Bước tới nội dung

Bùi Đình Đổng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bùi Đình Đổng
Chức vụ
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền
Nhiệm kỳ2/1970  8/1970
Tiền nhiệmLê Thiết Hùng
Kế nhiệmLê Đông
Vị tríBắc Triều Tiên
Thứ trưởng
Nhiệm kỳ1966  1973
Vị tríBộ Xây dựng Việt Nam
Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ
Nhiệm kỳ1964  1966
Vị tríBộ Xây dựng Việt Nam
Giám đốc Công an tỉnh
Nhiệm kỳ7/1946  7/1947
Vị tríHà Nam
Giám đốc Công an thành phố
Nhiệm kỳ4/1946  7/1946
Vị tríHải Phòng
Thông tin cá nhân
Quốc tịch Việt Nam
Sinhnăm 1911
làng Hạ Lý, Hải Phòng, Liên bang Đông Dương
Mấttháng 5, 1973 (6162 tuổi)
Hải Phòng, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nghề nghiệpChính khách
Đảng chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam
năm 1936
VợLý Thị Nhung

Bùi Đình Đổng (1911 – 1973) là một chính khách người Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Giám đốc nhà máy Xi măng Hải Phòng, Thứ trưởng Bộ Xây dựngBộ Công nghiệp nặng, đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên; cùng với vai trò tương đương Giám đốc Công an cấp tỉnh như Chủ sự Ty Liêm phóng Hải Phòng, Trưởng ty Công an tỉnh Hà Nam.[1][2]

Cuộc đời và sự nghiệp

Những năm đầu đời

Bùi Đình Đổng sinh năm 1911 tại xóm Đình Hạ, làng Hạ Lý, (nay là phường Hồng Bàng) thành phố Hải Phòng. Mẹ ông tên là Mai Thị Khai, bố ông là Bùi Đình Cương, quê Nam Định, từng tham gia khởi nghĩa Yên Thế.[3][2]

Năm 1930, ông xin vào học nghề và làm thợ nguội tại nhà máy Xi măng Hải Phòng, được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương năm 1936.[2]

Hoạt động cách mạng và an ninh

Từ năm 1936 đến 1939, Bùi Đình Đổng được bầu làm Bí thư Chi bộ Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Tháng 11 năm 1939, ông cùng với vợ là Lý Thị Nhung và các đồng chí Tô Hiệu, Ngô Minh Loan, bị chính quyền Pháp tại Hải Phòng bắt. Bùi Đình Đổng bị Tòa án Hải Phòng kết án 2 năm tù, sau khi Tòa án Đề hình Hà Nội xử lại dã tăng án của ông lên 3 năm tù tại nhà tù Sơn La.[1][3] Vợ chồng Bùi Đình Đổng và Tô Hiệu, sau này được nhà văn Nguyên Hồng dùng làm nguyên mẫu cho một số nhân vật trong tiểu thuyết Cửa biển.[4]

Tháng 3 năm 1945, Bùi Đình Đổng vượt ngục trở về tham gia chỉ đạo phong trào công nhân nhà máy Xi măng Hải Phòng và được bổ nhiệm làm Trưởng ban Kiểm soát kỹ nghệ thành phố. Tháng 11 năm 1945, ông tiếp tục được bầu làm Bí thư Chi bộ Nhà máy.[1][2] Tháng 4 năm 1946, Bùi Đình Đổng được bổ nhiệm là Chủ sự Ty Liêm phóng thành phố Hải Phòng.[1][5] Từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 7 năm 1947, ông làm Trưởng ty công an tỉnh Hà Nam, sau đó làm Chánh thư ký Liên hiệp Công đoàn Liên khu 3, Trưởng ban dân công Trung ương. Tháng 10 năm 1954, ông về làm Phó giám đốc nhà máy Xi măng Hải Phòng, thuộc Bộ Lao động.[2]

Hoạt động chính trị - Giám đốc nhà máy Xi măng Hải Phòng

Từ năm 1955 đến 1958, Bùi Đình Đổng được bầu làm Giám đốc nhà máy Xi măng Hải Phòng, các ông Nguyễn Vinh, Lê Văn Phong làm Phó Giám đốc. Tháng 12 năm 1959, được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hải Phòng.[6][2]

Tháng 7 năm 1964, ông được giữ chức Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ của Bộ Xây dựng[2] sau đó được đề bạt làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng[1][cần nguồn tốt hơn] và Thứ trưởng Bộ Xây dựng từ 1966 đến 1973.[2] Năm 1970, ông được cử làm Đại sứ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Triều Tiên trong vài tháng.[7]

Năm 1971, ông được bổ nhiệm trở lại làm Giám đốc nhà máy Xi măng Hải Phòng. Năm 1973, được bầu làm Bí thư Đảng ủy - Đảng bộ Nhà máy đến khi qua đời vì bệnh hiểm nghèo vào tháng 5 năm 1973, tại bệnh viện Việt Xô.[1][2][6]

Xem thêm

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 5 6 Lịch sử Đảng bộ Công ty Xi măng VICEM Hải Phòng (1929-2019) (PDF). Nhà xuất bản Hải Phòng. 2019.
  2. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Đỗ Xuân Trung (ngày 3 tháng 11 năm 2011). "Bùi Đình Đổng (1911 - 1973)". Thư Viện thành phố Hải Phòng. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  3. 1 2 Lịch sử Đảng bộ phường Thượng Lý (PDF). Nhà xuất bản Hải Phòng. 2009.
  4. Nguyễn Đăng Mạnh (2008). Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh. tr. 218.
  5. Kiều Mai Sơn (ngày 14 tháng 11 năm 2019). "Trịnh Tam Tỉnh – Người lãnh đạo chính quyền vùng phên dậu Đông Bắc". Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2026.
  6. 1 2 120 năm Hành trình giữ lửa (1899-2019) (PDF). Công Ty Xi Măng Vicem Hải Phòng. 2019.
  7. Nghị quyết 874 NQ/TVQH và 961 NQ/TVQH (1970)