Bước tới nội dung

Boris Gorbatov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Boris Gorbatov
Sinh(1908-07-15)15 tháng 7, 1908
Petromaryevsky, Đế quốc Nga
(nay là Pervomaisk, tỉnh Luhansk, Ukraina)
Mất20 tháng 1, 1954(1954-01-20) (45 tuổi)
Moskva, Liên Xô
Quốc tịchLiên Xô
Dân tộcDo Thái
Nghề nghiệpNhà văn, nhà báo, phóng viên chiến tranh, nhà biên kịch
Tổ chứcBáo Pravda
Đảng phái chính trịĐảng Cộng sản Liên Xô (từ 1930)
Giải thưởngGiải thưởng Stalin hạng Nhì (1946)
Giải thưởng Stalin hạng Nhì (1952)

Boris Leontyevich Gorbatov (tiếng Nga: Бори́с Лео́нтьевич Горба́тов; 15 tháng 7 năm 1908 - 20 tháng 1 năm 1954) là một nhà văn, nhà biên kịch, phóng viên chiến tranh và nhà báo người Liên Xô. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1930 và đại biểu Xô viết Tối cao Nga.[1]

Tiểu sử Boris Gorbatov

Boris Gorbatov sinh năm 1908 tại mỏ Petromaryevsky (nay là Pervomaisk, vùng Luhansk, Ukraine) trong một gia đình gốc Do Thái[2]. Bố ông là chuyên gia trang điểm sân khấu, còn ông nội làm công việc dán áp phích và mở hiệu cắt tóc[3]. Gorbatov tham gia tổ chức nhóm thiếu nhi cộng sản tại Ukraine vào năm 12 tuổi và gia nhập Komsomol trước năm 14 tuổi[4]. Thời còn là thanh thiếu niên, ông làm công nhân học việc tại nhà máy Kramatorsk ở vùng Donbas[4]. Năm 1922, ông viết truyện ngắn "Satyye i golodnye" (Kẻ no và người đói), đăng trên tờ báo Vsesoyuznaya kochegarka[1]. Năm 1924, ông là một trong những người thành lập Hiệp hội các nhà văn vô sản Donbas mang tên "Zaboy"[4]. Năm 1926, ông chuyển đến Moscow và làm việc tại ban lãnh đạo Hiệp hội các nhà văn vô sản toàn Nga (VAPP). Năm 1928, tác phẩm "Yacheyka" (Chi bộ) với chủ đề thanh niên Komsomol vùng Donbas khiến ông được độc giả biết đến và tái bản nhiều lần[4].

Hoạt động Boris Gorbatov

Từ năm 1930, Gorbatov làm phóng viên cho báo Pravda[1]. Ông xuất hiện tại nhiều công trường, nhà máy và hầm mỏ tại khắp Liên Xô để viết ký sự[4]. Trong giai đoạn 1935-1936, ông tham gia các chuyến bay thám hiểm Bắc Cực và viết tập truyện "Obyknovennaya Arktika" (Bắc Cực bình thường) năm 1940[4].

Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, ông là phóng viên chiến tranh, quân hàm trung tá. Ông xuất hiện tại nhiều chiến trường và lễ ký Văn kiện Đầu hàng của Đức Quốc xã tại Berlin[4]. Các bài viết của ông trong thời kỳ này gồm tập Pisma ktovarishchu (Thư gửi đồng chí) và truyện vừa Nepokorennyye (Những người không gục ngã - 1943, chuyển thể thành phim vào năm 1945)[1].

Giải thưởng Boris Gorbatov

Ông hai lần nhận Giải thưởng Stalin hạng Nhì: lần đầu vào năm 1946 cho truyện vừa Nepokorennyye và lần thứ hai vào năm 1952 cho kịch bản phim Donetskiye shakhtyory (Công nhân mỏ vùng Donetsk)[5]

Đánh giá Boris Gorbatov

Đối với phong cách của ông, các nghiên cứu văn học chỉ ra rằng tác phẩm của ông "mang đậm tính lãng mạn cách mạng, kết hợp giữa sự chính xác thực tế và cảm xúc mãnh liệt"[1]. Trong các tác phẩm thời chiến tranh, ông thường sử dụng các "ẩn dụ thần thoại hóa, so sánh người lính Xô viết với những người khổng lồ và kẻ thù với các loài thú dữ"[6]. Ông là một trong những nhà văn người Liên Xô đầu tiên "đề cập sâu sắc đến số phận của người Do Thái dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc xã"[6]. Cuốn tiểu thuyết "Nash gorod" (Thành phố của chúng ta - 1930) của ông từng bị "phê bình gay gắt" và bị "cáo buộc là Trotskyism", "xuyên tạc thực tế và bôi nhọ các cơ quan đảng"[3]. Tác phẩm này sau đó đã bị Chính phủ Liên Xô không cho tái bản trong gần 70 năm[3]. Kể từ thập niên 1970, các nghiên cứu văn học về văn xuôi của Gorbatov tại Liên Xô trở nên "thưa thớt hơn"[6]. Một số nhà phê bình cho rằng giá trị các cuốn sách của ông đôi khi "bị xem nhẹ" do chúng được xếp vào nhóm văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa vốn "chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các biến động chính trị"[6].

Vụ việc Boris Gorbatov

Anh trai của ông, Vladimir, một cán bộ Komsomol, đã bị bắt vào năm 1937[7]. Người vợ đầu tiên của ông, Alexandra Efremova, cũng từng là tù chính trị. Người vợ thứ hai của ông, nữ diễn viên Tatiana Okunevskaya, bị bắt vào cuối những năm 1940[7]. Trong hồi ký của Galina Serebryakova, bà cho biết Gorbatov từng bị cơ quan điều tra "nghi ngờ có liên hệ với các phần tử phản cách mạng" sau khi ông hỗ trợ tài chính cho bà khi bà đang bị lưu vong tại Semipalatinsk. Tuy nhiên, sau sự việc, ông không bị bắt.[8]

Qua đời Boris Gorbatov

Gorbatov kết hôn ba lần: người vợ đầu là Alexandra Efremova; vợ thứ hai là Tatiana Okunevskaya; và người vợ cuối cùng là Nina Arkhipova. Ông qua đời vì lý do bị tai biến mạch máu não vào ngày 20 tháng 1 năm 1954 (45 tuổi) và chôn cất tại Nghĩa trang Novodevichy ở Moscow[9].

Tác phẩm Boris Gorbatov

  • Yacheyka (Chi bộ - 1928)
  • Nash gorod (Thành phố của chúng ta - 1930)
  • Moye pokoleniye (Thế hệ tôi - 1933)
  • Nepokorennyye (Những người không gục ngã - 1943)
  • Donbass (Tiểu thuyết chưa hoàn thành - 1951)
  • Odna noch (Một đêm - kịch, xuất bản sau khi mất năm 1956)

...

Tham khảo Boris Gorbatov

  1. 1 2 3 4 5 "Philatelia.Ru: Художественная литература / Сюжеты / Горбатов Борис". www.philatelia.ru. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
  2. "WebCite query result". www.webcitation.org. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026. {{Chú thích web}}: Chú thích có tiêu đề chung (trợ giúp)
  3. 1 2 3 "Борис Горбатов - 5 Июня 2012 - Юзовка-Сталино-Донецк: страницы еврейской истории". donjetsk-jewish.ucoz.ru. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 Федько, Алексей (ngày 23 tháng 2 năm 2009). "Горбатов Борис Леонтьевич". Донецк: история, события, факты (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
  5. "Новодевичье кладбище. Горбатов Борис Леонтьевич (1908-1954)". nd.m-necropol.ru. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
  6. 1 2 3 4 Serdechnyi E.V., “Svoeobrazie stilisticheskikh sredstv sozdaniya obraza v voennykh rasskazakh Borisa Gorbatova”, Tạp chí Yazyk - Slovesnost' - Kul'tura, số 1-2, 2016.
  7. 1 2 "РГАЛИ - единица хранения". www.rgali.ru. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
  8. Serebryakova G., "Странствия по минувшим годам" (truyện ngắn), tr. 145-147, NXB Nhà văn Xô viết, 1965, Moscow.
  9. "Поиск захоронений на территории г. Москва – Результаты поиска – E-poisk". epoisk.ru. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.