Buồng vang thông tin

Buồng vang thông tin (Echo chamber) được định nghĩa là một môi trường hoặc hệ sinh thái trong đó những người tham gia bắt gặp những niềm tin giúp khuếch đại hoặc củng cố những niềm tin đã có từ trước của họ, bằng sự giao tiếp và lặp đi lặp lại bên trong một hệ thống khép kín và bị cô lập khỏi sự phản bác.[2][3][4]. Đây là khái niệm đặt trong bối cảnh của phương tiện truyền thông tin tức và phương tiện truyền thông xã hội. Các buồng vang thông tin hoạt động bằng cách luân chuyển các quan điểm hiện có mà không chạm trán với các quan điểm trái ngược, có khả năng dẫn đến ba thiên kiến nhận thức gồm sự bỏ qua tương quan (correlation neglect), thiên kiến lựa chọn (selection bias) và thiên kiến xác nhận (Confirmation bias).[5] Các buồng vang thông tin có thể làm gia tăng sự phân cực chính trị, phân cực xã hội cùng chủ nghĩa cực đoan.[6] Trên mạng xã hội, người ta cho rằng các buồng vang làm hạn chế sự tiếp xúc với các góc nhìn đa dạng, đa chiều, đa sắc màu, đồng thời cũng thiên vị và củng cố các câu chuyện kể cùng các hệ tư tưởng được định sẵn.[4][7] Thuật ngữ này là một phép ẩn dụ dựa trên một buồng vọng âm, trong đó âm thanh vang dội trong một không gian rỗng kín. Một thuật ngữ mới nổi khác cho hiệu ứng dội lại và đồng nhất hóa này trong các cộng đồng mạng xã hội trên Internet là chủ nghĩa tân bộ lạc (Neotribalism). Nhiều học giả ghi nhận những tác động mà các buồng vang có thể gây ra đối với lập trường và quan điểm của công dân, và đặc biệt là những hệ lụy của chúng đối với thái độ chính trị và sự tham gia của công dân.[8] Những quan ngại cũng đã được dấy lên rằng việc giảm tiếp xúc với các quan điểm đối lập sẽ ảnh hưởng đến sự tham gia dân chủ.[9] Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác động của các buồng vang yếu hơn so với những gì thường được giả định.[10]
Đại cương Buồng vang thông tin Buồng vang thông tin
Internet đã mở rộng sự đa dạng và số lượng thông tin chính trị có thể tiếp cận. Về mặt tích cực, điều này có thể tạo ra một hình thức tranh luận công khai đa nguyên hơn nhưng về mặt tiêu cực, việc tiếp cận thông tin lớn hơn có thể dẫn đến sự tiếp xúc có chọn lọc đối với các kênh hỗ trợ về mặt ý thức hệ.[6] Trong một "buồng vang" cực đoan, một người cung cấp thông tin sẽ đưa ra một tuyên bố, điều mà nhiều người có cùng chí hướng sau đó sẽ lặp lại, nghe thấy và lặp lại một lần nữa (thường ở một hình thức bị phóng đại hoặc xuyên tạc)[11] cho đến khi hầu hết mọi người cho rằng một biến thể cực đoan nào đó của câu chuyện là sự thật.[12] Hiệu ứng buồng vang xảy ra trực tuyến khi một nhóm người hòa hợp hòa trộn vào nhau và phát triển tầm nhìn hình ống (tunnel vision). Những người tham gia vào các cuộc thảo luận trực tuyến có thể thấy ý kiến của họ liên tục được dội lại cho họ, điều này củng cố hệ thống niềm tin của cá nhân họ do sự tiếp xúc ngày càng giảm đối với ý kiến của những người khác.[13]
Hệ thống niềm tin của cá nhân họ là thứ dẫn đến đỉnh điểm là một thiên kiến xác nhận liên quan đến một loạt các chủ đề. Khi một cá nhân muốn một điều gì đó là sự thật, họ thường sẽ chỉ thu thập những thông tin hỗ trợ cho niềm tin hiện tại của họ và bỏ qua bất kỳ tuyên bố nào họ tìm thấy có nội dung trái ngược hoặc nói tiêu cực về niềm tin của họ.[14] Những cá nhân tham gia vào các buồng vang thường làm như vậy vì họ cảm thấy tự tin hơn rằng ý kiến của mình sẽ dễ dàng được những người khác trong buồng vang chấp nhận hơn.[15] Điều này xảy ra bởi vì Internet đã cung cấp khả năng truy cập vào một phạm vi rộng lớn các thông tin có sẵn một cách dễ dàng. Mọi người đang nhận tin tức trực tuyến nhanh chóng hơn thông qua các nguồn ít mang tính truyền thống hơn, chẳng hạn như Facebook, Google và Twitter. Những nền tảng này cùng nhiều nền tảng xã hội và phương tiện truyền thông trực tuyến khác đã thiết lập các thuật toán được cá nhân hóa nhằm mục đích cung cấp thông tin cụ thể cho các nguồn cấp dữ liệu trực tuyến của cá nhân. Phương pháp tuyển chọn nội dung này đã thay thế chức năng của biên tập viên tin tức truyền thống.[16]
Cơ chế Buồng vang thông tin Buồng vang thông tin
Sự lan truyền thông tin qua trung gian thông qua các mạng lưới trực tuyến gây ra rủi ro về một bong bóng lọc của thiên vị thuật toán (algorithmic filter bubble), dẫn đến những lo ngại liên quan đến việc làm thế nào các tác động của buồng vang trên internet lại thúc đẩy sự chia rẽ trong các tương tác trực tuyến.[17] Các thành viên của một buồng vang không hoàn toàn chịu trách nhiệm về niềm tin của mình. Một khi trở thành một phần của một buồng vang, một cá nhân có thể tuân thủ các thực hành nhận thức luận dường như có thể chấp nhận được và vẫn bị hiểu lầm thêm. Nhiều cá nhân có thể bị mắc kẹt vào các buồng vang do các yếu tố tồn tại ngoài tầm kiểm soát của họ, chẳng hạn như được nuôi dưỡng trong đó.[3] Hơn nữa, chức năng của một buồng vang không kéo theo việc xói mòn mối quan tâm của một thành viên đối với sự thật, nó tập trung vào việc thao túng mức độ đáng tin cậy của họ để các cơ sở và thể chế khác biệt về cơ bản sẽ được coi là những nguồn thẩm quyền hợp lý.[18]
Nghiên cứu về động lực học xã hội của các buồng vang cho thấy rằng bản chất phân mảnh của văn hóa trực tuyến, tầm quan trọng của việc xây dựng bản sắc tập thể và bản chất mang tính lập luận của các cuộc tranh cãi trực tuyến có thể tạo ra các buồng vang nơi những người tham gia gặp phải những niềm tin tự củng cố (Self-reinforcing beliefs).[2] Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng các buồng vang là phương tiện hàng đầu để phát tán thông tin sai lệch, vì những người tham gia lợi dụng những mâu thuẫn để chống lại các đối thủ được nhận thức giữa những cuộc tranh cãi mang tính bản sắc.[2] Vì các buồng vang được xây dựng dựa trên chính trị bản sắc và cảm xúc, chúng có thể góp phần vào việc phân cực chính trị và chủ nghĩa tân bộ lạc.[19] Trong những năm gần đây, các mạng lưới nhận thức luận khép kín ngày càng bị coi là phải chịu trách nhiệm cho kỷ nguyên hậu sự thật và tin giả.[20] Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông thường nhầm lẫn giữa hai khái niệm riêng biệt của nhận thức luận xã hội là buồng vang và bong bóng nhận thức luận (Epistemic bubbles).[18]
Một bong bóng nhận thức luận là một mạng lưới thông tin trong đó các nguồn thông tin quan trọng đã bị loại trừ bằng cách bỏ sót, có lẽ là do vô ý. Nó là một khuôn khổ nhận thức luận khiếm khuyết thiếu sự kết nối chặt chẽ.[21] Các thành viên bên trong các bong bóng nhận thức luận không nhận thức được những lý lẽ và thông tin quan trọng. Mặt khác, một buồng vang là một cấu trúc nhận thức luận trong đó các tiếng nói chủ động bị loại trừ và mất uy tín. Nó không bị thiếu sót về kết nối, thay vào đó nó phụ thuộc vào sự thao túng niềm tin bằng cách làm mất uy tín một cách có phương pháp tất cả các nguồn bên ngoài.[22] Theo nghiên cứu do Đại học Pennsylvania thực hiện, các thành viên của các buồng vang trở nên phụ thuộc vào các nguồn bên trong buồng và có khả năng chống lại bất kỳ nguồn bên ngoài nào.[23] Các buồng vang có tính bền vững, bằng cách tạo ra sự ngờ vực mang tính phủ đầu giữa các thành viên và những người không phải là thành viên, những người trong cuộc sẽ bị cách ly khỏi tính hợp lệ của các bằng chứng phản bác và sẽ tiếp tục củng cố buồng vang dưới dạng một vòng lặp khép kín.[22] Những tiếng nói bên ngoài được lắng nghe, nhưng bị bác bỏ.
Hệ thống gợi ý (Recommender systems) là các hệ thống lọc thông tin được áp dụng trên nhiều nền tảng khác nhau, cung cấp các gợi ý tùy thuộc vào thông tin thu thập được từ người dùng. Nhìn chung, các gợi ý được cung cấp theo ba cách khác nhau: dựa trên nội dung đã được người dùng chọn trước đó, nội dung có tính chất hoặc đặc điểm tương tự với những gì người dùng đã chọn trước đó hoặc kết hợp cả hai.[24] Cả buồng vang và bong bóng lọc đều liên quan đến những cách mà các cá nhân tiếp xúc với nội dung không có ý kiến trái chiều, và trong đàm thoại hàng ngày có thể được sử dụng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, buồng vang đề cập đến hiện tượng tổng thể mà theo đó các cá nhân chỉ tiếp xúc với thông tin từ những người có cùng chí hướng, trong khi bong bóng lọc là kết quả của các thuật toán chọn nội dung dựa trên hành vi trực tuyến trước đó, chẳng hạn như lịch sử tìm kiếm hoặc hoạt động mua sắm trực tuyến.[25] Quả thực, sự kết hợp cụ thể của sự đồng chất và hệ thống gợi ý đã được xác định là những động lực quan trọng để xác định sự xuất hiện của các buồng vang.[26]
Hệ lụy Buồng vang thông tin Buồng vang thông tin

Các cộng đồng xã hội trực tuyến trở nên bị phân mảnh bởi các buồng vang khi những người cùng chí hướng nhóm lại với nhau và các thành viên nghe những lập luận theo một hướng cụ thể mà không có lập luận phản bác nào được giải quyết. Sự phân mảnh này có thể định hình việc tiêu thụ thông tin bằng cách hạn chế sự tiếp xúc với các quan điểm đa dạng và củng cố sự gắn kết với nội dung phù hợp về mặt ý thức hệ. Theo thời gian, các tương tác nhất quán trong các cộng đồng đồng nhất có thể ảnh hưởng đến cách các cá nhân diễn giải các sự kiện chính trị, tiếp cận các quan điểm trái ngược, và đánh giá độ tin cậy của nội dung. Nghiên cứu cho thấy sự tiếp xúc có chọn lọc và sự phân chia về mặt ý thức hệ có thể ảnh hưởng đến sự tham gia chính trị trong các xã hội dân chủ.[27][28]
Ở các nền tảng trực tuyến nhất định, chẳng hạn như Twitter, các buồng vang có nhiều khả năng được tìm thấy hơn khi chủ đề mang tính chính trị nhiều hơn so với các chủ đề được coi là trung lập hơn.[29] Cộng đồng mạng lưới xã hội (mạng xã hội) là những cộng đồng được coi là một trong những nơi củng cố những lời đồn đại mạnh mẽ nhất[30] do sự tin tưởng vào bằng chứng được cung cấp bởi nhóm xã hội và những người cùng trang lứa của chính họ, vượt lên trên thông tin được lưu truyền trên tin tức.[31][32] Thêm vào đó, việc giảm bớt sự sợ hãi mà người dùng có thể tận hưởng được thông qua việc thể hiện quan điểm của họ trên mạng internet thay vì gặp mặt trực tiếp cho phép có sự tham gia sâu hơn cùng với sự đồng tình của những người cùng trang lứa với họ.[33] Điều này có thể tạo ra những rào cản đáng kể đối với diễn ngôn phản biện trong một phương tiện truyền thông trực tuyến. Việc thảo luận và chia sẻ trên mạng xã hội có khả năng bị ảnh hưởng khi mọi người có một cơ sở thông tin hẹp và không vươn ra ngoài mạng lưới của họ.
Về cơ bản, bong bóng lọc có thể bóp méo thực tại của một người theo những cách được cho là không thể thay đổi bởi các nguồn bên ngoài.[34] Trong các môi trường thông tin bị phân cực cao, những cá nhân phản ứng mạnh với thông tin được chia sẻ trên mạng xã hội có nhiều khả năng tạo ra môi trường thông tin đồng nhất về mặt chính trị và trải nghiệm sự sụt giảm trong việc truyền bá thông tin hơn so với những người ít phản ứng hơn, nhằm tránh phản ứng thái quá với các tin tức mà họ cho là không quan trọng. Điều này làm cho những cá nhân này có nhiều khả năng phát triển các ý kiến cực đoan và đánh giá quá cao mức độ mà họ được thông tin.[35] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thông tin sai lệch có thể trở nên lan truyền hơn do kết quả của các buồng vang, vì các buồng vang cung cấp một hạt giống ban đầu có thể thúc đẩy sự khuếch tán lan truyền rộng lớn hơn.[36] Nhiều cộng đồng ngoại tuyến cũng bị tách biệt bởi những niềm tin chính trị và quan điểm văn hóa. Hiệu ứng buồng vang có thể ngăn cản các cá nhân nhận thấy những thay đổi trong ngôn ngữ và phong trào văn hóa liên quan đến các nhóm khác với nhóm của họ.
Các buồng vang trực tuyến đôi khi có thể ảnh hưởng đến sự sẵn sàng của một cá nhân trong việc tham gia vào các cuộc thảo luận tương tự ở ngoại tuyến. Một nghiên cứu năm 2016 cho thấy "Những người dùng Twitter cảm thấy khán giả của họ trên Twitter đồng tình với ý kiến của họ thì sẽ sẵn sàng lên tiếng về vấn đề đó tại nơi làm việc hơn".[15] Sự phân cực nhóm có thể xảy ra do sự phát triển của các buồng vang. Sự thiếu vắng các quan điểm bên ngoài và sự hiện diện của phần lớn các cá nhân chia sẻ cùng một ý kiến hoặc câu chuyện kể có thể dẫn đến một tập hợp niềm tin cực đoan hơn. Sự phân cực nhóm cũng có thể hỗ trợ luồng tin giả và thông tin sai lệch thông qua các nền tảng mạng xã hội.[37] Điều này có thể mở rộng đến các tương tác ngoại tuyến, với dữ liệu tiết lộ rằng các tương tác ngoại tuyến có thể phân cực như các tương tác trực tuyến (Twitter), có thể cho là do các cuộc tranh luận được hỗ trợ bởi mạng xã hội bị phân mảnh cao độ.[38] Kể từ khi tạo ra internet, các học giả đã tò mò muốn thấy những thay đổi trong giao tiếp chính trị.[39] Do những thay đổi mới trong công nghệ thông tin và cách nó được quản lý, vẫn chưa rõ làm thế nào những quan điểm đối lập có thể đạt được tiếng nói chung trong một nền dân chủ.[40] Các tác động được nhìn thấy từ hiệu ứng buồng vang phần lớn được trích dẫn là xảy ra trong chính trị, chẳng hạn như Twitter[41] và Facebook trong suốt cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 ở Hoa Kỳ.[42] Một số người tin rằng các buồng vang đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016.[43]
Biện pháp Buồng vang thông tin Buồng vang thông tin
Một số công ty cũng đã có những nỗ lực trong việc chống lại các tác động của buồng vang trên một phương pháp tiếp cận thuật toán. Facebook đã thực hiện đối với trang "Thịnh hành" (Trending), vốn là một nguồn tin tức tại chỗ dành cho người dùng của nó. Facebook đã sửa đổi trang "Thịnh hành" của họ bằng cách chuyển từ việc hiển thị một nguồn tin tức duy nhất sang nhiều nguồn tin tức cho một chủ đề hoặc sự kiện.[44] Mục đích dự kiến của việc này là mở rộng bề rộng của các nguồn tin tức cho bất kỳ một tiêu đề tin tức nào đó, và từ đó cho người đọc tiếp xúc với nhiều quan điểm đa dạng. Có những công ty khởi nghiệp xây dựng các ứng dụng với sứ mệnh khuyến khích người dùng mở các buồng vang của họ, chẳng hạn như UnFound.news.[45] Một ví dụ khác là tính năng thử nghiệm beta trên BuzzFeed News được gọi là "Bên ngoài Bong bóng của bạn" (Outside Your Bubble),[46] giúp thêm một mô-đun vào cuối các bài báo của BuzzFeed News để hiển thị phản ứng từ nhiều nền tảng khác nhau như Twitter, Facebook và Reddit. Khái niệm này nhằm mục đích mang lại sự minh bạch và ngăn chặn các cuộc trò chuyện bị sai lệch, đa dạng hóa các quan điểm mà người đọc của họ được tiếp xúc.[47]
Chú thích Buồng vang thông tin Buồng vang thông tin
- ↑ "echo-chamber noun - Definition, pictures, pronunciation and usage notes | Oxford Advanced Learner's Dictionary at OxfordLearnersDictionaries.com". www.oxfordlearnersdictionaries.com. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2020.
- 1 2 3 Diaz Ruiz, Carlos; Nilsson, Tomas (2023). "Disinformation and Echo Chambers: How Disinformation Circulates in Social Media Through Identity-Driven Controversies". Journal of Public Policy & Marketing. 4 (1): 18–35. doi:10.1177/07439156221103852. S2CID 248934562.
- 1 2 Nguyen, C. Thi (tháng 6 năm 2020). "Echo Chambers and Epistemic Bubbles". Episteme (bằng tiếng Anh). 17 (2): 141–161. doi:10.1017/epi.2018.32. ISSN 1742-3600. S2CID 171520109.
- 1 2 Cinelli, Matteo; De Francisci Morales, Gianmarco; Galeazzi, Alessandro; Quattrociocchi, Walter; Starnini, Michele (ngày 23 tháng 2 năm 2021). "The echo chamber effect on social media". Proceedings of the National Academy of Sciences. 118 (9). Bibcode:2021PNAS..11823301C. doi:10.1073/pnas.2023301118. ISSN 0027-8424. PMC 7936330. PMID 33622786.
- ↑ Levy, Gilat; Razin, Ronny (2019). "Echo Chambers and Their Effects on Economic and Political Outcomes". Annual Review of Economics. Quyển 11. tr. 303–328. doi:10.1146/annurev-economics-080218-030343.
- 1 2 Barberá, Pablo, et al. (21 August 2015). "Tweeting from left to right: Is online political communication more than an echo chamber?". Psychological Science. 26.10: 1531-1542. doi:10.1177/0956797615594620
- ↑ Currin, Christopher Brian; Vera, Sebastián Vallejo; Khaledi-Nasab, Ali (ngày 2 tháng 6 năm 2022). "Depolarization of echo chambers by random dynamical nudge". Scientific Reports (bằng tiếng Anh). 12 (1): 9234. arXiv:2101.04079. Bibcode:2022NatSR..12.9234C. doi:10.1038/s41598-022-12494-w. ISSN 2045-2322. PMC 9163087. PMID 35654942.
- ↑ Unver, H. Akin (2017). "Politics of Automation, Attention, and Engagement". Journal of International Affairs. 71 (1): 127–146. ISSN 0022-197X. JSTOR 26494368.
- ↑ Sunstein, Cass R. (ngày 10 tháng 4 năm 2017). #Republic: Divided Democracy in the Age of Social Media (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. doi:10.1515/9781400884711/html. ISBN 978-1-4008-8471-1.
- ↑ Gentzkow, Matthew; Shapiro, Jesse M. (tháng 11 năm 2011). "Ideological Segregation Online and Offline *" (PDF). The Quarterly Journal of Economics. 126 (4): 1799–1839. doi:10.1093/qje/qjr044. hdl:1811/52901. ISSN 0033-5533. S2CID 9303073.
- ↑ Parry, Robert (ngày 28 tháng 12 năm 2006). "The GOP's $3 Bn Propaganda Organ". The Baltimore Chronicle. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2008.
- ↑ "SourceWatch entry on media "Echo Chamber" effect". SourceWatch. ngày 22 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2008.
- ↑ Mutz, Diana C. (2006). Hearing the Other Side. Cambridge: Cambridge University Press. doi:10.1017/cbo9780511617201. ISBN 978-0-511-61720-1.
- ↑ Heshmat, Shahram (ngày 23 tháng 4 năm 2015). "What Is Confirmation Bias?". Psychology Today (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2020.
- 1 2 Hampton, Keith N.; Shin, Inyoung; Lu, Weixu (ngày 3 tháng 7 năm 2017). "Social media and political discussion: when online presence silences offline conversation". Information, Communication & Society. 20 (7): 1090–1107. doi:10.1080/1369118x.2016.1218526. ISSN 1369-118X.
- ↑ Hosanagar, Kartik (ngày 25 tháng 11 năm 2016). "Blame the Echo Chamber on Facebook. But Blame Yourself, Too". Wired. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Ulen, Thomas S. (2001). "Democracy and the Internet: Cass R. Sunstein, Republic.Com. Princeton, NJ. Princeton University Press. Pp. 224. 2001". SSRN Working Paper Series. doi:10.2139/ssrn.286293. ISSN 1556-5068.
- 1 2 "The Reason Your Feed Became An Echo Chamber — And What To Do About It". NPR.org (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Törnberg, A.; Törnberg, P. (2024). Intimate Communities of Hate: Why Social Media Fuels Far-Right Extremism. Taylor & Francis. ISBN 978-1-040-00493-7.
- ↑ Robson, David (ngày 17 tháng 4 năm 2018). "The myth of the online echo chamber". www.bbc.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Magnani, Lorenzo; Bertolotti, Tommaso (2011). "Cognitive Bubbles and Firewalls: Epistemic Immunizations in Human Reasoning". Proceedings of the Annual Meeting of the Cognitive Science Society (bằng tiếng Anh). 33 (33). ISSN 1069-7977.
- 1 2 "'Echo chambers,' polarization, and the increasing tension between the (social) reality of expertise and the (cultural) suspicion of authority". uva.theopenscholar.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Echo Chamber: Rush Limbaugh and the Conservative Media Establishment". Oxford University Press & Annenberg School for Communication. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Geschke, Daniel; Lorenz, Jan; Holtz, Peter (2019). "The triple-filter bubble: Using agent-based modelling to test a meta-theoretical framework for the emergence of filter bubbles and echo chambers". British Journal of Social Psychology. 58 (1): 129–149. doi:10.1111/bjso.12286. PMC 6585863. PMID 30311947. S2CID 52965994.
- ↑ Bakshy, Eytan; Messing, Solomon; Adamic, Lada A. (ngày 5 tháng 6 năm 2015). "Exposure to ideologically diverse news and opinion on Facebook". Science (bằng tiếng Anh). 348 (6239): 1130–1132. Bibcode:2015Sci...348.1130B. doi:10.1126/science.aaa1160. ISSN 0036-8075. PMID 25953820. S2CID 206632821.
- ↑ Cinus, Federico; Minici, Marco; Monti, Corrado; Bonchi, Francesco (ngày 9 tháng 7 năm 2022). The effect of people recommenders on echo chambers and polarization. International AAAI Conference on Web and Social Media (bằng tiếng Anh). Quyển 16. tr. 90–101.
- ↑ Gentzkow, Matthew; Shapiro, Jesse M. (tháng 11 năm 2011). "Ideological Segregation Online and Offline *". The Quarterly Journal of Economics (bằng tiếng Anh). 126 (4): 1799–1839. doi:10.1093/qje/qjr044. ISSN 0033-5533.
- ↑ Mutz, Diana C. (2006). Hearing the Other Side: Deliberative versus Participatory Democracy. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-84750-6.
- ↑ Barberá, Pablo; Jost, John T.; Nagler, Jonathan; Tucker, Joshua A.; Bonneau, Richard (ngày 21 tháng 8 năm 2015). "Tweeting From Left to Right". Psychological Science (bằng tiếng Anh). 26 (10): 1531–1542. doi:10.1177/0956797615594620. ISSN 0956-7976. PMID 26297377. S2CID 4649581.
- ↑ DiFonzo, Nicholas (ngày 11 tháng 9 năm 2008). The Watercooler Effect: An Indispensable Guide to Understanding and Harnessing the Power of Rumors. Penguin Books. ISBN 978-1-4406-3863-3. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
- ↑ DiFonzo, Nicholas (ngày 21 tháng 4 năm 2011). "The Echo-Chamber Effect". The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Difonzo, Nicolas (ngày 22 tháng 4 năm 2011). "The Echo Chamber Effect". The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2017.
- ↑ Walter, Stefanie; Brüggemann, Michael; Engesser, Sven (ngày 21 tháng 12 năm 2017). "Echo Chambers of Denial: Explaining User Comments on Climate Change". Environmental Communication. 12 (2): 204–217. doi:10.1080/17524032.2017.1394893. ISSN 1752-4032. S2CID 148918776.
- ↑ Parrish, Shane (ngày 31 tháng 7 năm 2017). "How Filter Bubbles Distort Reality: Everything You Need to Know". Farnam Street.
- ↑ Tokita, Christopher; Guess, Andrew; Tarnita, Corina (2021). "Polarized information ecosystems can reorganize social networks via information cascades". PNAS. Quyển 118 số 50. Bibcode:2021PNAS..11802147T. doi:10.1073/pnas.2102147118. PMC 8685718. PMID 34876511.
- ↑ Törnberg, P. (2018). "Echo chambers and viral misinformation: Modeling fake news as complex contagion". PLOS ONE. Quyển 13 số 9. Bibcode:2018PLoSO..1303958T. doi:10.1371/journal.pone.0203958. PMC 6147442. PMID 30235239.
- ↑ Sunstein, Cass R. (tháng 6 năm 2002). "The Law of Group Polarization". Journal of Political Philosophy. 10 (2): 175–195. doi:10.1111/1467-9760.00148. ISSN 0963-8016.
- ↑ Gentzkow, Matthew; Shapiro, Jesse M. (tháng 11 năm 2011). "Ideological Segregation Online and Offline *". The Quarterly Journal of Economics. 126 (4): 1799–1839. doi:10.1093/qje/qjr044. hdl:1811/52901. ISSN 0033-5533.
- ↑ NEUMAN, W. RUSSELL (tháng 7 năm 1996). "Political Communications Infrastructure". The Annals of the American Academy of Political and Social Science. 546 (1): 9–21. doi:10.1177/0002716296546001002. ISSN 0002-7162. S2CID 154442316.
- ↑ Mutz, Diana C. (tháng 3 năm 2001). "Facilitating Communication across Lines of Political Difference: The Role of Mass Media". American Political Science Review. 95 (1): 97–114. doi:10.1017/s0003055401000223. ISSN 0003-0554. S2CID 6185156.
- ↑ Colleoni, Elanor; Rozza, Alessandro; Arvidsson, Adam (tháng 4 năm 2014). "Echo Chamber or Public Sphere? Predicting Political Orientation and Measuring Political Homophily in Twitter Using Big Data: Political Homophily on Twitter". Journal of Communication (bằng tiếng Anh). 64 (2): 317–332. doi:10.1111/jcom.12084. hdl:10281/66011. ISSN 0021-9916.
- ↑ El-Bermawy, Mostafa (ngày 18 tháng 11 năm 2016). "Your Filter Bubble is Destroying Democracy". Wired.
- ↑ Hooton, Christopher (ngày 10 tháng 11 năm 2016). "Your social media echo chamber is the reason Donald Trump ended up being voted President". The Independent. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.
- ↑ "Continuing Our Updates to Trending". About Facebook (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Echo chambers, algorithms and start-ups". LiveMint. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Outside Your Bubble". BuzzFeed (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018.
- ↑ Smith, Ben (ngày 17 tháng 2 năm 2017). "Helping You See Outside Your Bubble". BuzzFeed.
- Truyền thông
- Kiểm duyệt
- Thao túng