Bước tới nội dung

Bánh mì tròn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Một chiếc bánh mì ổ tròn để làm vỏ burger

Bánh mì ổ tròn (Bun) là một loại bánh mì có hình tròn và đủ nhỏ để thường có thể ăn bằng tay, loại bánh mì này dùng để chỉ chung các loại bánh mì có kích thước nhỏ, hình tròn, vừa đủ để cầm tay. Một chiếc bánh mì ổ tròn được coi là bánh ngọt hay bánh mặn khác nhau tùy theo quốc gia, nó được coi là bánh ngọt ở Anh, Scotlandxứ Wales, cùng một loại bánh mì mặn ở Bắc Ireland[1][2] và có thể là một loại bánh mì ngọt hoặc bánh mì cuộn vị mặn ở Hoa Kỳ.[1][2][3] Ở Anh, Scotland và xứ Wales, "bánh mì tròn" được coi là một loại bánh ngọt, được hiểu là loại bánh rất giàu nguyên liệu, có gia vị và điểm xuyết hoa quả ở Scotland, như thấy trong ví dụ về bánh mì tròn nho khô.[1] Ở Hoa Kỳ, một ổ bánh cuộn ("roll") được hiểu là một ổ bánh mì cuộn, đặc biệt là loại dùng để kẹp burger, và được xẻ theo chiều ngang.[2] Bánh bao của Trung Quốc với nhân mặn hoặc ngọt, thường được gọi là "bánh tròn" trong tiếng Anh. Trong thời hiện đại, bánh mì ổ tròn phổ biến nhất là để chỉ loại vỏ bánh mì mềm, xốp, có vị hơi ngọt, thường rắc vừng, được dùng riêng cho món hamburger. Nó có vỏ ngoài màu vàng nâu, ruột bánh mềm xốp (nhưng vẫn có kết cấu của bánh mì) và được xẻ ngang để kẹp nhân vào giữa (như một cái sandwich). Hiện nay có nhiều loại "bánh mì ổ tròn" khác nhau trên thế giới, trong đó phổ biến nhất là "Hamburger bun" (vỏ bánh burger), "Hot dog bun" (bánh mì kẹp xúc xích), và các loại bánh ngọt như "Cinnamon bun" (bánh mì cuộn quế).

Giới thiệu

Bánh mì tròn thường được làm từ bột nhào gồm bột mì, sữa, men nở và một lượng nhỏ đường cũng như bơ. Bột bánh mình tròn ngọt được phân biệt với bột bánh mì thông thường bằng việc thêm đường, bơ và đôi khi là trứng. Các loại bánh ngọt phổ biến chứa các loại trái cây nhỏ hoặc hạt, phủ kem đường hoặc caramel, và nhồi thêm mứt hay kem. Nhiều loại mì ổ tròn được phết lòng đỏ trứng để tạo vẻ ngoài vàng óng.[4] Nguồn gốc từ của từ bun trong tiếng Anh không rõ ràng. Từ điển tiếng Anh Oxford ghi nhận việc sử dụng sớm nhất được biết đến là vào năm 1371 trong Assize of Bread and Ale, một bộ luật thời Trung cổ ở châu Âu, dưới dạng "bunne", nơi họ xác định ý nghĩa của nó là "không chắc chắn", được hiểu từ bối cảnh đơn giản là dùng để chỉ một loại "ổ bánh mì hoặc bánh ngọt".[1] Vào thế kỷ XIV ở Nhật Bản, bánh bao hấp nhồi rau củ hoặc Yōkan (một loại thạch ngọt) đã được các Phật tử dùng bữa[5] Đến thế kỷ XVI ở châu Âu, bánh bọc có gia vị, thường được phục vụ với rượu vang ngọt hoặc bia ale đã được dùng như một phần của phong tục tang lễ.[6]

Các loại

Một ổ bánh mì tròn là một loại bánh mì nhỏ, thường có hình tròn, được phục vụ như một món ăn kèm trong bữa ăn, ăn không hoặc ăn với bơ. Một chiếc bánh cuộn có thể được phục vụ và ăn nguyên chiếc hoặc cắt ngang và kẹp nhân vào giữa hai nửa hoặc bánh mì cuộn, đôi khi có vị ngọt. Bánh mì tròn có nhiều hình dạng và kích cỡ, nhưng phổ biến nhất là cỡ cầm tay hoặc nhỏ hơn, với phần trên tròn cầu và phần đáy phẳng. Có nhiều tên gọi cho bánh mì tròn, đặc biệt là trong các phương ngữ địa phương của tiếng Anh-Anh. Các thuật ngữ khác nhau bắt nguồn từ những người thợ làm bánh, dựa trên cách họ làm bột và cách các món được nấu chín. Theo thời gian, mọi người có xu hướng sử dụng một tên để chỉ tất cả các sản phẩm tương tự, bất kể nó có chính xác về mặt kỹ thuật theo định nghĩa ban đầu hay không.

Bánh bao chay ngọt ở Đông Hà năm 2018
Bánh bao chay
Bánh bao bí ngô Đông Hà
Bánh mì thanh long ổ tròn
Bánh mì thanh long ổ tròn
  • Bánh baoBánh bao trong tiếng Việt có nghĩa là "Bánh bao bọc", là một loại bánh mì tròn hình quả bóng chứa thịt lợn hoặc thịt gà, hành tây, trứng, nấmrau, trong ẩm thực Việt Nam. Trong tiếng Indonesia chỉ bánh bao hấp, loại bánh này thường có nhân thịt lợn xay, nhưng cũng có thể được nhồi bằng các nguyên liệu khác, chẳng hạn như đậu xanh, lạc xay, hoặc rau củ. Bánh bao ở Trung Quốc là một loại bánh tròn có nhân, hấp, hoặc giống như bánh mì làm bằng men nở trong nhiều nền ẩm thực Trung Quốc khác nhau, vì có nhiều biến thể về nhân và cách chế biến.
  • Bánh bao thịt bò – Một loại bánh ngọt kiểu Hồng Kông, một trong những loại bánh ngọt tiêu chuẩn nhất ở Hồng Kông và cũng có thể tìm thấy ở hầu hết các tiệm bánh khu phố Tàu, có nhân thịt bò xay, đôi khi còn có cả miếng hành tây.[7]
  • Bánh bao xá xíu (Cha siu bao) – Một loại bánh bao nhân thịt lợn-nướng kiểu ẩm thực Quảng Đông[8] nhân xá xíu có hương vị thịt nướng tiệc nướng[8]
  • Bánh bao đuôi phượng (Cocktail bun) – Một loại bánh bao ngọt kiểu Hồng Kông với nhân dừa nạo, một trong số nhiều loại bánh nướng mang tính biểu tượng có nguồn gốc từ Hồng Kông[9]
  • Bánh bao bơ đậu – Bánh bao ngọt kiểu Hồng Kông cũng được tìm thấy trong các tiệm bánh ở khu phố Tàu[10] nó có các lớp nhân bơ đậu phộng, đôi khi có rắc thêm đường để tăng thêm hương vị
  • Đại bao – Một phiên bản cực lớn của bánh bao hấp Trung Quốc. Khi dịch ra, tên của nó có nghĩa đen là bánh bao lớn.
  • Bánh đào tiên (Longevity peach) – Một loại bánh bao nhân hạt sen có màu trắng với phần đầu được nhuộm đỏ, có nếp gấp dọc theo mặt, bắt chước hình dạng của quả đào trường sinh.
  • Bánh bao liên dung (Lotus seed bun) – Một loại bánh ngọt Trung Quốc được tìm thấy ở Trung Quốc, được chế biến bằng cách hấp bột nhào có men chứa nhân hạt sen.[11]
  • Màn thầu Quan Thoại (Mandarin roll) – Một loại bánh bao hấp có nguồn gốc từ Trung Quốc; được nấu bằng cách hấp; một thực phẩm thiết yếu của ẩm thực Trung Quốc tương tự như bánh mì trắng trong ẩm thực phương Tây
  • Màn thầu Hoa Bắc – Một loại bánh mì hấp hoặc bánh mì có nguồn gốc từ Trung Quốc; thường được ăn như một món ăn chính ở các vùng phía bắc Trung Quốc, nơi lúa mì, chứ không phải gạo, được trồng
  • Màn thầu Thượng Hải – Một loại bánh bao nhỏ, chiên áp chảo, là đặc sản của Thượng Hải và thường có nhân thịt lợn và gelatin, tan chảy thành súp/lỏng khi nấu chín.
  • Bánh bao (Siopao) – Thuật ngữ tiếng Phúc Kiến chỉ Bánh bao (Trung Quốc) ( ), nghĩa đen là "bánh mì hấp",[12] nó đã được đưa vào ẩm thực Philippines cũng như ẩm thực Thái Lan, nơi nó được gọi là Salapao (ซาลาเปา)[13]
  • Nikuman – Một loại bánh mì làm từ bột bột mì, có nhân thịt lợn xay nấu chín hoặc các nguyên liệu khác; một loại chūka man (中華まん chūka man?, nghĩa đen. Bánh bao hấp kiểu Trung Quốc) còn được biết đến trong tiếng Anh là bánh mì thịt lợn (pork buns)
  • Hoppang – Một biến thể của jjinppang (bánh bao hấp Hàn Quốc)
  • Jjinppang – Bánh bao hấp Hàn Quốc có nhân đậu đỏ.
  • Buuz (Bô-dừ) hay bánh bao Mông Cổ.
  • Bánh mì vòng (Bagel) – một loại bánh mì tròn hình chiếc nhẫn có nguồn gốc từ cộng đồng Do Thái ở Ba Lan, theo truyền thống được làm từ bột lúa mì có men, được nặn bằng tay thành hình xuyến hoặc hình nhẫn, luộc sơ trong nước, sau đó nướng, tạo ra phần bên trong đặc, dai, mềm với lớp vỏ ngoài màu nâu và đôi khi giòn.[14]
  • Barm loại bánh mì nhỏ, dẹt, thường có bột, mặn, được làm bằng men tự nhiên bao gồm cả hoa bia nghiền nát để ngăn nó bị chua, một thuật ngữ thường được sử dụng ở Liverpool, Manchester, Nam Lancashire và Tây Lancashire.[15]
  • Bap – loại bánh cuộn mềm lớn hơn, đường kính khoảng 5–6 inch (12–15 cm). Có thể chứa chất béo như mỡ lợn hoặc bơ để tạo độ mềm. Có thể có nhiều hình dạng khác nhau tùy thuộc vào khu vực. Bap được làm theo kiểu truyền thống ở Scotland không ngọt, không giống như phiên bản Ireland, có thể chứa nho khô Zante. Ấn bản thứ 9 của Concise Oxford Dictionary (1995) nói rằng từ "bap" có từ thế kỷ XVI và không rõ nguồn gốc của nó.
  • Batch (thường giống như bap) – thuật ngữ được sử dụng ở WarwickshireCheshire tại Anh, đặc biệt là xung quanh Coventry và Bán đảo Wirral.
  • Bánh Bath – Một bánh mì cuộn ngọt tròn và béo ngậy, có một cục đường nướng ở đáy và rắc thêm đường nghiền lên trên sau khi nướng[16]
  • Belfast bap – Bánh mì cuộn trắng với phần trên sẫm màu, thường "giòn, giống như bánh mì vỏ hổ".[15]
  • Bánh cuộn Asado – Bánh mì cuộn của Philippines với nhân thịt lợn Asado mặn-ngọt
  • Anpan – Một loại bánh mì tròn có nhân, thường là nhân đậu đỏ, hoặc đậu trắng, vừng, hoặc hạt dẻ
  • Bánh mì Bỉ (Belgian bun) – Một loại bánh mì ổ tròn vị ngọt chứa nho Sultana và thường được phủ kem đường (icing) và nửa quả anh đào glace
  • Blaa – Một loại bánh mì cuộn trắng, giống như bột nhào, đặc sản đặc biệt gắn liền với Waterford, Cộng hòa Ireland[17] về mặt lịch sử, blaa được cho là cũng đã được làm ở Kilkenny và Wexford[18]
  • Bánh Boston – Một loại bánh mì có gia vị lớn với một lớp kem đường dừa dày, phổ biến ở ÚcNew Zealand
  • Bánh mì cuộn – Một ổ bánh mì cuộn ngắn, thuôn hoặc tròn, thường được phục vụ trước hoặc trong bữa ăn, thường dùng với bơ.
  • Breadcake – thuật ngữ được sử dụng ở Yorkshire và Annesley ở Bắc Nottinghamshire
  • Bánh mì cuộn bữa sáng (Breakfast roll, chủ yếu ở Ireland) một loại bánh mì cuộn thường chứa đầy các yếu tố của bữa rán truyền thống (đồ ăn bữa sáng kiểu chiên rán ở Ireland).
  • Bublik
  • Bánh Bulkie – loại bánh cuộn có lớp vỏ thường hơi giòn hoặc giòn và không có rắc phủ (topping).
  • Bánh mì Kebab – Một loại chả (miếng thịt băm/patty) ở Pakistan có vị cay được chiên sơ, hành tây và chutney hoặc raita kẹp trong bánh mì hot dog
  • Buñuelo — Một loại bánh bột chiên hình cầu phổ biến ở Mỹ Latinh, Hy Lạp, Guam, Thổ Nhĩ Kỳ, IsraelMaroc. Nó thường có nhân hoặc topping.
  • Butterflake roll – một loại bánh cuộn có nguồn gốc từ New England được làm từ nhiều lớp bột xếp theo chiều dọc và ngăn cách bởi các lớp bơ mỏng. Khi nướng trong khuôn muffin, các lớp này sẽ xòe ra ở phía trên. Còn được gọi là Fan Tan roll hoặc Yankee Buttermilk roll.
  • Butterkaka – Một loại bánh mì tròn tương tự như bánh mì cuộn quế, nhưng nhiều chiếc bánh mì tròn được nén lại với nhau và nướng trong khuôn bánh giống như bánh mì dính.
  • Cemita
  • Bánh mì Challah – Bột bánh mì challah của người Do Thái được tạo hình thành một cuộn, thường ở dạng thắt nút hoặc xoắn. Nó được tìm thấy ở hầu hết các khu vực Kashrut của các cửa hàng tạp hóa, và do đó thường được các gia đình Do Thái trên khắp Hoa Kỳ ăn.
  • Bánh Chelsea – Một loại bánh mì nho khô (currant bun) được tạo ra lần đầu tiên vào thế kỷ XVIII tại Chelsea Bun House ở Chelsea, London,[19] một cơ sở được hoàng gia Hanover ưa chuộng, đã bị phá hủy vào năm 1839[20]
  • Bánh cuộn quế – Một loại bánh cuộn ngọt được phục vụ phổ biến ở Bắc ÂuBắc Mỹ; thành phần chính của nó là bột nhào, quế, đường, và , tạo nên hương vị đậm đà và ngọt ngào
  • Bánh cuộn Cloverleaf – Phiên bản của Mỹ, bao gồm ba viên bột nhỏ trong một khuôn muffin, ủ và nướng cùng nhau.
  • Cob – bánh cuộn tròn, có thể giòn hoặc không; một thuật ngữ thường được sử dụng ở Midlands của Anh
  • Bánh Colston – Một loại bánh mì tròn được đặt tên theo Edward Colston; được làm tại thành phố Bristol, Anh; bao gồm men bột nhào có hương vị trái cây sấy khô, vỏ kẹo và gia vị ngọt
  • Bánh mì kem – Một loại bánh mì tròn khác nhau trên toàn thế giới; điển hình là chúng được làm bằng một cuộn bánh mì bột nhào giàu (enriched dough) được nướng và để nguội, sau đó xẻ ra và nhồi kem
  • Bánh ngọt nho khô – Một loại bánh mì ngọt có chứa nho khô Zante hoặc nho khô; vào cuối thế kỷ 17, Mục sư Samuel Wigley đã thành lập Công ty Currant Bun ở Southampton, Hampshire, Vương quốc Anh
  • Bánh mì cà ri – Một ít cà ri Nhật Bản được bọc trong một miếng bột, được phủ trong vụn bánh mì xốp, và thường được chiên ngập dầu hoặc nướng.
  • Dampfnudel – Một loại bánh mì cuộn trắng hoặc bánh cuộn ngọt được ăn như một bữa ăn hoặc như một món tráng miệng ở Đức và ở Pháp (Alsace); một món ăn đặc trưng ở miền nam nước Đức
  • Bánh mì cuộn ăn tối – bánh cuộn nhỏ hơn, thường giòn
  • Bánh mì ngón tay (Finger Bun) – Một loại bánh mì hoa quả có kích cỡ bằng bánh hot dog với lớp kem đường hương vị có nguồn gốc từ Úc.
  • Bánh cuộn ngón tay (Finger roll) – bánh cuộn mềm, dài gấp ba lần chiều rộng.[21]
  • Bánh cuộn kiểu Pháp – thuật ngữ chung cho bánh mì cuộn. Cũng là một loại bánh cuộn ngọt hơn, mềm hơn có thêm sữa vào bột.
  • Fritter là một loại bánh mì cuộn có nhân.[22]
  • Bánh mì hoa quả – Một loại bánh cuộn ngọt được làm bằng trái cây, vỏ trái cây, gia vị và đôi khi là các loại hạt; một truyền thống ở Anh và các thuộc địa cũ của Anh bao gồm Jamaica, Úc,[23] Singapore,[24] và Ấn Độ[25]
  • Bánh mì giăm bông và trứng (Ham and egg bun) – Một loại bánh mì hoặc bánh hấp Hồng Kông có chứa một lớp trứnggiăm bông[26]
  • Vỏ bánh hamburger – Một loại bánh mì tròn được thiết kế để kẹp một chiếc hamburger, được phát minh vào năm 1916 bởi một đầu bếp chiên tên là Walter Anderson, người đồng sáng lập White Castle vào năm 1921[27]
  • Bánh mì ngọt Bồ Đào Nha (Hawaiian buns) – Một loại bánh mì cuộn ngọt được người nhập cư Bồ Đào Nha mang đến Hawaii và ngày nay được gọi là Bánh mì Hawaii.[28]
  • Heißwecke – Một loại bánh mì nho khô truyền thống có từ ít nhất là cuối thời Trung cổ trong khu vực nói tiếng Đức của châu Âu
  • Bánh cuộn Hoagie – dùng để chế biến Bánh mì kẹp Ý
  • Bánh cuộn mật ong – Một loại bánh cuộn ngọt có nguồn gốc từ Mỹ, hơi giống với bánh mì cuộn quế, phổ biến ở phía đông nam Hoa Kỳ
  • Bánh thập tự nóng (Hot cross bun) – Một loại bánh mì có gia vị ngọt, thường được làm bằng trái cây nhưng cũng có các loại khác như táo-quế hoặc siro phong và việt quất, được đánh dấu bằng một chữ thập trên đỉnh, theo truyền thống được ăn vào Thứ Sáu Tuần ThánhVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Úc, New Zealand, Nam Phi, và Canada, nhưng hiện nay phổ biến quanh năm.[29]
  • Bánh mì kẹp xúc xích (Hot dog bun) – Một loại bánh mì dài, mềm, có hình dạng đặc biệt để chứa hot dog (xúc xích)
  • Houska
  • Huffkin – bánh cuộn kiểu Kentish với một vết lõm ở giữa
  • Bánh mì kem đường (Iced bun) – Một loại bánh mì cuộn được làm theo công thức ngọt với một lớp đường phủ trên mặt
  • Bánh cuộn kiểu Ý (Italian roll) hoặc Bánh mì kẹp Ý (hoagieroll, long roll hoặc steak roll) – bánh cuộn dài, hẹp với phần bên trong thoáng, khô và lớp vỏ giòn.
  • Bánh mì Kaiser – bánh cuộn tròn, giòn, thường phủ hạt anh túc hoặc hạt vừng, được làm bằng cách gấp các góc của một hình vuông vào trong sao cho các điểm của chúng gặp nhau.
  • Krachel – Bánh mì Ma-rốc (Qrashel)
  • Kummelweck – bánh mì Kaiser hoặc bulkie roll được phủ một hỗn hợp muối kosher và hạt carum. Loại bánh cuộn này là một biến thể khu vực được tìm thấy chủ yếu ở các vùng của Đức và Upstate New York.
  • Llonguet – bánh mì cuộn hình thuôn dài có rãnh ở trên, có nguồn gốc từ các nước Catalan
  • Bánh Luân Đôn – Bánh mì hình vuông hoặc hình chữ nhật làm từ bột men béo ngậy có hương vị nho khô Zante hoặc hạt caraway và phủ kem đường trắng
  • Bánh mì dưa lưới (Melonpan) – Một loại bánh mì ngọt từ Nhật Bản, cũng phổ biến ở Đài Loan, Trung Quốc và Mỹ Latinh; được làm từ bột nhào giàu (enriched dough) phủ một lớp bột bánh quy mỏng giòn
  • Michetta – Một loại bánh mì trắng của Ý có độ nở cao, có thể nhận biết bằng hình dạng phồng lên.
  • Momo – Một loại bánh bánh bao Nam Á, phổ biến khắp tiểu lục địa Ấn Độ và các vùng Himalaya thuộc Nam Á rộng lớn.
  • Manchet – Một loại bánh mì men có chất lượng rất tốt, hoặc một ổ bánh mì tròn nhỏ, dẹt tương tự; đủ nhỏ để cầm trong tay.
  • Nudger – bánh cuộn dài mềm màu trắng hoặc nâu tương tự như bánh cuộn ngón tay (finger roll) lớn, phổ biến ở Liverpool.
  • Bánh cuộn hành tây – bánh cuộn có hương vị hoặc phủ hành tây,[30] đôi khi có hạt anh túc.
  • Bánh mì đế lò – bánh cuộn dẹt, có bột, mềm; một thuật ngữ thường được sử dụng ở Lancashire.
  • Pampushka – một loại bánh mì tròn hoặc doughnut nhỏ, mặn hoặc ngọt, làm từ men, đặc trưng của ẩm thực Ukraina
  • Pan de coco – Bánh cuộn ngọt của Philippines với nhân dừa nạo ngọt (bukayo)
  • Pan de monja – một loại bánh mì cuộn đặc của Philippines với một vết lõm đặc trưng ở giữa.
  • Pan de muerto – Tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Bánh mì của người chết", còn được gọi là Pan de los muertos; một loại bánh cuộn ngọt theo truyền thống được nướng ở Mexico trong những tuần trước Lễ hội người chết (Día de Muertos), được tổ chức vào ngày 1 và 2 tháng 11, một loại bánh mì mềm, ngọt, có hình dạng giống như bánh mì tròn, thường được trang trí bằng những miếng giống như xương
  • Pan de siosa – Bánh mì mềm kiểu pull-apart (có thể xé ra) của Philippines
  • Concha – Bánh ngọt Mexico nổi tiếng với hình dạng giống vỏ sò[31]
  • Pandesal – một loại bánh mì cuộn chủ lực của Philippines
  • Pão de queijo – Bánh mì phô mai Brazil, bánh cuộn phô mai nướng nhỏ, một món ăn nhẹ và ăn sáng phổ biến ở Brazil.
  • Pão francês – bánh mì cuộn phổ biến của Brazil
  • Bánh mì cuộn nhà Parker – bánh cuộn được làm bằng cách ấn dẹt tâm của một viên bột bằng cây cán bột để nó có hình bầu dục và sau đó gấp đôi hình bầu dục lại. Chúng được làm bằng sữa và nói chung khá béo ngậy, mềm, hơi ngọt với lớp vỏ giòn.
  • Pastel de Camiguín – Bánh mì mềm Philippines với nhân custard
  • Pav – bánh mì cuộn/bánh mì cuộn ăn tối (dinner roll) mềm của Ấn Độ
  • Pebete – Một loại bánh mì hình bầu dục mềm của Argentina làm từ bột mì với lớp vỏ mỏng màu nâu,[32] giống như một chiếc bánh mì hot dog béo hơn
  • Bánh Penny – Một loại bánh nhỏ hoặc ổ bánh mì có giá một penny cũ vào thời điểm có 240 pence một bảng Anh; đó là một kích thước ổ bánh mì phổ biến ở Anh được quy định bởi Assize of Bread Act năm 1266; kích thước của ổ bánh mì có thể thay đổi tùy thuộc vào chi phí hiện hành của bột mì được sử dụng để nướng bánh;[33] một phiên bản của bài hát đồng dao Cầu London bị sập có câu "build it up with penny loaves" (xây nó lên bằng những ổ bánh mì penny)[34]
  • Pets de sœurs – Một loại bánh mì ngọt của người Canada gốc Pháp, có cấu trúc tương tự như bánh mì cuộn quế.
  • Bánh Piggy – Một loại bánh ngọt Hồng Kông về cơ bản tương đương với baguette của Pháp; được tìm thấy trong các tiệm bánh ở Hồng Kông và tiệm trà; ở Hồng Kông, nó thường được cắt làm đôi và phục vụ với sữa đặc[35]
  • Pinagong
  • Bánh mì dứa – Một loại bánh mì ngọt chủ yếu phổ biến ở Hồng Kông và Ma Cao,[36] mặc dù chúng không hiếm ở các khu phố Tàu trên toàn thế giới;[37] mặc dù nó được gọi là "bánh mì dứa", phiên bản truyền thống không chứa dứa
  • Pistolet
  • Bánh mì kẹp sườn heo (Pork chop bun) – món ăn vặt nổi tiếng và phổ biến ở Ma Cao, "bánh mì piggy" giòn bên ngoài và mềm bên trong; một miếng sườn lợn mới chiên được kẹp vào đó
  • Bánh mì ngọt Bồ Đào Nha (Portuguese sweet bread) – bánh mì ngọt hoặc bánh men giàu (enriched dough) ban đầu được dành riêng cho các dịp lễ hội, nhưng hiện nay được thưởng thức mọi lúc.
  • Putok – còn được gọi là "star bread" (bánh mì ngôi sao)
  • Qrashel – Bánh mì tròn hoặc bánh mì cuộn Ma-rốc làm từ hạt vừng và hạt hồi.
  • Röggelchen – Một loại bánh mì cuộn kép nhỏ làm bằng bột lúa mạch đen.
  • Rožok – Còn được gọi là "Rohlík" (ở Séc) hoặc "Hörncher" (ở Đức) là một loại bánh mì cuộn hình thuôn dài được làm từ một miếng bột hình tam giác cuộn lại.
  • Bánh Rum – đặc sản lịch sử của Washington, D.C, tương tự như bánh mì cuộn quế với lớp kem đường hương vị rượu rum
  • Bánh mì nghệ tây (Saffron bun) – Một loại bánh mì tròn vị ngọt, giàu gia vị, men-lên men, có hương vị nghệ tâyquế hoặc nhục đậu khấu, và chứa nho khô Zante, tương tự như bánh trà
  • Bánh Sally Lunn – Bánh mì men ngọt, mềm giống Brioche, gắn liền với thành phố Bath ở vùng Tây Nam của Anh
  • Bánh mì kẹp xúc xích (Hồng Kông) – Bánh ngọt Hồng Kông, về cơ bản tương đương với lợn trong chăn (Pigs in a blanket), được tìm thấy ở Hồng Kông cũng như trong nhiều tiệm bánh ở các khu phố Tàu ở các nước phương Tây
  • Scotch Morning Roll[38] - Bánh mì cuộn nướng theo mẻ, mềm bên trong, giòn và dai ở trên.
  • Scuffler – bánh mì cuộn hình tam giác thô, theo truyền thống được nướng ở Yorkshire.
  • Semla – Một loại bánh mì cuộn ngọt truyền thống được làm dưới nhiều hình thức khác nhau ở Đan Mạch, Quần đảo Faroe, Iceland, Estonia, Phần Lan, Latvia, Litva, Thụy Điển[39]Na Uy; gắn liền với Mùa Chay và đặc biệt là Thứ Hai và Thứ Ba Xưng Tội; phiên bản lâu đời nhất của semla là một chiếc bánh mì trơn, được ăn trong một bát sữa ấm; trong tiếng Thụy Điển, món này được gọi là hetvägg.
  • Speķrauši
  • Bánh mì cay – Một loại bánh mì ngọt có thêm gia vị; ví dụ phổ biến là bánh thập tự nóng và bánh mì cay của Jamaica
  • Spuccadella
  • Bánh mì dính – Một món tráng miệng hoặc bánh cuộn ngọt ăn sáng thường bao gồm các miếng bột lên men cuộn lại, đôi khi chứa đường nâu hoặc quế, sau đó được nén lại với nhau để tạo thành một ổ bánh phẳng tương ứng với kích thước của khay nướng, chúng đã được tiêu thụ từ thời Trung cổ, vào thời điểm đó quế trở nên nổi bật hơn.[40]
  • Bánh Stottie – ổ bánh mì dày, dẹt, tròn[41] Stotties phổ biến ở Đông Bắc Anh.[41]
  • Sufganiyah – Một loại bánh mì tròn chiên ngập dầu, nhân mứt hoặc custard, và sau đó phủ đường bột. Thường được ăn ở Israel trong dịp Hanukkah.
  • Bánh mì cuộn ngọt, còn gọi là breakfast roll (bánh cuộn ăn sáng) (chủ yếu ở Mỹ) – có thể dùng để chỉ nhiều loại bánh mì ăn sáng hoặc thực phẩm tráng miệng ngọt, lên men bằng men.
  • Bánh cuộn Tahini
  • Bánh trà – Một loại bánh mì ngọt có hoa quả, thường được phục vụ nướng và phết bơ.

Chú thích

  1. 1 2 3 4 Bản mẫu:Oed
  2. 1 2 3 Bản mẫu:Cite Cambridge Dictionaries
  3. Mason, Laura (2014). "Bun". Trong Davidson, Alan; Jaine, Tom (biên tập). The Oxford Companion to Food (ấn bản thứ 3). Oxford: Oxford University Press. ISBN 9780191756276.
  4. Dodge, Jim (2015). "Eggs". Trong Goldstein, Darra (biên tập). The Oxford Companion to Sugar and Sweets. Oxford University Press. tr. 237. ISBN 978-0-19-931339-6.
  5. Rath, Eric C (2015). "Japan". Trong Goldstein, Darra (biên tập). The Oxford Companion to Sugar and Sweets. Oxford UniversityS Press. tr. 371–372. ISBN 978-0-19-931339-6.
  6. Levi, Jane (2015). "Funerals". Trong Goldstein, Darra (biên tập). The Oxford Companion to Sugar and Sweets. Oxford University Press. tr. 289. ISBN 978-0-19-931339-6.
  7. "Baked Beef Buns, "Cha Siu Bao" Style". thewanderingeater.com. ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  8. 1 2 Hsiung, Deh-Ta. Simonds, Nina. Lowe, Jason. [2005]. The food of China: a journey for food lovers. Bay Books. ISBN 978-0-681-02584-4. p24.
  9. "Chinese Bakery". ChinatownConnection.com. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2012.
  10. "Chinatown's Hong Kong Bakery - Grub Street Philadelphia". Blogs.menupages.com. ngày 21 tháng 12 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  11. Chang, Norma (2001). My Students' Favorite Chinese Recipes. The Travelling Gourmet. tr. 28. ISBN 9780961875947. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. ISBN 0961875941
  12. Frances Lorraine Haw-Ang (ngày 25 tháng 8 năm 2010). "Top 10 Siopao in Manila". Spot.ph. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  13. "Salapao – Chinese Steamed Buns". Thaizer.com. ngày 15 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010.
  14. Balinska, Maria (ngày 3 tháng 11 năm 2008). The Bagel: The Surprising History of a Modest Bread (bằng tiếng Anh). Yale University Press. ISBN 978-0-300-14232-7. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2021.
  15. 1 2 "Bun! A Taxonomy of the British Bread Roll". Pellicle (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2024.
  16. Sutton, Henry. "The Bath Bun". Enjoy England. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2010.
  17. Healy, Alison. "Waterford's blaa roll bakers honoured in awards" Lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012 tại Wayback Machine, The Irish Times, Tuesday 18 November 2008.
  18. How the Irish Invented Slang: The Secret Language of the Crossroads (Counterpunch) (Irish Edition)
  19. Kathryn Hawkins The Food of London: A Culinary Tour of Classic British Cuisine, Singapore: Periplus Editions (HK) Ltd, 2002, p.26
  20. Alan Davidson "Bun" in The Oxford Companion to Food Oxford University Press, 1999, p. 114  ISBN 0-19-211579-0
  21. "Finger roll". Cambridge Dictionary. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2023.
  22. CHALMERS, TORI (ngày 31 tháng 1 năm 2017). "Glasgow Food Delicacies You Might Not Have Heard Of". theculturetrip. The Culture Trip Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  23. Newscorpaustralia.com Lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011 tại Wayback Machine
  24. "Using bread improver". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  25. "Best before date of food items is date of expiry". The Indian Express. ngày 1 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  26. "秘製香軟火腿煎蛋包(Chinese)". 頭條日報. hkheadline.com. ngày 24 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2014.
  27. "h2g2 - Hamburgers in History". BBC. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  28. Allen, Kevin (ngày 11 tháng 10 năm 2021). "7 Things You Thought Were From Hawaiʻi—but Aren't!". Hawaii Magazine. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2021.
  29. "BBC News - How did hot cross buns become two a penny?". tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  30. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Heberle 2005
  31. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Popik 2008
  32. RAE - ASALE. "Diccionario de la lengua española - Edición del Tricentenario". Diccionario de la lengua española. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.(bằng tiếng Tây Ban Nha)
  33. Randal W. Oulton. "Penny Loaf Day". Practicallyedible.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013.
  34. "National Institute of Environmental Health Sciences - Kids Pages - London Bridge". Kids.niehs.nih.gov. ngày 15 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013.
  35. "香港茶餐廳10款經典飲食(10)(Chinese)". 香港成報. ngày 9 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  36. "Hong Kong food: 40 dishes we can't live without - 6. 'Pineapple' bun". CNN Travel. ngày 13 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014.
  37. "What Is a Pineapple Bun". wisegeek. Conjecture Corporation. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014.
  38. Phil, Scottish Scran- (ngày 13 tháng 5 năm 2022). "The Perfect Scottish Morning Rolls Recipe". Scottish Scran (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2024.
  39. "Semlor". recepten.se. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016.
  40. Walter, Carole (2007). Great Coffee Cakes, Sticky Buns, Muffins & More. Random House LLC. tr. 183. ISBN 978-0307237552.
  41. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Ashwell Makin 2014
  1. Heberle, M.O. (2005). Polish Cooking. HPBooks. tr. 24. ISBN 978-1-55788-477-0.
  2. Ashwell, H.; Makin, D. (2014). Nourishing: Recipes and Reflections on Recovery. Nottingham Healthcare NHS Trust. tr. 203. ISBN 978-0-904327-15-1.
  3. Popik, Barry (ngày 16 tháng 1 năm 2008). "Texas, The Lone Star State: Conchas (Mexican shell-shaped pastries)". The Big Apple. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2016.