 2010–2022 nằm trong nhóm 6 quốc gia nhập khẩu vũ khí hàng đầu khu vực châu Á – Thái Bình Dương,[1] trong đó khoảng 81,5% lượng vũ khí nhập khẩu từ 1995–2022 có nguồn gốc Nga.[1]
Những năm gần đây, Việt Nam triển khai chương trình hiện đại hóa ngành công nghiệp quốc phòng đến năm 2030, hướng tới tự lực sản xuất vũ khí hiện đại, giảm phụ thuộc nước ngoài[2] và khai thác tiềm năng lưỡng dụng quân sự – dân sự cũng như xuất khẩu sản phẩm quốc phòng.[2][3] Chính phủ đã tăng đầu tư cho nghiên cứu – phát triển trong nước, tích cực trưng bày vũ khí “Made in Vietnam” tại các triển lãm quốc phòng quốc tế và ban hành chính sách gắn kết ngành công nghiệp quốc phòng với chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo tiền đề cho một nền công nghiệp quốc phòng hiện đại và tự chủ.[2][3]
Lịch sử phát triển
Thời phong kiến


Đại Việt có truyền thống sử dụng hỏa khí từ khá sớm trong khu vực. Vào cuối thế kỉ 14, vua Champa là Chế Bồng Nga khi đang đi thị sát trên sông Luộc đã tử trận do trúng đạn hỏa thương từ quân nhà Trần.[4] Vào thời nhà Hồ, Hồ Nguyên Trừng thành công chế tạo Thần Cơ Sang Pháo, phiên bản đại bác sớm nhất trong lịch sử Việt Nam.[5] Đến thời Lê Sơ, hỏa khí được sử dụng rộng rãi trong toàn quân đội của triều đình. Tại Thái Lan, một khẩu súng ban đầu được cho là có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được phát hiện, nhưng dựa trên chữ khắc trên súng, các nhà nghiên cứu xác nhận đây là vũ khí có xuất xứ từ Đại Việt. Giới sử học nhận định rằng hiện vật này nhiều khả năng là di tích của cuộc viễn chinh do vua Lê Thánh Tông tiến hành trong giai đoạn 1479–1484 vào vương quốc Lanna, khu vực nay thuộc Chiang Mai.[6]
Đến thế kỷ 16, khi người châu Âu đến Đại Việt buôn bán, các chúa Trịnh và Nguyễn đã mua vũ khí phương Tây để trang bị cho quân đội, và từ đó súng hỏa mai bắt đầu được nhập vào Đại Việt. Tomé Pires trong tác phẩm Suma Oriental (1515) ghi chép rằng xứ Đàng Trong có vô số lính bắn súng hỏa mai và đại bác cỡ nhỏ, cùng với việc sử dụng lượng lớn thuốc súng cho cả chiến tranh và các trò giải trí.[7] Thủy binh Đàng Trong khá mạnh, mỗi thuyền có khoảng 30 chèo, có 3 khẩu đại bác ở mũi và 2 khẩu ở đuôi. Trong cuộc chiến với chúa Trịnh, chúa Nguyễn đã tranh thủ mua vũ khí phương Tây và học cách đóng tàu thuyền, đúc súng của họ. Tại Phú Xuân có xưởng đúc súng do người Bồ Đào Nha giúp, được mở năm 1631 và hiện nay vẫn còn di tích ở Huế.[8] Thời điểm này, kỹ thuật chế tạo hỏa khí của Đại Việt được đánh giá là rất tiên tiến, từ súng hỏa mai cỡ nhỏ cho đến đại bác. Đáng chú ý, hỏa khí không chỉ phổ biến trong quân sự mà còn được dân chúng sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày. Súng hỏa mai của Đại Việt không chỉ được dùng trong nước mà còn truyền sang Trung Quốc sau những cuộc xung đột biên giới giữa triều Mạc và các dân tộc thiểu số ở Quảng Tây, Vân Nam.[cần dẫn nguồn]

Súng hỏa mai Giao Chỉ không chỉ được người Trung Quốc đánh giá cao mà còn được các quan sát viên phương Tây đặc biệt khen ngợi về độ chính xác, dựa trên những gì họ chứng kiến trong các cuộc chiến Lê–Mạc và Trịnh–Nguyễn. Triều Minh thậm chí coi súng hỏa mai Đại Việt là “loại súng tốt nhất thế giới”, vượt qua cả súng Ottoman, súng Nhật Bản và súng châu Âu. Loại súng này có thể xuyên qua nhiều lớp giáp sắt và hạ từ 2 đến 5 người chỉ với một phát bắn, đồng thời gần như không gây tiếng nổ lớn khi khai hỏa. Một ghi chép thời Nhà Thanh mang tên Nam Việt bút ký (南越筆記 – Nányuè bǐjì) cũng đã liên hệ súng hỏa mai Việt Nam với súng hỏa mai của Java.[9][10]
Tuy nhiên, về sau do chính sách "Bế quan tỏa cảng", không giao thương với phương Tây của nhà Nguyễn nên kĩ thuật đúc súng của Đại Nam dần trở nên lỗi thời và lạc hậu. Trong thời này, mặc dù những khẩu súng được đúc có mẫu mã đẹp và cỡ nòng lớn như Cửu vị thần công, tuy nhiên chúng lại thua kém các mẫu của Pháp về độ hiệu quả trong chiến đấu. Đặc biệt dưới thời Tự Đức, do tài chính và các chính sách sai lầm của nhà vua mà quân đội nhà Nguyễn suy giảm sức chiến đấu nghiêm trọng.[11]
Trong phong trào Cần Vương, phần lớn nghĩa quân sử dụng súng kíp tự chế và các loại vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, trong khởi nghĩa Hương Khê, Cao Thắng – một lãnh đạo tiêu biểu của phong trào – đã chế tạo thành công bản sao của loại súng trường Fusil Gras mle 1874. Dù vậy, phiên bản do người Việt chế tạo không có nòng xoắn nên tầm bắn bị hạn chế, phản ánh nỗ lực tự lực về vũ khí trong điều kiện kháng chiến khó khăn cuối thế kỷ 19.[12]
Trong khởi nghĩa Bãi Sậy, các thợ trong xưởng nhỏ của nghĩa quân đã cải tiến súng của quân Pháp, hoặc dựa trên mẫu súng Pháp để chế tạo các loại súng phù hợp với chiến thuật cải trang, có thể giấu trên người hoặc trong bó củi. Tài liệu đương thời ghi lại: “Để đạt hiệu quả cao, họ đã tạo ra một loại súng đặc biệt: súng kỵ binh Mút (tức súng Berthier theo cách gọi của người Việt) với báng ngắn, nòng dài; loại súng này có thể giấu trong tay áo, ống quần hoặc trên ngực. Người chỉ huy (ám chỉ Đội Văn) trong thời gian ngắn đầu hàng cũng cho biết còn nhiều mẫu súng khác.”.[13]
Vào đầu những năm 1940, Tỉnh ủy Cao–Bắc–Lạng đã huy động người dân lập các lò rèn để chế tạo dao, giáo, kiếm và súng kíp, đặt nền móng cho một ngành công nghiệp vũ khí tự lực. Tháng 3 năm 1944, xưởng vũ khí Lũng Hoàng được thành lập với chỉ những công cụ thô sơ và phế liệu do dân đóng góp, nhưng nhanh chóng trở thành địa điểm quan trọng để sửa chữa và sản xuất mìn, lựu đạn. Sau những thử nghiệm ban đầu với lựu đạn vỏ thiếc đơn giản và mìn không thành công, xưởng đã sao chép thành công mẫu lựu đạn gang kiểu Mỹ với chữ “V.M.” (viết tắt của Việt Minh) đúc trên vỏ, đồng thời sửa chữa nhiều loại súng khác.[14]
Theo chỉ đạo của Đảng, Xứ ủy Bắc Kỳ đã thành lập xưởng vũ khí Làng Chè ở Tiên Sơn, Bắc Ninh, nơi không chỉ sửa chữa các loại súng bộ binh mà còn sản xuất hàng loạt lựu đạn gang dập có khắc chữ “V.M.” (Việt Minh) để cung cấp cho lực lượng giải phóng, góp phần trực tiếp vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.[15] Những xưởng vũ khí buổi đầu này đã đi tiên phong trong mô hình sản xuất nhỏ, cơ động, dễ di chuyển, mô hình mà đến cuối năm 1947 đã phát triển lên khoảng 200 cơ sở với 20.000 công nhân, cung cấp hàng triệu đơn vị vũ khí – từ lựu đạn, súng cối đến súng không giật – trở thành nền tảng công nghệ và tổ chức của ngành công nghiệp vũ khí thời chiến của Việt Nam, và thậm chí được giới quan sát Pháp thừa nhận về sức mạnh và hiệu quả vượt ngoài dự đoán.[16]
Kháng chiến chống Pháp
Ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại của Việt Nam có nguồn gốc từ Kháng chiến chống Pháp (1946–1954) và Kháng chiến chống Mỹ (1955–1975), khi miền Bắc đã thành lập các xưởng vũ khí thô sơ để bảo đảm trang bị cho chiến trường. Trong giai đoạn này, các kĩ sư Việt Nam đã chế tạo đạn dược cơ bản, thuốc nổ và sửa chữa, tái sử dụng vũ khí thu được của địch, bổ sung cho nguồn viện trợ từ nước ngoài.
Đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp, do thiếu nguồn cung vũ khí từ nước ngoài, phần lớn vũ khí của Việt Minh đến từ chiến lợi phẩm thu được hoặc do các xưởng quân giới trong chiến khu sản xuất. Trọng tâm lúc này là nghiên cứu và chế tạo vũ khí chống tăng dựa trên mẫu bazooka thu của Pháp. Nhiệm vụ này được giao cho nhóm nghiên cứu do kỹ sư Trần Đại Nghĩa (người vừa du học từ Pháp trở về) phụ trách. Từ tháng 11/1946 đến 2/1947, nhóm đã chế tạo thành công vũ khí chống tăng và đưa vào thử nghiệm, sau đó trang bị cho Chiến dịch Việt Bắc. Đồng thời, nhóm cũng chế tạo thành công súng không giật SKZ cỡ 60mm, 81mm và 120mm, được sử dụng rộng rãi trong suốt cuộc kháng chiến.[17][18]
Ngoài ra, Việt Minh còn sản xuất số lượng lớn thuốc nổ, mìn và lựu đạn tại các xưởng quân giới trong vùng giải phóng. Nguyên liệu chính được lấy từ gang đúc của các cơ sở luyện kim Liên khu 4, cùng với thuốc nổ tận dụng từ bom và đạn chưa nổ do quân Pháp bỏ lại. Dù còn thô sơ, những loại vũ khí này đã được sử dụng rộng rãi trong các trận phục kích của lực lượng du kích, gây tổn thất đáng kể cho quân đội Pháp.[19]
Tại các xưởng vũ khí bộ binh khác, quân giới Việt Minh còn chế tạo nhiều loại súng bộ binh cải tiến, nổi bật là súng tiểu liên dựa theo mẫu Sten của Anh, Grease gun của Mỹ, cùng nhiều loại súng ngắn như Enfield No.2. Ngoài ra, đạn dược bộ binh cũng được sản xuất với quy mô nhỏ ngay tại các xưởng này, góp phần bảo đảm nguồn cung vũ khí và đạn cho lực lượng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp.[20]
Kháng chiến chống Mỹ

Trong giai đoạn này, nhiều nhà máy của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Z1, Z2 và X10 – tiền thân của các nhà máy Z111,[21] Z113[22] và Z117[23] hiện nay – đã được thành lập với mục tiêu tự sản xuất vũ khí trong nước. Các cơ sở này được xây dựng với sự hỗ trợ kỹ thuật và hậu cần từ các nước xã hội chủ nghĩa, đánh dấu bước quan trọng đặt nền móng công nghiệp cho khả năng tự chủ quốc phòng lâu dài của Việt Nam. Ban đầu, các nhà máy này sản xuất số lượng hạn chế vũ khí bộ binh nhẹ như SKS,[24][25] AK-47, RPG-2 và súng máy hạng nhẹ TUL-1 [26] tại (nhà máy Z1).Bên cạnh đó, đạn dược bộ binh được sản xuất quy mô lớn tại các cơ sở như Z113 và Z114, góp phần quan trọng bảo đảm hậu cần cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tuy vậy, phần lớn vũ khí hạng nặng – từ súng máy, pháo binh đến máy bay – vẫn do các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ, và nền công nghiệp quốc phòng nội địa thời kỳ này còn hạn chế về quy mô và công nghệ.
Năm 1965, khi Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn khốc liệt, nhu cầu sản xuất vũ khí tăng mạnh cả về số lượng lẫn tốc độ. Ngày 13/7/1965, Trung Quốc ký thỏa thuận hỗ trợ Việt Nam mở rộng nhà máy Z1 và Z2, đồng thời xây dựng thêm 8 cơ sở công nghiệp quốc phòng mới, đặt nền tảng cho các nhà máy Z115, Z121 và Z129 sau này.
Trong khi đó, hoạt động sản xuất vũ khí ở chiến trường miền Nam chủ yếu mang tính thô sơ. Các cơ sở ở đây tập trung chế tạo vũ khí tự tạo như mìn, lựu đạn, và sản xuất hạn chế các loại súng sao chép từ vũ khí thu được như súng ngắn M1911,[27] và súng tiểu liên MAT-49.[28] Một số xưởng còn chuyển đổi vũ khí thu được để dùng với loại đạn do các nước đồng minh viện trợ hoặc cải biến các mẫu súng như M1 Garand cho phù hợp với điều kiện chiến trường.[29] Ngoài ra, nhiều loại súng sao chép và cải tiến khác cũng xuất hiện, gồm tiểu liên Thompson, súng trường MAS-36, M1 Carbine,[30] Arisaka, súng trường Mauser, Tokarev TT,[31] Mauser C96, Luger P08, BAR,[32] SVT-40[33],...
1975 đến 2000

Trong thời kỳ hậu chiến, đặc biệt sau khi đất nước thống nhất năm 1975, quân đội Việt Nam đã chuyển hướng ưu tiên sang nâng cấp vũ khí hiện có và tăng cường tự chủ trong nghiên cứu – sản xuất quốc phòng. Sự chuyển đổi này xuất phát từ nhu cầu chiến lược và hạn chế tiếp cận viện trợ quân sự bên ngoài do biến động quan hệ quốc tế. Trọng tâm là phát triển công nghệ quân sự nội địa và hiện đại hóa trang bị có nguồn gốc Liên Xô vốn đã cũ.
Trong số các thành tựu tiêu biểu thời kỳ này có máy bay trinh sát TL-1 và máy bay huấn luyện HL-1, HL-2.[34] Đây được xem là cột mốc quan trọng khẳng định năng lực kỹ thuật hàng không đang phát triển của Việt Nam. Những máy bay này được thiết kế và chế tạo trong nước, sử dụng khung thân và nhiều hệ thống nội địa, dù động cơ vẫn phải nhập khẩu do giới hạn công nghệ. Việc chế tạo và đưa vào hoạt động thành công các dòng máy bay này đã chứng minh tiềm năng của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong đáp ứng các yêu cầu cơ bản về hàng không quân sự.
Bên cạnh đó, quân đội Việt Nam đã tiến hành bảo dưỡng kỹ thuật và tái trang bị các vũ khí thu được trong chiến tranh, như súng trường M16, xe bọc thép chở quân M113 cùng nhiều loại vũ khí có nguồn gốc Mỹ khác. Do lệnh cấm vận quốc tế lúc bấy giờ, Việt Nam không thể tiếp cận các phụ tùng gốc hay tài liệu kỹ thuật của các hệ thống này. Vì vậy, các kỹ sư và kỹ thuật viên đã phải tự nghiên cứu đảo ngược để chế tạo linh kiện, đồng thời thay thế nhiều bộ phận bằng các chi tiết lấy từ khí tài Liên Xô. Trong một số trường hợp, các cụm lớn như động cơ hoặc hệ thống cơ khí thậm chí được thay thế hoàn toàn bằng linh kiện tương thích của Liên Xô, giúp duy trì và kéo dài tuổi thọ cho toàn bộ trang bị chiến lợi phẩm.
Trong giai đoạn này, Việt Nam cũng đã mua các dây chuyền sản xuất thuốc phóng và thuốc nổ từ Bắc Triều Tiên. Các dây chuyền này được lắp đặt tại các nhà máy Z113 và Z114, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất đạn dược bộ binh. Ngoài ra, thời điểm này cũng có các bước chuẩn bị đầu tiên cho các dự án trong tương lai, bao gồm việc cử cán bộ sang Nga để có thể bồi dưỡng và thực tập về thiết kế tên lửa chống hạm.[35]
2000 tới hiện tại
Kể từ năm 2000, ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, chuyển mình từ phụ thuộc vào vũ khí nhập khẩu sang ngày càng tự chủ thông qua hợp tác quốc tế và đổi mới công nghệ trong nước. Giai đoạn này bao gồm những thành tựu quan trọng, bao gồm: quan hệ hợp tác quốc phòng với các đối tác then chốt như Israel và Nga; các dự án trong nước như tên lửa hành trình VCM-01, máy bay không người lái (UAV), các hệ thống radar tiên tiến; đóng mới tàu hải quân; cũng như hiện đại hóa các cơ sở sản xuất quốc phòng, khẳng định năng lực phát triển và sản xuất vũ khí hiện đại của Việt Nam. Trong giai đoạn này, nhiều nhà máy của quân đội cũng được chuyển đổi theo phương thức lưỡng dụng, vừa sản xuất các sản phẩm dân sự cũng như sản xuất vũ khí quân dụng.
Hợp tác quốc phòng quốc tế
Quá trình hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ hợp tác quốc tế sâu rộng. Thay vì chỉ mua sắm vũ khí thành phẩm, Việt Nam thường theo đuổi các thỏa thuận đồng sản xuất, phát triển chung và chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác. Mỗi quan hệ hợp tác đều hướng tới mục tiêu giúp các nhà máy trong nước từng bước tự sản xuất hoặc lắp ráp trang bị, thể hiện một chiến lược nhất quán “học hỏi thông qua thực hành”, nhằm nâng cao năng lực tự chủ và phát triển công nghiệp quốc phòng trong dài hạn.”[36]
Hợp tác với Israel

Một trong những đối tác quốc phòng quan trọng nhất của Việt Nam trong thế kỷ 21 là Israel. Dù không có quan hệ từ thời Chiến tranh Lạnh, Israel đã nhanh chóng trở thành nhà cung cấp vũ khí lớn thứ hai của Việt Nam sau Nga. Năm 2014, Việt Nam ký thỏa thuận với Israel Weapon Industries (IWI) để sản xuất trong nước súng trường tấn công Galil ACE hiện đại tại Nhà máy Z111. Ngoài ra, Z111 còn tham gia chế tạo nhiều linh kiện vũ khí khác cho IWI, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chuyển giao công nghệ và hợp tác sản xuất quốc phòng giữa hai nước.[37][38]
Bên cạnh đó, Israel và Việt Nam cũng hợp tác trong việc nâng cấp các khí tài có nguồn gốc Liên Xô, đặc biệt là xe tăng T-54/55. Phiên bản nâng cấp T-54M3 được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại, giáp phản ứng nổ và pháo chính 105 mm, giúp tăng đáng kể sức chiến đấu của dòng xe tăng cũ này. Tuy nhiên, dự án đã phải dừng lại do chi phí quá cao, khiến kế hoạch nâng cấp quy mô lớn không thể tiếp tục triển khai.[39] Mặc dù vậy kinh nghiệm nâng cấp T-54M3 cũng là tiền đề để Việt Nam nâng cấp phiên bản T-54BV của riêng mình.
Hợp tác với Nga
Nga vẫn là đối tác quốc phòng truyền thống của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào khả năng hải quân của nước này thông qua chuyển giao công nghệ. Thông qua dự án KCT-15, Nga đã hỗ trợ Việt Nam duy trì và đảm bảo khả năng kỹ thuật của tên lửa Kh-35, tạo nền tảng cho Việt Nam phát triển và sản xuất tên lửa VCM-01 của riêng mình. Ngoài ra, Nga còn hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực xe vận tải quân sự, bằng cách thành lập các nhà máy sản xuất xe quân sự tại Việt Nam, như KamAZ, UAZ, và GAZ. Nga cũng đã chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để sản xuất hệ thống phòng không vác vai Igla .[36][40]
Nga cũng là đối tác quan trọng trong ngành đóng tàu của Việt Nam. Nhiều tàu chiến của Hải quân Việt Nam đã được thiết kế và đóng mới với sự hỗ trợ của Liên bang Nga, bao gồm các tàu hỗ trợ và tàu tên lửa. Việt Nam đã sản xuất thành công sáu tàu hộ vệ tên lửa lớp Molniya dưới sự hướng dẫn của Nga trong khoảng thời gian từ 2014 đến 2016, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc tăng cường năng lực hải quân và phát triển ngành công nghiệp đóng tàu quốc phòng của Việt Nam.[41][42]
Các quốc gia khác
Bên cạnh Nga và Israel, Việt Nam còn hợp tác với Belarus và Hà Lan trong lĩnh vực quốc phòng. Belarus đã hỗ trợ Việt Nam phát triển các hệ thống radar tiên tiến, đặc biệt là radar dòng RV, có khả năng phát hiện máy bay tàng hình, dựa trên nền tảng radar Vostok-E của họ.[43] Việt Nam cũng đã làm việc với Tetraedr nhằm chuyển giao gói nâng cấp tổ hợp tên lửa phòng không S-125 Pechora lên chuẩn Pechora-2TM.[44] Đây là một trong các tiền đề để Viettel nghiên cứu phiên bản nâng cấp S-125-VT.
Ngoài ra, Việt Nam còn hợp tác chuyển giao công nghệ với Dixi Microtechniques, một công ty tư nhân của Pháp chuyên về cơ khí chính xác và cơ điện tử.[45] Sự hợp tác này đã giúp các nhà máy như Z181, Z129 và Z121 hoàn toàn làm chủ quy trình sản xuất ngòi nổ điện tử cho nhiều loại đạn pháo khác nhau. Serbia cũng là một đối tác quan trọng của Việt Nam, các hợp tac tiêu biểu có thể kể đến việc Việt Nam mua công nghệ để sản xuất phiên bản nâng cấp của tên lửa chống tăng AT-3 là CTVN-18 và việc chuyển giao công nghệ rocket Edepro G2000/52, giúp Việt Nam sản xuất tên lửa tầm xa cho hệ thống BM-21.

Hà Lan, mặc dù không phải là nhà cung cấp vũ khí truyền thống cho Việt Nam, nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong hợp tác đóng tàu hải quân. Tập đoàn đóng tàu Damen của Hà Lan đã thành lập một liên doanh với Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy vào năm 2007, và đến năm 2014, Damen đã mở xưởng đóng tàu Sông Cấm tại Hải Phòng – một cơ sở hiện đại, ban đầu có khả năng sản xuất lên đến 40 tàu mỗi năm.[36] Thông qua sự hợp tác này, Damen đã cung cấp cho Hải quân Nhân dân Việt Nam và Cảnh sát biển Việt Nam một số tàu hiện đại. Đến năm 2022, sự hợp tác giữa Việt Nam và Damen đã sản xuất ít nhất một tàu khảo sát hải quân, tám tàu tuần tra ngoài khơi cỡ lớn, và bốn tàu cứu hộ – tất cả đều được đóng tại Việt Nam theo thiết kế của Damen. Trong số đó, có các tàu OPV lớp ĐN-2000 nặng 2.200 tấn, giúp nâng cao khả năng tuần tra đại dương của Cảnh sát biển Việt Nam.[36]
Nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam hiện nay
Một trong những đơn vị nổi bật trong những năm 2000–2010 là Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), đã mở rộng sang sản xuất quốc phòng. Viettel đã đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D), và đến những năm 2020, công ty này đã sản xuất một loạt sản phẩm quốc phòng: hệ thống thông tin mã hóa, UAV giám sát, radar, điện tử hàng hải và thậm chí là các giải pháp an ninh mạng. Mô hình của Viettel, với việc sử dụng lợi nhuận từ kinh doanh viễn thông dân dụng để thúc đẩy R&D quốc phòng, đã thúc đẩy sự đổi mới. Ví dụ, các kỹ sư của Viettel đã thiết kế phần cứng và phần mềm cho bộ đàm tác chiến mã hóa đầu tiên của Việt Nam và hiện đang xuất khẩu một số thiết bị này sang các quốc gia trong khu vực.
Sự hiện đại hóa của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng diễn ra về mặt tổ chức. Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng quản lý nhiều nhà máy (như Z111, Z113, v.v.), nhiều trong số này đã được nâng cấp với cơ sở hạ tầng mới kể từ năm 2000. Mục tiêu không chỉ là đáp ứng nhu cầu của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà còn có thể xuất khẩu trong tương lai. Thực tế, Việt Nam gần đây đã trưng bày vũ khí của mình tại các triển lãm quốc phòng quốc tế, cho thấy sự tự tin ngày càng tăng vào vũ khí "Made in Vietnam". Từ súng bộ binh đến tên lửa, giai đoạn từ năm 2000 đến nay đã có những thay đổi đáng kể: Việt Nam hiện có khả năng sản xuất một dải rộng các thiết bị quân sự ngay tại nước nhà, một sự thay đổi lớn so với hai thập kỷ trước. Thành tựu này đạt được nhờ sự kết hợp khéo léo giữa công nghệ nhập khẩu và động lực sáng tạo nội địa, giúp ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam trở thành một nhà sản xuất nổi lên tại Đông Nam Á.
Vũ khí bộ binh và trang bị cá nhân


Hiện đại hóa vũ khí bộ binh và các nhà máy sản xuất vũ khí trong nước là một trụ cột quan trọng trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Dự án tiêu biểu là nâng cấp Nhà máy Z111 (Công ty Cơ khí 11) thành cơ sở sản xuất vũ khí bộ binh đẳng cấp quốc tế. Nhà máy đã được đầu tư dây chuyền CNC và thiết bị gia công chính xác hiện đại, cho phép chế tạo các loại súng bộ binh chất lượng cao. Từ nền tảng này, Z111 đã tự phát triển dòng súng trường STV – thiết kế nội địa chịu ảnh hưởng từ Galil/AK.[46] Ngoài STV, Z111 còn sản xuất nhiều loại vũ khí bộ binh khác như súng ngắn SN19, súng tiểu liên, súng bắn tỉa chính xác, súng máy hạng nhẹ và hạng nặng.[47] Các nhà máy trực thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng có năng lực chế tạo vũ khí hạng nặng như vũ khí chống tăng, súng cối cỡ lớn và súng phóng lựu.[48] Nhờ đó, Việt Nam hiện có đầy đủ khả năng sản xuất toàn bộ các loại vũ khí bộ binh để trang bị cho đơn vị cấp sư đoàn, từ súng trường tấn công, súng máy, súng bắn tỉa, vũ khí chống tăng đến đạn dược, mìn, lựu đạn và khí tài hỗ trợ. Đây là năng lực nổi bật trong khu vực Đông Nam Á, thể hiện mức độ tự chủ ngày càng cao và công nghệ quốc phòng tiên tiến của Việt Nam.
Về trang bị cá nhân, Việt Nam từ lâu đã là một trong những nước sản xuất quân phục lớn trên thế giới nhờ ngành dệt may phát triển mạnh. Các trang bị chiến thuật như áo giáp chống đạn, ba lô, giày – ủng quân sự cũng được các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (VDI) sản xuất, trong đó có cả gia công cho các thương hiệu quốc tế nổi tiếng. Cụ thể, Nhà máy Z176 có khả năng sản xuất trọn bộ trang bị cho từng chiến sĩ kể cả áo giáp,[49][50] Nhà máy X61 cung cấp mặt nạ phòng độc MV5 cho quân đội,[51] Nhà máy Z117 sản xuất tấm giáp chống đạn,[52] và Viettel đảm nhiệm cung cấp hệ thống vô tuyến cá nhân.[53][54][55]
Đạn dược
Việt Nam đã đạt được tự chủ toàn diện trong sản xuất đạn dược cho lực lượng vũ trang, bao gồm từ đạn súng bộ binh đến nhiều cỡ đạn pháo khác nhau.[56] Các nhà máy quốc phòng của nhà nước như Z113 và Z114 được trang bị hạ tầng hiện đại và đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề, cho phép sản xuất thuốc phóng và thuốc nổ phục vụ cả quân sự lẫn dân sự.[57] Những cơ sở này cũng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất linh kiện cho tên lửa và các loại vũ khí công nghệ cao.[58][59][60] Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp dân sự trong nước cũng có khả năng sản xuất vỏ đạn cối theo hợp đồng với Bộ Quốc phòng, sau đó được chuyển tới các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (VDI) để nhồi thuốc nổ.
Bên cạnh đạn dược thông thường, Việt Nam còn phát triển đạn tầm xa cho pháo phản lực (MLRS), nhiều loại đạn tên lửa, cũng như lựu đạn và đạn cho súng phóng lựu chống tăng. Một dấu mốc quan trọng khác là việc tự sản xuất các loại ngòi nổ hiện đại, bao gồm ngòi cơ khí, điện tử và ngòi cận đích cho đạn pháo, tên lửa và bom hàng không.[61][62]
Những năm gần đây, Việt Nam không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn tích cực xuất khẩu sản phẩm quốc phòng ra thị trường quốc tế, bao gồm châu Âu, Hoa Kỳ,[63] và khu vực Đông Nam Á.[64]
Phương tiện mặt đất


Trong những năm gần đây, Việt Nam đã hợp tác với các hãng sản xuất xe quân sự như KamAZ,[65][66] UAZ, GAZ, và MAZ để sản xuất xe quân sự trong nước với tỷ lệ nội địa hóa cao, phục vụ cả quân sự lẫn dân sự. Nhiều loại xe trong số này còn được sử dụng làm khung gầm cho các khí tài hạng nặng khác của Quân đội như radar hay các hệ thống tên lửa hành trình chống hạm.
Việt Nam cũng đang nghiên cứu và chế tạo xe bọc thép dựa trên các mẫu đã được biên chế, trong đó hai dự án tiêu biểu là XCB-01,[67][68] (đã sản xuất thử nghiệm) và XTC-02.[69] Cả hai được sản xuất hoàn toàn trong nước, ngoại trừ động cơ nhập khẩu từ các nguồn sẵn có. Đây đựuoc dự báo sẽ là các trụ cột trong tương lai của các sư đoàn bộ binh cơ giới của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, các dự án khác để nghiên cứu và chế tạo các loại xe thiết giáp chở quân 8×8 như XTC-03[70] và xe tăng bơi T-1 cũng được Bộ Quốc phòng Việt Nam và các nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng nghiên cứu và chế tạo.[71]
Song song với đó, Việt Nam đã thành công trong các dự án nghiên cứu – nâng cấp và hiện đại hóa xe tăng, xe bọc thép đang phục vụ. Dự án nâng cấp T-54M đưa các xe T-54/55 lên chuẩn hiện đại, kế thừa kinh nghiệm từ chương trình T-55M3 hợp tác với Israel.[39] Ngoài ra, Việt Nam cũng nâng cấp nhiều dòng xe bọc thép cũ như M113, V100[72] và BTR-60, nhằm kéo dài tuổi thọ và tăng cường tính năng chiến đấu để đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại.
Tên lửa và pháo binh

Một trong những thành tựu nổi bật trong lĩnh vực quốc phòng nội địa của Việt Nam là công nghệ tên lửa. Dựa trên sự hỗ trợ của Nga, Việt Nam đã tiếp nhận tên lửa chống hạm Kh-35 Uran-E vào những năm 2000 và sau đó làm chủ công tác bảo dưỡng trong khuôn khổ dự án KCT-15.[73] Nền tảng này đã giúp Việt Nam phát triển VCM-01, một loại tên lửa chống hạm hạ âm sản xuất trong nước được Viện Hàng không Vũ trụ Viettel công bố vào năm 2019. Mặc dù có thiết kế tương đồng với Kh-35UE của Nga, VCM-01 sở hữu tầm bắn dài hơn và hệ thống điện tử hiện đại. Viettel đã hợp tác với các đơn vị trong nước khác, như Xưởng tàu Z189, để sản xuất giá phóng và các bộ phận liên quan. Đến năm 2024, một loại tên lửa phòng thủ ven biển mới – được cho là có tên Sông Hồng – đã được công bố.[74] Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã sản xuất nội địa hệ thống tên lửa phòng không vác vai Igla theo công nghệ chuyển giao từ Nga, với tỷ lệ nội địa hóa trên 90%, với tên gọi TL-01.[40][75][76][77][78]
Một điểm nổi bật khác là hiện đại hóa các hệ thống tên lửa phòng không như S-125, được Viettel nâng cấp lên tiêu chuẩn S-125VT. Gói nâng cấp này bao gồm khả năng tương thích với radar giám sát hiện đại hơn, tăng cường khả năng chống nhiễu, và cơ giới hóa các thành phần như radar điều khiển bắn SNR-125 và xe nạp lại tên lửa. Một mẫu tên lửa mới cũng đã được phát triển và nâng cấp, mang tên TLDK-35.[79][80]
Ngoài tên lửa, các cơ sở nghiên cứu và phát triển của Việt Nam cũng đã tập trung vào pháo binh hạng nặng. Viện Kỹ thuật được cho là đã phát triển pháo tự hành 130mm[81] và pháo tự hành 122mm trong những năm gần đây, đồng thời các nhà máy của Việt Nam đã hiện đại hóa các loại pháo rocket cũ, bao gồm việc mở rộng tầm bắn của đạn rocket 122mm BM-21 Grad. Việt Nam cũng đã xác nhận khả năng tự sản xuất tất cả các thành phần của pháo binh, bao gồm cả nòng pháo,[82] điều này có nghĩa là Quân đội Nhân dân Việt Nam có đầy đủ khả năng để sản xuất pháo tự hành của riêng mình. Trên thực tế, Việt Nam đã xây dựng đề án nghiên cứu, và kết quả đạt được là các mẫu pháo cỡ nòng 122 mm, 152 mm,[83] cũng như pháo xe tăng 125 mm,[84] nhằm phục vụ cho việc phát triển các pháo tự hành dựa trên mẫu 2S1[85] và cả xe tăng lội nước trong tương lai.[71]
Đóng tàu quân sự

Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong ngành đóng tàu hải quân bằng cách kết hợp các thiết kế nước ngoài có giấy phép với phát triển nội địa. Ngày nay, Việt Nam có khả năng đóng nhiều loại tàu khác nhau, từ tàu hậu cần,[86] tàu đổ bộ hạng nhẹ[87] đến hạng nặng,[88][89][90] tàu cứu hộ tàu ngầm[91] và các loại tàu tuần tra. Một ví dụ điển hình là tàu tấn công nhanh lớp Molniya, được nhập khẩu từ Nga vào năm 2007 và sau đó được sản xuất trong nước tại Tổng công ty Ba Son sau khi chuyển giao công nghệ. Đến năm 2016, Việt Nam đã đóng được sáu tàu lớp Molniya, mỗi chiếc trang bị tên lửa Kh-35, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong công tác hiện đại hóa hải quân.[41][42]
Song song với việc phát triển các thiết kế trong nước, Việt Nam cũng đã phát triển các thiết kế riêng của mình, như tàu tuần tra TT-400TP và các tàu tuần tra biển lớn được đóng tại các xưởng đóng tàu như Z189 và Hồng Hà. Z189 cũng đã sản xuất tàu cứu hộ tàu ngầm đầu tiên của Việt Nam vào năm 2018 và một chiếc khác dự kiến vào năm 2025.[92] Những dự án này giúp các kỹ sư trong nước làm chủ được các kỹ năng đóng tàu phức tạp, bao gồm xây dựng thân tàu, hệ thống động lực, và tích hợp vũ khí. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã hoàn thiện ít nhất một nguyên mẫu tàu tên lửa BPS-500 vào khoảng năm 2001.[93] Mặc dù thiết kế BPS-500 không được sản xuất hàng loạt do một số khiếm khuyết, nhưng nó đã cung cấp những bài học quý giá cho các dự án sau này. Một dự án đáng chú ý khác là tàu ngầm TN-75, tàu ngầm mini dựa trên tàu ngầm Yugo của Triều Tiên. Được trang bị ngư lôi nhẹ và điện tử hiện đại, nhiệm vụ của tàu là đổ bộ người nhái và thực hiện các nhiệm vụ phá hoại. Một sự phát triển đáng chú ý khác là Việt Nam đã tạo ra một mẫu USV (phương tiện mặt nước không người lái) mới của riêng mình, được trang bị hệ thống tìm kiếm mục tiêu, có khả năng cung cấp hướng dẫn chính xác trong trường hợp mất tín hiệu, và được trang bị ăng-ten vệ tinh để điều khiển tầm xa.[94][95]
Các cơ sở hiện đại như xưởng đóng tàu Z189 mở rộng và xưởng đóng tàu Sông Thu hiện nay hỗ trợ sản xuất nhiều loại tàu chiến, từ tàu tên lửa đến tàu hỗ trợ hậu cần. Tiến bộ này phản ánh chiến lược dài hạn của Việt Nam trong việc tự chủ quốc phòng, đồng thời lựa chọn kết hợp những kiến thức chuyên môn từ nước ngoài.
Phương tiện bay không người lái


Việt Nam bắt đầu công việc phát triển phương tiện bay không người lái (UAV) một cách khiêm tốn nhưng đã tăng tốc trong thế kỷ 21. Những nỗ lực ban đầu vào những năm 1990 chủ yếu liên quan đến các máy bay không người lái đơn giản dùng cho luyện tập phòng không.[96] Tuy nhiên, từ năm 2001, các tổ chức Việt Nam đã bắt đầu phát triển các UAV hiện đại hơn, phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự. Đến những năm 2010, nhiều tổ chức – từ Hội Hàng không Vũ trụ Việt Nam(VASA) đến Viettel High-Tech – đã thiết kế và thử nghiệm các nguyên mẫu UAV. Hầu hết trong số này là các drone trinh sát tầm ngắn đến tầm trung, được trang bị camera và cảm biến giám sát.[96]
Hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển UAV. Vào năm 2015–2016, Viettel và Bộ Quốc phòng đã ra mắt nguyên mẫu UAV tầm xa (được cho là có tên HS-6L), với sải cánh dài 22 mét và thời gian bay dự kiến lên đến 35 giờ.[36] Dự án này được cho là đã nhận sự hỗ trợ kỹ thuật từ Belarus, một lần nữa cho thấy cách tiếp cận của Việt Nam trong việc tiếp nhận kiến thức từ nước ngoài để phát triển các dự án nội địa. Mặc dù chưa rõ liệu HS-6L có được đưa vào biên chế hay không, nhưng nó đã thể hiện tham vọng của Việt Nam trong việc sản xuất UAV MALE (medium-altitude long-endurance -UAV tầm xa). Vào tháng 9 năm 2020, Viettel đã trưng bày mô hình thiết kế UAV MALE tự chế mới, cho thấy quá trình nghiên cứu và phát triển vẫn tiếp tục trong lĩnh vực này.[36] Tháng 9 năm 2025, Viettel chính thức cho ra mắt UAV MALE hoàn chỉnh của họ, với tải trọng tối đa 500 kg và thời gian bay tối đa lên đến 24 giờ.[97]
Việt Nam hiện nay có khả năng sản xuất một loạt các phương tiện bay không người lái (UAV) phù hợp với yêu cầu của chiến trường hiện đại. Trong lĩnh vực trinh sát, các mẫu UAV phát triển nội địa đáng chú ý bao gồm RAV-80, VU-QL1, VU-R50 và VU-R70, được sản xuất bởi Viettel và các viện nghiên cứu trực thuộc Không quân.[98] Ngoài ra, Việt Nam cũng đã có những tiến bộ trong lĩnh vực UAV cảm tử, với các hệ thống như VU-C2 được phóng từ các ống phóng di động,[99] cùng với BXL-01 và QXL-01 được phát triển bởi Nhà máy Z131.[98] Nhà máy Z113 cũng đã giới thiệu một số loại UAV FPV (view từ góc nhìn người điều khiển) phục vụ các hoạt động chiến thuật cự ly ngắn như trinh sát hoặc tuần tra.[100]
Radar và các thiết bị điện tử

Kể từ những năm 2000, việc hiện đại hóa và nội địa hóa radar và các thiết bị điện tử đã được tập trung nghiên cứu. Để thay thế các trang bị từ thời Liên Xô, Việt Nam đã hiện đại hóa các đài radar với một số sự trợ giúp từ nước ngoài. Các thành tựu đáng chú ý có thể kể đến radar cảnh giới tầm thấp VRS-2DM, phát triển với sự hợp tác của Việt Nam và Belarus dựa trên radar P-19 Danube, và dòng radar RV với nền tảng từ radar Vostok-E .[101]
Việt Nam cũng đã phát triển radar P-18Mdựa trên công nghệ từ Cộng hòa Czech, Với khả năng phát hiện mục tiêu tàng hình từ khoảng các 250 km.[101] Thêm vào đó, Viettel đã phát triển radar cảnh giới biển VRS-CSX , dựa trên mẫu Coast Watch 100 của Pháp.[101] Gần đây, họ đã giới thiệu radar mảng pha chủ động sử dụng băng tần X được sử dụng để dẫn bắn cho pháo phòng không 57mm, cũng như radar điều khiển hỏa lực cho hệ thống tên lửa chống hạm VCM-B.
Bên cạnh radar, năng lực chiến tranh điện tử của Việt Nam còn bao gồm một loạt các hệ thống, từ các thiết bị cầm tay như CA-18GL, VCU/3P, và CAV-14, đến các nền tảng chống UAV lớn hơn như C-UAS, V-EMP/S, VCUS/C, và VCUS/E. Trong lĩnh vực giám sát điện tử, Việt Nam đã phát triển thành công hệ thống V-ELINT 18, dựa trên radar giám sát thụ động VERA-NG của Séc, và đã được triển khai chính thức cho các đơn vị tác chiến điện tử cấp quân khu.[102] Việt Nam cũng đã nâng cấp các radar dẫn đường tên lửa và hệ thống điều khiển hỏa lực, đồng thời sản xuất các linh kiện điện tử và hệ thống dẫn đường nội địa cho các tên lửa phòng không thế hệ cũ của Liên Xô như S-75 Dvina và S-125 Neva/Pechora,[103] từ đó kéo dài tuổi thọ hoạt động và đảm bảo hiệu quả tác chiến liên tục.
Các nhà sản xuất

Hiện tại, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là cơ quan nhà nước quản lí toàn bộ các nhà máy sản xuất vũ khí của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, các nhà máy dưới quyền tổng cục vẫn duy trì cơ chế nghiên cứu và phát triển các sản phẩm độc lập để tạo ra các vũ khí mới. Các nhà máy và viện nghiên cứu cũng có thể phối hợp nghiên cứu và sản xuất chặt chẽ, tạo nên một hệ thống nghiên cứu và sản xuất thống nhất
- Nhà máy Z111 – Chuyên sản xuất vũ khí bộ binh hạng nhẹ.[104]
- Nhà máy Z113 – Chuyên biệt sản xuất đạn dược từ vũ khí bộ binh đến đạn pháo, UAV và thuốc nổ quân sự lẫn công nghiệp.[105][106]
- Nhà máy Z114 – Sản xuất đạn dược và thuốc nổ quân sự.[107][108]
- Nhà máy Z115 – Sản xuất các vật liệu nổ và đạn pháo.[109][110]
- Nhà máy Z117 – Sản xuất các áo giáp, mũ chống đạn và tấm chống đạn.
- Nhà máy Z121 – Sản xuất thuốc nổ và ngòi nổ cho pháo, còn nổi tiếng với sản phẩn pháo hoa.[111]
- Nhà máy Z125 - Chuyên sản xuất vũ khí với cỡ nòng lớn như súng phóng lựu, súng không giật và kể cả nòng pháo và các linh kiện của pháo mặt đất.
- Nhà máy Z127 - Chuyên biệt về luyện kim, cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy.[112]
- Nhà máy Z129 – Chuyên sản xuất các sản phẩm cơ khí chính xác như ngòi nổ đạn pháo.[113]
- Nhà máy Z131 – Sản xuất UAV, đạn chống tăng, MANPADS và ATGM.[114]
- Nhà máy Z143 – Tập trung vào các thiết bị điện tử.
- Nhà máy Z173 (Công ty Đóng tàu Hồng Hà) – Chuyên đóng tàu hải quân, tàu hâu cần và các tàu tuần tra.[115]
- Nhà máy Z175 – Chuyên sản xuất các sản phẩm cao su.[116]
- Nhà máy Z176 – Sản xuất các linh kiện, quân phục và vũ khí bộ binh.[117]
- Nhà máy Z181 – Sản xuất đạn pháo và thiết bị điện tử.[118]
- Nhà máy Z183 - Sản xuất các sản phẩm công nghệ cao như kính nhìn đêm, các sản phẩm quang điện và ngòi nổ.
- Nhà máy Z189 – Chuyên đóng tàu cỡ lớn cho hải quân và cảnh sát biển.[119][120][121]
- Nhà máy Z195 – Sản xuất thuốc nổ và hóa chất.[122]
- Nhà máy Z199 – Sản xuất các sản phẩm quang học.[123]
Ngoài ra, việc sản xuất và nâng cấp các thiết bị chuyên dụng cũng được thực hiện tại các nhà máy trực thuộc Tổng cục Hậu cần và Kỹ thuật, các binh chủng, quân đoàn, quân khu, cũng như tại nhiều nhà máy của Viettel.
Tham khảo
- 1 2 "Vietnam - Defense and Security Sector". Cơ quan Thương mại Quốc tế. Bộ Thương mại Hoa Kỳ. ngày 30 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 "Việt Nam modernises military, strengthens national defence". Vietnam News. Thông tấn xã Việt Nam. ngày 21 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 "Vietnam seeks to boost domestic defence industry as it hosts arms fair". Reuters. ngày 18 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Tran, Nhung Tuyet (2006). Viêt Nam Borderless Histories. University of Wisconsin Press. tr. 75.
- ↑ Phạm Trường Giang (ngày 23 tháng 7 năm 2017). "Dấu vết của 'thần cơ' Hồ Nguyên Trừng". Báo Pháp luật. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Tran, Nhung Tuyet (2006). Tran, Nhung Tuyet; Reid, Anthony (biên tập). Viêt Nam: Borderless Histories. University of Wisconsin Press. Chapter 4, note 174.
- ↑ Cortesão, Armando (1944). The Suma oriental of Tomé Pires : an account of the East, from the Red Sea to Japan, written in Malacca and India in 1512-1515; and, the book of Francisco Rodrigues, rutter of a voyage in the Red Sea, nautical rules, almanack and maps, written and drawn in the East before 1515 volume I. London: The Hakluyt Society. ISBN 9784000085052.
Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng. - ↑ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 213
- ↑ 调元 (Tiaoyuan), 李 (Li) (1777). 南越笔记 (South Vietnamese Notes). tr. 268–269 – qua Chinese Text Project.
- ↑ 東洋學 硏究所 (Institute of Oriental Studies) (1999). 漢韓大辭典 (Chinese-Korean Dictionary). 檀國大學教出版部 (Dankook University Department of Education and Publication). tr. 45. ISBN 9788970922430.
- ↑ Nhiều tác giả 2007, tr. 75.
- ↑ Ngọc Hoàng (ngày 27 tháng 5 năm 2010). "Người Việt Nam đầu tiên làm súng trường đánh Pháp". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Piglowski: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Quyển 1. tr. 410.
- ↑ Hoàng Triều Ân (ngày 7 tháng 11 năm 2024). "Xưởng quân khí Lê Tổ". Báo Cao Bằng. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Kiều Mai Sơn (ngày 25 tháng 11 năm 2014). "Vũ khí độc đáo của người Việt: Cha đẻ lựu đạn vỏ gang kiểu đập". Báo Nông nghiệp và Môi trường. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Ngô Nhật Dương (ngày 1 tháng 9 năm 2015). "Những xưởng binh khí đặc biệt sau cách mạng tháng Tám". VnExpress. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Thiếu tướng Trần Đại Nghia". Báo Nhân dân. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Quang Đức (ngày 9 tháng 2 năm 2025). "Giáo sư Trần Đại Nghĩa cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng và nền khoa học nước nhà". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Quốc Lê (ngày 22 tháng 12 năm 2019). "Xem "siêu phẩm" mìn, lựu đạn tự chế của bộ đội Cụ Hồ". Báo Tri thức và Cuộc sống. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ davegoku12 (ngày 10 tháng 6 năm 2025). "Vietnamese made Enfield No.2 revolver manufactured and used by Communist police in South Vietnam during the First Indochina war". r/ForgottenWeapons. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết) - ↑ Xuân Nghĩa (ngày 17 tháng 3 năm 2017). "Nhà máy Z111 kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất". thanhhoaCổnngg thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, "đoàn kết - đồng lòng - chủ động - sáng tạo - hội nhập - phát triển" đưa nhà máy vươn tầm cao mới". z113.vn. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Hoàng Anh Quang (ngày 21 tháng 5 năm 2021). "Phát huy truyền thống đơn vị hai lần Anh hùng, xây dựng Nhà máy Z117 ngày càng phát triển bền vững". Tạp chí Công nghiệp Quốc phòng & Kinh tế. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "North Vietnamese 1965 Production SKS45 Rifle with Bayonet". Rock Island Auction Company. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ McCollum, Ian (ngày 2 tháng 10 năm 2020). "North Vietnamese SKS". Forgotten Weapons (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "Khám phá súng trung liên TUL-1 "made in Vietnam"". Báo Tiền Phong. ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ McCollum, Ian (ngày 31 tháng 10 năm 2012). "Viet Cong 1911 Copy". www.forgottenweapons.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
- ↑ "Viet Cong Weaponry: 14 Guerilla Tools of the Vietnam War". Athlon Outdoors. Athlon Media Group. ngày 11 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Rottman, Gordon L. (ngày 10 tháng 2 năm 2009). North Vietnamese Army Soldier 1958–75. Warrior 135. Osprey Publishing. tr. 32. ISBN 9781846033711.
- ↑ Kosta_gwrote, Kosta_g kosta_g. "Кустарное оружие Вьетминя и Вьетконга: дайджест". kosta-g.livejournal.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Early VC Small Arms". www.smallarmsreview.com. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Quốc tế khâm phục tài cải biến vũ khí của quân giới Việt Nam". Báo điện tử VTC News. ngày 18 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Vietcong Improvised SVT-40". r/ForgottenWeapons. ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2025.
- ↑ Song Hà (ngày 1 tháng 2 năm 2010). "Những chiếc máy bay đầu tiên do Việt Nam chế tạo". VietNamNet. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Minh Đức (ngày 30 tháng 8 năm 2025). "GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: 'Việt Nam dư sức sản xuất UAV'". Tạp chí Một thế giới. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Arming Vietnam: Widened International-security Relations in Support of Military-capability Development (PDF) (Báo cáo). International Institute for Strategic Studies. tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Vietnam: From Weapons Importer to Weapons Exporter". Israel Defense. ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Factory Z111". GlobalSecurity.org. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 "Vietnam no longer considers Israeli-upgraded T-54/55 tanks". Army Recognition. ngày 26 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 "Tên lửa vác vai Igla - 'sát thủ' do VN sản xuất". Báo Tiền Phong. ngày 26 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 "Vietnam Launches Two Home-made Molniya-class Missile Corvettes". Defense Mirror. ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 "Vietnam's Molniya-Class Corvettes: Surface Combat Power with Rapid Missile Reload Capability". Army Recognition. ngày 7 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "RV-02 "Made in Vietnam" - Radar khiến máy bay tàng hình tỷ USD "khóc thét"". Dân Việt. ngày 8 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Huy Quang (ngày 12 tháng 3 năm 2013). "Việt Nam nâng uy lực 'nỏ liên châu' Pechora-2M". Báo Tiền Phong. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Final chuẩn Day 3 Bản IN" (PDF). Vietnam Defence Portal. Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Quốc phòng (VDI). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Vladimir Onokoy (ngày 17 tháng 7 năm 2020). "STV-380 and STV-215 - New Service Rifles of Vietnamese Army -". The Firearm Blog (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Vũ Dung (ngày 3 tháng 12 năm 2021). "Những khẩu súng công nghệ cao của Z111". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Hùng Dũng (ngày 24 tháng 8 năm 2020). "Thán phục Quân đội Việt Nam tự sản xuất lượng lớn súng cối, súng phóng lựu". Báo Kiến thức và Đời sống. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2025.
- ↑ La Duy (ngày 25 tháng 10 năm 2021). "Nửa thế kỷ gây dựng thương hiệu của Z176". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Sơn Bình (ngày 4 tháng 10 năm 2023). "Sản phẩm nâng cao tính linh hoạt cho bộ đội trong tác chiến". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Nguyễn Anh (ngày 8 tháng 9 năm 2022). "Thi đua là động lực phát triển ở Nhà máy X61". Báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Lại Hoa (ngày 5 tháng 1 năm 2024). "Việt Nam làm chủ công nghệ sản xuất và chế tạo áo giáp chống đạn K51 và K56". VOV. Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Máy thu phát vô tuyến điện". Viettel High Tech. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Trà My (ngày 8 tháng 5 năm 2024). "Sản phẩm quân sự Viettel xuất hiện tại lễ duyệt binh". Viettel Family. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Máy thu phát vô tuyến điện Sóng cực ngắn". Viettel High Tech. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Giang Huy - Hoàng Thùy (ngày 24 tháng 8 năm 2021). "200 thiết bị quân sự Việt Nam sản xuất được giới thiệu ở Army Games". VnExpress. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Sơn Bình (ngày 17 tháng 10 năm 2024). "Làm chủ công nghệ sản xuất thuốc phóng, thuốc nổ". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Thượng tá TRẦN CHÍ DŨNG (ngày 13 tháng 10 năm 2023). "Nhà máy Z113 nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng". Tạp chí Quốc phòng toàn dân. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Sản phẩm hoả nổ". Z113.vn. Nhà máy Z113 – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Sản phẩm đạn". Z113.vn. Nhà máy Z113 – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Thùy Linh (ngày 4 tháng 3 năm 2024). "Việt Nam chế tạo thành công ngòi nổ có điện tử". VTV. Đài Truyền hình Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Minh Nhật (ngày 17 tháng 2 năm 2024). "Việt Nam chế tạo thành công khí tài 200 chi tiết siêu nhỏ, hoạt động trong 1 giây, chuyên gia kinh ngạc". CafeF. CAFEF.VN. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng thực hiện đơn hàng xuất khẩu trị giá gần 1 tỷ USD". Otofun. ngày 17 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Giới thiệu Nhà máy Z113". Z113.vn. Nhà máy Z113 – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ office_zzam (ngày 11 tháng 1 năm 2018). "Russia and Vietnam agreement to manufacture Kamaz & UAZ trucks". armyrecognition.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Kamaz plans to start serial assembly of trucks in Vietnam in 2020". TASS. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2024.
- ↑ Việt Linh - Việt Hà (ngày 21 tháng 12 năm 2024). "Xe chiến đấu bộ binh Việt Nam tự sản xuất lần đầu ra mắt". Tri thức. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Vietnam Unveils Locally Made XCB01 Modernized Version of Soviet BMP-1 Infantry Fighting Vehicle". Army Recognition. ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Vietnam army unveils new indigenous XTC-02 amphibious 4x4 APC". Army Recognition. ngày 23 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Tuyển tập công trình Hội nghị khoa học các nhà nghiên cứu trẻ lần thứ XX- Năm 2025 (PDF). Quyển 2: Kỹ thuật xây dựng, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật cơ khí động lực, kỹ thuật điều khiển. Hanoi: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 2025. tr. 1585–1595, 1641–1654. ISBN 978-604-495-840-8.
- 1 2 Thùy Linh (ngày 23 tháng 9 năm 2025). "Thượng tướng Phạm Hoài Nam làm việc về phương án nghiên cứu thiết kế, chế tạo xe thiết giáp chở quân chiến đấu và xe tăng bơi". bqp.vn. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Việt Nam đã cải tiến xe thiết giáp Commando V-100 ra sao?". infonet.vietnamnet.vn. ngày 17 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ defenceadmin (ngày 27 tháng 12 năm 2019). "Vietnamese Pohang type corvette upgraded with KH-35 Uran-E missile". Asia Pacific Defence News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2021.
- ↑ Bạch Dương (ngày 20 tháng 12 năm 2024). "Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển VCS-01 Việt Nam sẽ thay thế 4K51 Rubezh". Giáo dục và Thời đại. Báo Giáo dục và Thời đại. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2024.
- ↑ "Kẻ hủy diệt' trực thăng của Phòng không Việt Nam". Báo Đất Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2013.
- ↑ "Việt Nam chế tạo thành công linh kiện tên lửa vác vai Igla". VietNamNet. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Hà Chi (ngày 1 tháng 3 năm 2016). "Dấu ấn trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự". truyenthongkhoahoc.vn. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Đại tá, ThS. NGUYỄN HỒNG SƠN (ngày 22 tháng 2 năm 2018). "Viện Thuốc phóng - Thuốc nổ đẩy mạnh thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng công tác". m.tapchiqptd.vn. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Thiếu tướng Lê Đăng Dũng - dấu ấn người đứng đầu". viettelfamily.com. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2022.
- ↑ An An. "Đại tá Tào Đức Thắng chính thức nhận bàn giao chức danh Chủ tịch Viettel". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2022.
- ↑ QPVN. "Học viện Kỹ thuật Quân sự - Thời cơ và khát vọng". www.qpvn.vn. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "Z127: Nơi luyện ý chí thép, rèn lửa Anh hùng". YouTube. Báo Quân đội Nhân dân Điện tử. ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Tuyển tập công trình Hội nghị khoa học các nhà nghiên cứu trẻ lần thứ XX- Năm 2025 (PDF). Quyển 1: Hóa -lý kỹ thuật, công nghệ cơ khí và cơ ứng dụng, QL KH&CN, vũ khí, đạn, cơ điện tử, hàng không vũ trụ, vô truyến điện tử. Hanoi: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. 2025. tr. 1585–1595, 1641–1654. ISBN 978-604-495-840-8.
- ↑ ĐẠI HỘI THI ĐUA QUYẾT THẮNG TOÀN QUÂN LẦN THỨ XI (video). YouTube. Hanoi: VTV1 via LTV. ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ KIM ANH - MINH TUẤN (ngày 15 tháng 9 năm 2025). "Tổng Bí thư Tô Lâm dự lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Công nghiệp quốc phòng". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ MY LĂNG. "Chiếc tàu tiếp dầu đầu tiên ở VN ra đời như thế nào?". Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Vietnam launches fourth locally-built RoRo 5612 landing craft". Asia Pacific Defense Journal. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "HQ-521 medium landing ships (2009)". www.navypedia.org. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2024.
- ↑ Tran Hoai (ngày 9 tháng 11 năm 2024). "Flag-raising ceremony held for new landing ship". en.qdnd.vn (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Hùng Khoa (ngày 5 tháng 8 năm 2025). "Tổng công ty Ba Son tổ chức lễ hạ thủy tàu vận tải quân sự". qdnd.vn.
- ↑ "Vietnam launches new submarine rescue vessel". asiapacificdefensejournal.com. ngày 6 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2020.
- ↑ Vĩnh Lộc - Kim Ngân (ngày 29 tháng 6 năm 2025). "Đặt ky đóng mới tàu can thiệp khẩn cấp cứu nạn tàu ngầm và tàu vận tải đa năng". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "Vietnamese Navy – Corvettes and Patrol Ships". The Searchers. ngày 9 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Dmytro Shumlianskyi (ngày 15 tháng 9 năm 2025). "Vietnam Develops Its Own Naval Drone". militarnyi.com. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Công nghiệp quốc phòng: Hành trình 80 năm cống hiến và tự hào. YouTube. VTV1 via Youtube. ngày 15 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 "A Perspective on Vietnam". Proliferated Drones – Center for a New American Security. ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Khám phá UAV do Tập đoàn Viettel sản xuất". Báo Thanh niên. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 Minh Anh (ngày 17 tháng 12 năm 2024). "Dàn UAV hiện đại của Việt Nam góp mặt tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế 2024". Báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Vietnam Introduces Electric-Powered VU-C2 Loitering Munition at Defence Expo 2024". Army Recognition. ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "UAV - Z113". Nhà máy Z113. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2025.
- 1 2 3 Nguyễn Mạnh Thắng (ngày 30 tháng 11 năm 2021). "Những "mắt thần" từ trí tuệ của Việt Nam". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Electronic Intelligence System". Viettel High Tech (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Bạch Dương (ngày 7 tháng 4 năm 2025). "Làm chủ sản xuất linh kiện điện tử cho tên lửa phòng không Liên Xô". Giáo dục và Thời đại. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Chủ tịch nước làm việc tại Thanh Hóa và thăm Nhà máy Z111". Báo Quân đội nhân dân. ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Nhà máy Z113 - Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng "Giải bài toán" bảo đảm an toàn lao động".[liên kết hỏng]
- ↑ Nguyễn Anh Tuấn (ngày 15 tháng 6 năm 2010). "Công nghệ "đón đầu" tại Nhà máy Z113". Báo Quân đội nhân dân.
- ↑ Phương Anh (ngày 27 tháng 5 năm 2024). "Nhà máy Z114 đẩy mạnh các dự án đầu tư, nâng cao tiềm lực sản xuất quốc phòng". Báo Quân đội nhân dân.
- ↑ Thượng tá LÊ VĂN NAM (ngày 6 tháng 12 năm 2024). "Xây dựng Nhà máy Z114 trở thành trung tâm cụm công nghiệp quốc phòng miền Nam". Báo Quân đội nhân dân.
- ↑ Minh Mạnh (ngày 16 tháng 6 năm 2025). "Trung tướng Nguyễn Hồng Thái dự Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Nhà máy Z115". Báo Quân đội nhân dân.
- ↑ "Nhà máy Z115 nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất sản phẩm quốc phòng, kinh tế". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2015.
- ↑ T.Kha (ngày 14 tháng 10 năm 2013). "Nổ ở Nhà máy Z121: Lợi dụng vụ nổ để hôi của". Báo Người lao đông.
- ↑ "Công ty TNHH một thành viên 27".
- ↑ "Tuổi trẻ nhà máy Z129, tổ chức hoạt động tình nguyện tại huyện Yên Sơn". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2016.
- ↑ "Nhà máy Z131 đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân".
- ↑ Nguyễn Tiến Đạt (ngày 11 tháng 11 năm 2014). "Nhà máy Z173 nỗ lực làm chủ công nghệ đóng tàu hải quân". kienthuc.net. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2025.
- ↑ Quang Trung. "Nhà máy Z175 đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì". Báo Quân đội nhân dân.
- ↑ "Nhà máy Z176 vững vàng trong hội nhập quốc tế".
- ↑ "Công ty TNHH một thành viên Điện tử Sao Mai".
- ↑ "Lời khẳng định của Nhà máy Z189". Báo Quân đội nhân dân. ngày 13 tháng 1 năm 2014.
- ↑ "Niềm tự hào của ngành Công nghiệp quốc phòng Việt Nam". nhandan.vn. ngày 27 tháng 6 năm 2015.
- ↑ Till, Geoffrey; Supriyanto, Ristian Atriandi (ngày 18 tháng 9 năm 2017). Naval Modernisation in Southeast Asia: Problems and Prospects for Small and Medium Navies. Springer. tr. 96. ISBN 978-3-319-58406-5.
- ↑ "Công ty TNHH một thành viên 95 (Nhà máy Z195) khám bệnh, tư vấn sức khỏe,cấp thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Z199 góp phần làm Thủ đô giàu đẹp".