Bước tới nội dung

Beatriz của Bồ Đào Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Beatriz của Bồ Đào Nha
Beatriz de Portugal
Tượng Vương hậu Beatriz, Tu viện Sancti Spiritus tại Toro, Tây Ban Nha
Vương hậu CastillaLeón
Tại vị17 tháng 5 năm 13839 tháng 10 năm 1390
Tiền nhiệmAlionor của Aragón
Kế nhiệmCatherine của Lancaster
Nữ vương Bồ Đào Nha
(tranh chấp)
Tại vị13831385[1][2][3][4][5][6]
Nhiếp chínhLeonor Teles
Tiền nhiệmFernando I Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệmJoão I Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Sinh7–(1373-02-13)13 tháng 2 năm 1373[7][8]
Coimbra, Bồ Đào Nha
Mấtk.1420
(46 hoặc 47 tuổi)
Castilla
An tángTu viện Sancti Spiritus, Toro, Vương quốc Castilla
Phối ngẫu
Juan I của Castilla Vua hoặc hoàng đế
(cưới 1383mất 1390)
Vương tộcBorgonha
Thân phụFernando I của Bồ Đào Nha Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫuLeonor Teles

Beatriz của Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: Beatriz de Portugal, phát âm [bi.ɐˈtɾiʃ]; 7 –13 tháng 2 năm 1373 – k.1420) là người con hợp pháp của Fernando I của Bồ Đào Nha và Leonor Teles, và là Vương hậu Castilla thông qua cuộc hôn nhân với Juan I của Castilla. Sau cái chết của Fernando I mà không có người thừa kế nam hợp pháp, Beatriz đã tuyên bố quyền thừa kế ngai vàng Bồ Đào Nha, nhưng bị tước quyền vào tay người chú, người về sau trở thành João I của Bồ Đào Nha và sáng lập nên Nhà Avis.

Trong những năm đầu đời, Beatriz là một quân cờ trong những biến động chính trị của các liên minh ngoại giao của Fernando I, người đã liên tiếp dàn xếp các cuộc hôn nhân cho con gái. Cuối cùng, Beatriz kết hôn với Juan I của Castilla và trở thành Vương hậu Castilla. Sau khi Fernando I qua đời, Beatriz được tuyên bố là Nữ vương của Bồ Đào Nha và được mẹ là Leonor Teles giữ quyền nhiếp chính thay mặt con gái. Sự phản đối chế độ nhiếp chính, nỗi sợ về sự thống trị của Castilla và nguy cơ mất độc lập của Bồ Đào Nha[9] đã dẫn đến một cuộc nổi dậy của quần chúng và nội chiến[10] giữa người em trai ngoài giá thú của Fernando I là João xứ Avis, người đã giành quyền kiểm soát chế độ nhiếp chính từ tay Thái hậu, và những người ủng hộ Beatriz cùng chồng là Juan I của Castilla, người tuyên bố quyền thừa kế ngai vàng Bồ Đào Nha theo quyền của vợ (jure uxoris). Năm 1385, João xứ Avis được tuyên bố là Quốc vương Bồ Đào Nha, và Juan I của Castilla bị đánh bại hoàn toàn trong Trận Aljubarrota, chấm dứt mọi hy vọng của Beatriz và Juan I trong việc khẳng định quyền thừa kế ngai vàng Bồ Đào Nha.

Từ thời điểm đó, Beatriz đặc biệt quan tâm đến phúc lợi của những người Bồ Đào Nha lưu vong tại Castilla, những người đã trung thành với yêu sách của bà đối với ngai vàng Bồ Đào Nha. Sau cái chết của Juan I, Beatriz bị giáng xuống vị trí thấp hơn tại triều đình Castilla. Tuy nhiên, xung đột giữa các triều đại tiếp tục là một thách thức đối với việc bình thường hóa quan hệ giữa hai vương quốc. Từ thập kỷ thứ hai của thế kỷ 15 trở đi, các tài liệu ghi chép về Beatriz trở nên khan hiếm, cho đến khi bà hoàn toàn biến mất vào khoảng năm 1420.

Cuộc đời

Những năm đầu đời và hứa hôn

Fernando I của Bồ Đào Nha (1367–1383). Việc Fernando bảo vệ tính hợp pháp của Pedro I của Castilla đã dẫn đến ba cuộc chiến tranh chống lại triều đại Trastámara của Castilla.

Beatriz của Bồ Đào Nha sinh ra tại Coimbra, trong thời gian quân đội Castilla bao vây thành phố trong Chiến tranh Fernando lần thứ hai. Cuộc bao vây được dỡ bỏ và Enrique II của Castilla tiếp tục đến Santarém rồi đến Lisboa. Trong cuộc bao vây Lisboa, Hồng y đặc sứ Guido xứ Bologna đã đạt được thỏa thuận giữa các quốc vương của Castilla và Bồ Đào Nha, Hòa ước Santarém. Theo hiệp ước, Fernando I của Bồ Đào Nha sẽ từ bỏ phái Petrist, yêu sách về tính hợp pháp của triều đại bắt nguồn từ vụ ám sát Pedro I của Castilla năm 1369. Hai cuộc hôn nhân liền được cử hành giữa hai vương thất để củng cố nền hòa bình:[11] giữa Sancho Alfonso, Bá tước thứ 1 xứ Alburquerque, em trai của Enrique, và Beatriz, em gái cùng cha khác mẹ của Fernando, và giữa Alfonso Enríquez, con trai ruột của Enrique, và con gái ngoài giá thú của Fernando là Isabel. Ngoài ra, một hôn ước được sắp đặt giữa Beatriz, con gái mới sinh của Fernando I của Bồ Đào Nha, và Fadrique, Công tước xứ Benavente, một người con ruột khác của Enrique II.[12]

Quốc hội Leiria năm 1376 đã cam kết ủng hộ Beatriz với tư cách người thừa kế ngai vàng,[13] chấp nhận hôn ước của vương nữ với Công tước xứ Benavente. Lễ đính hôn được cử hành tại Leiria vào ngày 24 tháng 11 năm 1376, và được Enrique II chấp thuận vào ngày 3 tháng 1 năm 1377.[14]

Di chúc của Fernando I năm 1378 đã phê chuẩn tất cả các thỏa thuận liên quan đến Beatriz, đồng thời bổ sung điều khoản rằng trong trường hợp Beatriz hoặc bất kỳ hậu duệ nào không còn, các anh em cùng cha khác mẹ của Vua Bồ Đào Nha, tức những người con của Inês de Castro (João, Dinis và Beatriz) sẽ bị tước quyền thừa kế. Ngai vàng của Bồ Đào Nha sẽ được chuyển cho bất kỳ người chị em giả định của Beatriz, và sau đó là Công tước Fadrique xứ Benavente. Để đảm bảo quyền kế vị cho con gái, Vương hậu Leonor Teles đã lập ra âm mưu chống lại João của Bồ Đào Nha, trong đó chính chị gái của Vương hậu là María Teles, vợ của João bị buộc tội ngoại tình và bị chồng xử tử vào tháng 6 năm 1379.[15] Mặc dù João sau đó được Nhà vua ân xá, nhưng ông vẫn quyết định chạy trốn đến Castilla vì lo sợ trước gia tộc Teles.[16]

Vào tháng 5 năm 1379, Enrique II của Castilla qua đời và con trai ông, Juan I, lên kế vị. Khi sự kiện trên được biết đến tại triều đình Bồ Đào Nha, các cuộc đàm phán bắt đầu về hôn ước giữa Beatriz và con trai cả của vị vua mới là Enrique III tương lai của Castilla, nhằm chống lại bất kỳ tham vọng lên ngôi của João của Bồ Đào Nha với sự hỗ trợ về chính trị và quân sự của Castilla.[17] Thỏa thuận ngày 21 tháng 5 năm 1380 quy định rằng lễ cưới sẽ được cử hành khi vương tử tròn 14 tuổi. Thỏa thuận cũng thiết lập quyền kế vị, rằng nếu Beatriz qua đời trước khi kết hôn, và Fernando I không còn người con hợp pháp nào, ngai vàng sẽ được trao cho Juan I của Castilla. Nhưng nếu vương nữ qua đời sau khi kết hôn và không có con cháu, ngai vàng sẽ thuộc về người chồng góa của vương nữ. Nếu Enrique qua đời trước khi có con với Beatriz, vương nữ vẫn sẽ là Nữ vương Bồ Đào Nha, nhưng nếu sau đó Beatriz qua đời mà không có con trong cuộc hôn nhân tiếp theo, ngai vàng Bồ Đào Nha sẽ thuộc về các vị vua Castilla. Bằng cách này, các con của Inês de Castro một lần nữa bị từ chối quyền kế vị. Thỏa thuận hôn nhân được phê chuẩn tại Quốc hội Soria vào tháng 8 năm 1380.[18]

Đến tháng 7 năm 1380, Fernando I đã thay đổi chính sách bằng cách bí mật liên minh trong Hiệp ước Estremoz với Richard II của AnhCông tước xứ Lancaster, những người bảo vệ phái Petrist. Vua Bồ Đào Nha từ bỏ Giáo hoàng đối lập Clêmentê VII và tuyên thệ trung thành với Giáo hoàng Urbanô VI, trong khi Vương nữ Beatriz được hứa hôn với Edward xứ Norwich, con trai của Bá tước xứ Cambridge và cháu trai của Pedro I của Castilla. Các cuộc đàm phán trên đã đưa một người lưu vong theo phái Petrist đến Bồ Đào Nha, Juan Fernández de Andeiro, Bá tước xứ Ourém, người về sau sẽ có ảnh hưởng lớn tại triều đình Bồ Đào Nha. Khi Juan I nghe tin về thỏa thuận nhờ João của Bồ Đào Nha đang lưu vong, ông đã ký kết liên minh với Pháp thông qua Hiệp ước Vincennes, chấp nhận sự phục tùng của Castilla đối với Giáo hoàng đối lập Clêmentê VII,[19][20] và tiến hành Chiến tranh Fernando lần thứ ba.[21] Trong khi Fernando I và các cố vấn đang ở Elvas để bàn về chiến tranh, vào ngày 19 tháng 7 năm 1382, Vương hậu Leonor Teles hạ sinh một người con trai nhưng chỉ sống được bốn ngày tuổi.[22] Một tháng sau, vào ngày 10 tháng 8, cuộc chiến đã kết thúc bằng Hòa ước Elvas,[23] theo đó một hôn ước được cử hành giữa Beatriz và con trai thứ hai của Juan I là Ferrando I của Aragón tương lai.[24] Ngoài ra, Vương quốc Bồ Đào Nha, vốn bị chia rẽ về mặt tôn giáo bởi cuộc ly giáo Tây phương, đã trở lại phục tùng Giáo hoàng đối lập Clêmentê.[25]

Vào năm 1382, Vương hậu Castilla là Alionor của Aragón xqua đời. Bá tước xứ Ourém, người được Vương hậu Leonor Teles sủng ái, lần này đã dàn xếp một hôn ước mới cho Beatriz với chính Nhà vua Castilla.[26] Fernando I đã rất trăn trở về cuộc hôn nhân. Cuộc hôn nhân dường như đảm bảo quyền kế vị của Beatriz,[27] khi vương nữ sẽ có một quốc vương láng giềng hùng mạnh làm đồng minh, người có thể chống lại tham vọng của João của Bồ Đào Nha cùng các anh chị em thay vì ủng hộ. Mặt khác, Juan I vì phải cư trú tại Castilla sẽ giao việc cai quản Bồ Đào Nha cho Vương hậu Leonor với tư cách nhiếp chính.[28] Hợp đồng hôn nhân được ký vào ngày 2 tháng 4 năm 1383 tại Salvaterra de Magos, quy định rằng khi Fernando I qua đời mà không có con trai, vương miện sẽ được trao cho Beatriz, và Juan I sẽ được phong làm Quốc vương Bồ Đào Nha.[29][30][31][32][33] Tuy nhiên, cả hai bên đều đồng ý rằng Vương quốc Castilla và Bồ Đào Nha sẽ không hợp nhất, và để đảm bảo điều này, Vương hậu Leonor Teles sẽ tiếp tục làm nhiếp chính và phụ trách chính quyền Bồ Đào Nha cho đến khi Beatriz sinh được một người con trai đủ 14 tuổi, người sau đó sẽ tiếp quản chính quyền và kế vị ngai vàng Bồ Đào Nha thay cho cha mẹ.[29][34][35] Nếu Beatriz qua đời mà không có con để kế vị, vương miện sẽ được trao cho những người chị em giả định khác, và nếu không có ai thì vương miện sẽ được trao cho Juan I của Castilla, và thông qua Juan I là Vương tử Enrique, một lần nữa tước đi quyền thừa kế của con cái Inês de Castro. Quyền kế vị Castilla cũng được quy định rằng, trong trường hợp Juan I và hai người con trai không thể kế vị, vương miện sẽ được trao cho em gái ông là Leonor, và tương tự nếu Leonor qua đời mà không có con cái, ngai vàng Castilla sẽ được trao cho Fernando I của Bồ Đào Nha và hậu duệ.[36] Trong quá trình chuẩn bị hợp đồng hôn nhân, Juan I đã phản đối của hồi môn dành cho Beatriz, và cũng không đồng ý rằng con trai của ông và Beatriz phải được nuôi dưỡng tại Bồ Đào Nha, rằng Vương hậu Leonor Teles có thể nắm quyền nhiếp chính tại Bồ Đào Nha, và các pháo đài biên giới phải nằm trong tay Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, bản hợp đồng hứa hẹn cho Juan I cả Vương quốc Bồ Đào Nha, nên những phản đối trên được xem là thứ yếu, và Nhà vua Castilla đã chấp nhận thỏa thuận.[37]

Pedro de Luna, sứ thần của Giáo hoàng tại các vương quốc Castilla, Aragón, Bồ Đào Nha và Navarra, đã cử hành lễ đính hôn tại Elvas vào ngày 14 tháng 5 năm 1383,[38] và lễ cưới chính thức diễn ra vào ngày 17 tháng 5 tại Nhà thờ chính tòa Badajoz. Để đảm bảo việc tuân thủ Hiệp ước, vào ngày 21 tháng 5, một nhóm hiệp sĩ và giáo sĩ Castilla đã thề sẽ từ bỏ quyền công dân và chiến đấu chống lại Vua Castilla nếu Nhà vua phá vỡ các thỏa thuận trong hợp đồng hôn nhân. Tương tự, một nhóm hiệp sĩ và giáo sĩ Bồ Đào Nha (trong số đó có Thống lĩnh Avis) đã tuyên thệ điều tương tự nếu như Vua Bồ Đào Nha phá vỡ hiệp ước với Castilla. Beatriz sau đó đã phê chuẩn những điều được thỏa thuận tại Salvaterra de Magos. Sau khi lễ cưới diễn ra, Beatriz chuyển đến sống tại Castilla cùng với Juan I. Hợp đồng hôn nhân được đưa ra trước Quốc hội Santarém vào tháng 8 và tháng 9 để tuyên thệ chấp nhận Beatriz và Juan I của Castilla là người thừa kế của Bồ Đào Nha, mặc dù những văn bản trên không được lưu giữ.[33] Về phần mình, Vương hậu Leonor Teles đã hạ sinh một người con gái vào ngày 27 tháng 9, nhưng chỉ sống được trong vài ngày.[39] Vì vậy, Beatriz vẫn là người con hợp pháp duy nhất của Fernando I.

Khủng hoảng 1383–1385

Fernando I của Bồ Đào Nha băng hà vào ngày 22 tháng 10 năm 1383. Theo Hiệp ước Salvaterra và di chúc của Nhà vua quá cố, Thái hậu Leonor Teles lên nắm quyền nhiếp chính và cai trị Vương quốc thay mặt con gái Beatriz.[34][40][41][42] Thái hậu Leonor duy trì phái Petrist tại Castilla nhằm củng cố phe đối lập yêu cầu Hội đồng nhiếp chính chỉ bao gồm các cố vấn gốc Bồ Đào Nha.[43]

Juan I của Castilla (1379–1390) đã xâm lược Bồ Đào Nha và tự xưng vương theo quyền của vợ là Beatriz, trong cuộc nội chiến diễn ra sau cái chết của Fernando I của Bồ Đào Nha.

Tin tức về cái chết của Vua Bồ Đào Nha đã đến tai Juan I của Castilla và Beatriz tại Torrijos, và cả hai lập tức giải tán quốc hội tại Segovia. Thống lĩnh Avis liền viết thư cho Juan I, thúc giục Nhà vua nhận lấy vương miện Bồ Đào Nha thông qua Beatriz, và đề nghị được phong làm nhiếp chính thay cho cả hai.[30][41][44][45][46] Để tránh xung đột với João của Bồ Đào Nha, Juan I đã giam cầm ông tại Alcázar của Toledo, và tại đó lấy đi tước hiệu và huy hiệu của Vua Bồ Đào Nha,[47] điều được Giáo hoàng đối lập Clêmentê VII công nhận.[40] Sau đó, Juan I triệu tập Hội đồng Vương thất tại Montalbán, và cử Alfonso López de Tejeda đến Bồ Đào Nha với chỉ thị cho Nhiếp chính hậu tuyên bố ông và Beatriz là Vua và Nữ vương của Bồ Đào Nha.[48][49][50][51][52][53]

Việc tôn xưng đã được diễn ra, nhưng tại Lisboa và những nơi khác như Elvas và Santarém, dân chúng đã phản đối Juan I của Castilla và ủng hộ João của Bồ Đào Nha.[41][45][46][54][55][56][57][58][59][60][61] Juan I quyết định dẫn quân sang Bồ Đào Nha để chiếm đóng, bất chấp lời khuyên của một số thành viên trong Hội đồng vì hành động này đã vi phạm các thỏa thuận được ký kết trong Hiệp ước Salvaterra.[29] Juan I có được sự ủng hộ từ tể tướng của Beatriz là Afonso Correia, Giám mục Guarda, người hứa sẽ giao nộp vùng đất cho ông. Vì vậy, Juan I cùng Beatriz đã tiến vào vương quốc để đảm bảo sự phục tùng của Bồ Đào Nha và quyền lợi của Vương hậu.[30][35][62][63]

Đối với Juan I của Castilla, cuộc hôn nhân cho phép ông duy trì quyền bảo hộ đối với Vương quốc Bồ Đào Nha và ngăn chặn nước Anh thiết lập ảnh hưởng tại Bán đảo Iberia.[23] Ngoài ra, sự hợp nhất giữa Castilla và Bồ Đào Nha sẽ có lợi cho giới quý tộc Bồ Đào Nha, những người sẽ nhận được đất đai, tước hiệu và chức vụ. Trước tình hình này, nông dân, những người được cải thiện địa vị do sự suy giảm dân số ở vùng nông thôn, lo sợ đặc quyền của giới quý tộc sẽ được củng cố. Trong khi đó, các thương nhân, thợ thủ công, quan chức và phần lớn giới quý tộc cấp thấp hơn lại lo sợ sự suy yếu về chính trị, xã hội và kinh tế, trước sự gia tăng quyền lực của giới quý tộc cấp cao Bồ Đào Nha, cùng mối đe dọa từ sự thống trị của Castilla, vốn ưu tiên nông nghiệp hơn là thương mại.[64] Kết hợp sự phản đối với Nhiếp chính hậu và phái Petrist,[65] kỳ vọng về thế độc quyền thương mại,[23] cùng nỗi lo sợ về sự thống trị của Castilla và việc mất đi nền độc lập của Bồ Đào Nha,[34][66][67] các cuộc nổi dậy đã nổ ra tại Lisboa vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12. Thống lĩnh Avis đã giết Bá tước xứ Ourém, người được Nhiếp chính hậu sủng ái, và sau đó là cuộc nổi dậy của nông dân chống lại chính quyền do Alvaro Pais khởi xướng,[50] trong đó Martinho Anes, Giám mục Lisboa, đã bị ám sát. Cuộc nổi dậy lan rộng ra các tỉnh, lấy đi mạng sống của Viện mẫu Tu viện dòng Biển Đức tại Évora, Tu viện trưởng nhà thờ Guimarães và Lançarote Pessanha, Đô đốc Bồ Đào Nha tại Beja cùng nhiều người khác. Cuộc nổi dậy được sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu thay vì giới quý tộc,[66][68][69] những người vẫn duy trì sự ủng hộ đối với Nhiếp chính hậu.

Thái hậu Leonor Teles đã chạy trốn khỏi Lisboa cùng với triều đình[70] và ẩn náu tại Alenquer. Tại Lisboa, Alvaro Pais đề xuất một cuộc hôn nhân giữa Thống lĩnh Avis và Thái hậu để cả hai có thể cùng nhau nắm quyền nhiếp chính, tuy nhiên Leonor đã từ chối. Khi biết tin về sự xuất hiện sắp tới của Vua Castilla, Thống lĩnh Avis đã được chọn làm Người bảo vệ và Nhiếp chính của Vương quốc vào ngày 16 tháng 12 năm 1383,[71] dựa trên quyền của João của Bồ Đào Nha,[72] con trai cả của Inês de Castro. Thống lĩnh Avis thành lập Hội đồng riêng, trong đó João das Regras giữ chức Tể tướng, và yêu cầu sự trợ giúp của Anh. Ông cố gắng bao vây Alenquer, nhưng Leonor đã chạy trốn đến Santarém,[73] vì vậy ông ngay lập tức quay trở lại để chuẩn bị phòng thủ Lisboa. Tại Santarém, Leonor Teles tiến hành tuyển mộ quân đội và tìm kiếm sự giúp đỡ từ con rể là Juan I[74] để đánh bại những kẻ nổi dậy không chấp nhận quyền nhiếp chính hoặc không công nhận Beatriz là Nữ vương.[75]

Juan I của Castilla đã hành động để kiểm soát tình hình tại Bồ Đào Nha, thành lập một Hội đồng nhiếp chính tại Castilla bao gồm Alifonso của Aragón, Hầu tước xứ Villena, Pedro Tenorio (Tổng giám mục Toledo) và Pedro González de Mendoza (Mayordomo đầu tiên của Nhà vua).[76][77] Vào đầu tháng 1 năm 1384, Juan I cùng Beatriz đã tiến hành xâm lược Bồ Đào Nha qua đường đến Santarém, theo lời kêu gọi của Thái hậu Leonor Teles.[76] Vài ngày sau đó, vào ngày 13 tháng 1, Thái hậu Leonor từ chức khỏi vị trí nhiếp chính và chính quyền. Như vậy, Juan I lên nắm quyền kiểm soát chính phủ,[69] và thành lập dinh tể tướng, triều đình và một đội quân chủ yếu gồm người Castilla.[78] Sau đó, nhiều hiệp sĩ và người quản lâu đài từ nhiều nơi đã đến tỏ lòng tôn kính với Juan I và Beatriz.[62][79][80] Tuy nhiên, Thái hậu Leonor bắt đầu âm mưu chống lại con rể, vì vậy bà đã bị đày đến Tu viện Tordesillas. Điều này càng châm ngòi cho cuộc nổi dậy của Thống lĩnh Avis vì các điều khoản của Hiệp ước Salvaterra đã bị vi phạm,[81] và hơn nữa còn chia rẽ giới quý tộc vốn phần lớn ủng hộ Leonor, với một số người, chẳng hạn như Tể tướng của nhiếp chính Lourenço Eanes Fogaça, liên minh với Thống lĩnh Avis.[82]

Mặc dù nhận được sự ủng hộ của đa số quý tộc Bồ Đào Nha,[69][10][83][84][85] nhưng Juan I không thể lặp lại chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Fernando và đã thất bại trước Coimbra và Lisboa. Vào ngày 3 tháng 9 năm 1384, Juan I để lại đồn trú tại các thành phố ủng hộ Vua Castilla, rồi trở về nước và cầu cứu Vua Pháp. Beatriz cũng rời Bồ Đào Nha lần cuối cùng. Trong khi đó, Thống lĩnh Avis cố gắng chiếm các thành phố trung thành từ tay kẻ thù, và mặc dù chiếm được Almada và Alenquer, ông đã gặp thất bại tại Sintra, Torres-Novas và Torres Vedras.[86] Thống lĩnh Avis sau đó đến Coimbra, nơi ông triệu tập quốc hội vào tháng 3 năm 1385. Tại đây, Beatriz bị tuyên bố là con bất hợp pháp vì cuộc hôn nhân của cha mẹ bà bị coi là không hợp lệ. Vào ngày 6 tháng 4, Thống lĩnh Avis được tôn xưng là Vua João I của Bồ Đào Nha. Sau quốc hội, vị tân vương đã tiến hành một chiến dịch để kiểm soát phía bắc vương quốc, và do đó đã giành được Viana do Castelo, Braga và Guimarães.[87] Juan I của Castilla một lần nữa tiến vào Bồ Đào Nha, lần này qua Ciudad Rodrigo và Celorico, nhưng thất bại của quân đội Castilla tại Trancoso và Aljubarrota vào tháng 5 và tháng 8 năm 1385 đã chấm dứt mọi cơ hội để Juan I có thể tự xưng là Vua của Bồ Đào Nha.

Tại Aljubarrota, thảm họa của Castilla đã xảy ra. Juan I đã chạy trốn đến Santarém, và từ đó đi xuôi dòng sông Tagus cho đến khi gặp hạm đội của mình gần Lisboa,[88] và vào tháng 9 năm đó, hạm đội Castilla đã trở về nước. João I của Bồ Đào Nha sau đó giành quyền kiểm soát các thành phố vẫn còn chống đối Nhà vua. João chiếm đóng vùng phía bắc sông Duero, nơi các hiệp sĩ Bồ Đào Nha vẫn trung thành với Beatriz và Juan I của Castilla.[89] Villareal de Pavões, Chaves và Bragança đầu hàng vào cuối tháng 3 năm 1386,[90] và Almeida đầu hàng vào đầu tháng 6 cùng năm.[91]

Tính hợp pháp và thỏa thuận đình chiến với Bồ Đào Nha

Trận Aljubarrota

Thảm họa của Castilla tại Aljubarrota đã gây ra một cuộc di cư về Castilla của các giáo sĩ Bồ Đào Nha, những người vẫn giữ sự trung thành với Giáo hoàng đối lập Clêmentê VII (việc chu cấp cho họ được thực hiện bởi Vương hậu Beatriz, người cũng yêu cầu quyền lợi cho họ từ các Giáo hoàng đối lập tại Avignon) và giới quý tộc, những người ban đầu không nhận được khoản bồi thường vì được kỳ vọng là sẽ trở về Bồ Đào Nha.

Trận Aljubarrota cũng đã làm mới lại nguyện vọng của hậu duệ Pedro của Castilla: con gái của ông là Constanza và chồng là John xứ Gaunt, Công tước xứ Lancaster. Vào ngày 9 tháng 5 năm 1386, Bồ Đào Nha và Anh ký Hiệp ước Windsor, và John xứ Gaunt, cùng vợ và con gái là Catherine của Lancaster đã đến Galicia vào tháng 7. Juan I của Castilla ngay lập tức triệu tập quốc hội tại Segovia để đảm bảo việc phòng thủ vương quốc, và ngoài ra còn phục hồi ngôi vị cho João của Bồ Đào Nha, con trai của Inês de Castro, giao cho João quyền nhiếp chính Bồ Đào Nha dưới danh nghĩa của bản thân và vợ,[92] với mục đích làm suy yếu vị thế của người em cùng cha khác mẹ là João I của Bồ Đào Nha. Với kết quả ít ỏi của chiến dịch Anh-Bồ Đào Nha[93] và việc mất đi sự ủng hộ tại Galicia, John xứ Gaunt và Juan I của Castilla đã ký Hiệp ước Bayonne vào ngày 8 tháng 7 năm 1388, theo đó John xứ Gaunt và vợ phải từ bỏ mọi quyền đối với ngai vàng Castilla để nhường chỗ cho cuộc hôn nhân của con gái Catherine của Lancaster với con trai cả và người thừa kế của Juan I của Castilla, tức Enrique III tương lai. Sự gián đoạn của Chiến tranh Trăm năm với Hiệp định đình chiến Leulinghem đã thúc đẩy Hiệp định đình chiến Monção vào ngày 23 tháng 11 năm 1389 giữa Castilla và Bồ Đào Nha, theo đó các thành phố mà cả hai bên đã chiếm đóng được trả lại, nhưng các yêu sách của Beatriz vẫn chưa được giải quyết.

Việc giành lại Bồ Đào Nha vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Quốc vương Castilla. Vào năm 1390, khi đang tổ chức quốc hội tại Guadalajara, Juan I đã đề nghị thoái vị với Hội đồng để cống hiến hoàn toàn cho Bồ Đào Nha. Cái chết của Nhà vua vào ngày 9 tháng 10 năm 1390 đã tạo ra một cuộc tranh giành quyền lực để thành lập chế độ nhiếp chính, vì vậy vấn đề Bồ Đào Nha đã bị trì hoãn với việc gia hạn thỏa thuận đình chiến vào năm 1393. Trong suốt những cuộc tranh giành, họ vẫn duy trì những điều khoản mà Juan I đã lập trong di chúc, được viết tại Celorico da Beira vào năm 1385,[94] trong đó nêu rõ việc duy trì kinh tế cho đoàn tùy tùng của Beatriz, hiện giờ là Thái hậu, nơi những người Bồ Đào Nha lưu vong đến Castilla phụ thuộc vào. Di chúc cũng đề cập đến phần giáo lý về quyền thừa kế, nhưng có sự bất đồng về ý định trong đó. Olivera Serrano chỉ ra rằng Juan I đã công nhận Beatriz là Nữ vương hợp pháp của Bồ Đào Nha, và vì bà qua đời nhưng không có hậu duệ hợp pháp, nên quyền thừa kế sẽ được chuyển cho Enrique III, theo các điều khoản của Hiệp ước Salvaterra de Magos năm 1383. Trong khi đó, việc đề cập đến sự phân xử của Giáo hoàng chỉ nhằm mục đích chỉ định và phê chuẩn rằng quyền kế vị Bồ Đào Nha sẽ thực sự thuộc về Enrique III sau khi Beatriz qua đời.[95] Oliveira Martins cho biết Giáo hoàng phải quyết định ai sẽ là người cai trị Bồ Đào Nha sau khi Vua Castilla qua đời, liệu quyền cai trị sẽ thuộc về Beatriz hay con trai riêng của Juan I là Enrique III.[96] Quyền thừa kế của Beatriz trong nhiều thập kỷ đã tạo nên trở ngại đối với việc bình thường hóa quan hệ giữa Castilla và Bồ Đào Nha, vấn đề chỉ có thể được giải quyết hoàn toàn bằng Hiệp ước Medina del Campo năm 1431. Sự hiện diện của Beatriz tại Vương quốc Castilla có lợi cho tham vọng của Nhà Trastámara đối với Bồ Đào Nha, vì Thái hậu đại diện cho tính hợp pháp của triều đại, chống lại tính bất hợp pháp của Nhà Avis.

Dưới thời trị vì của Enrique III, đã có một cuộc di cư lớn của người Bồ Đào Nha đến Castilla, với điểm chung là đều phản đối Nhà Avis. Vua Castilla đã bồi thường cho những người lưu vong một phần thiệt hại của họ tại Bồ Đào Nha. Những người lưu vong từ chối mối quan hệ tốt đẹp giữa Vương quốc Castilla và Nhà Avis,[97] và có xu hướng duy trì mạng lưới thân tộc phù hợp với lòng trung thành của mình. Do đó, những người ủng hộ Beatriz đã định cư tại các thành phố nơi Thái hậu có ảnh hưởng, như Toro hoặc Valladolid.

João I của Bồ Đào Nha đã tái khởi động cuộc chiến giữa năm 1396 và 1399 để buộc phải đưa ra các điều khoản có lợi vào hiệp ước hòa bình, nhưng kết quả lại không như mong đợi. Trong các cuộc đàm phán dẫn đến hiệp ước đình chiến năm 1402, Castilla vẫn kiên quyết bảo vệ quyền thừa kế của Beatriz, và đề xuất một cuộc hôn nhân giữa Thái hậu và Afonso, con trai cả của João I. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân bị Vua Bồ Đào Nha từ chối. Enrique III cũng viện dẫn quyền thừa kế của mình tại Bồ Đào Nha, dựa trên cơ sở rằng Fernando I của Bồ Đào Nha và Juan I của Castilla là anh em họ đằng ngoại.

Cái chết của Enrique III năm 1406 đánh dấu một hướng đi mới trong mối quan hệ với Bồ Đào Nha. Trong khi cuộc sống của Beatriz tại Castilla không thay đổi, vì di chúc của Nhà vua chỉ rõ những điều khoản mà cha ông dành cho Beatriz phải được tôn trọng, nhưng chính quyền Vương quốc Castilla lúc này nằm trong tay một chế độ đồng nhiếp chính nhân danh Juan II còn nhỏ, giữa Thái hậu Catherine của Lancaster và chú ruột của Juan là Vương tử Fernando. Tuy nhiên, những bất đồng chính trị giữa hai vị nhiếp chính buộc Castilla phải chia đôi để Juan cai trị. Về vấn đề hòa bình với Bồ Đào Nha, Catherine đã ủng hộ anh rể là Vua Bồ Đào Nha, trong khi Fernando ủng hộ lập trường tính hợp pháp nhằm duy trì mối quan hệ giữa ông và Beatriz. Sự bất đồng giữa hai vị nhiếp chính đã ngăn cản việc lập lại hòa bình với Bồ Đào Nha, và các hiệp định đình chiến chỉ được gia hạn vào năm 1407.

Cái chết của Martín I của Aragón vào năm 1410 cùng tham vọng lên ngôi vua Aragón của Fernando khiến ông trở nên ôn hòa hơn với Bồ Đào Nha. Fernando vẫn duy trì tính ưu việt và hợp pháp của quyền thừa kế của gia tộc. Nhưng trong các cuộc đàm phán dẫn đến hiệp ước tạm thời vào năm 1411,[98] vấn đề triều đại và cuộc ly giáo Tây phương vẫn được tách biệt khỏi việc giải quyết các bất đồng khác: Castilla hứa sẽ không gây chiến với Bồ Đào Nha vì quyền lợi của Beatriz hay sự ly giáo Tây phương, và đồng ý bác bỏ mọi yêu sách của những người lưu vong trung thành với Beatriz về tài sản bị tịch thu hoặc số tiền bồi thường trước năm 1402.

Vấn đề liên quan đến sự ly giáo Tây phương được giải quyết tại Công đồng Constance. Giáo hoàng mới đắc cử Máctinô V đã công nhận Quốc vương Bồ Đào Nha, và do đó trong sắc lệnh Sane Charissumus vào tháng 4 năm 1418, Giáo hoàng đã yêu cầu các quốc vương Kitô giáo giúp đỡ Nhà vua Bồ Đào Nha trong cuộc chiến chống lại người Saracen.[99] Cái chết của Ferrando I của Aragón vào năm 1416, và việc phế truất Giáo hoàng đối lập Biển Đức XIII vào năm 1417 đã tước đi sự ủng hộ còn lại mà Beatriz có được.

Cuộc tranh giành quyền lực tại Castilla giữa Álvaro de Luna và các Vương tử Aragón, anh em của Alifonso V của Aragón, đã biến Bồ Đào Nha thành một phần tử hỗ trợ các Vương tử Aragón. Vì vậy, Álvaro de Luna đã cố gắng loại bỏ điều này bằng một nền hòa bình lâu dài. Hiệp ước Medina del Campo ngày 30 tháng 10 năm 1431 quy định rằng quyền của Beatriz sẽ chấm dứt khi bà qua đời, và Vua Juan II từ bỏ mọi quyền lợi có thể được hưởng thông qua mối quan hệ họ hàng giữa Fernando I của Bồ Đào Nha và Juan I của Castilla. Ngoài ra, Vua Castilla chấp nhận Nhà Avis trở thành một phần của gia thất dựa trên mối quan hệ giữa Catherine của Lancaster, mẹ của Vua Castilla, và người chị cùng cha khác mẹ là Philippa của Lancaster, Vương hậu của Bồ Đào Nha. Những người Bồ Đào Nha lưu vong tại Castilla bị từ chối mọi quyền lợi hoặc bồi thường tại Bồ Đào Nha.

Cuộc sống tại Castilla

Năm 1376, khi Beatriz tuyên thệ trở thành người thừa kế của Bồ Đào Nha tại Quốc hội de Leiria, bà nhận được một khoản thừa kế để duy trì đoàn tùy tùng, mặc dù được mẹ là Leonor Teles kiểm soát. Juan Fernández de Andeiro, sủng thần của Thái hậu Leonor trở thành Mayordomo đầu tiên của Beatriz. Sau khi kết hôn, thay vì bao gồm thu nhập từ lãnh thổ, của hồi môn của Beatriz bao gồm số tiền mà Juan I của Castilla phải chấp nhận với hy vọng giành được Vương quốc Bồ Đào Nha. Khi chưa đến tuổi trưởng thành, Juan I được giữ quyền giám hộ Beatriz, nhưng kể từ năm 1385, khi đạt đến tuổi trưởng thành hợp pháp, Beatriz có thể tự ký và đóng dấu các văn bản của mình.

Với tư cách là Vương hậu Castilla, Beatriz duy trì đoàn tùy tùng riêng, với Juan Rodríguez Portocarrero giữ chức vụ Mayordomo đầu tiên, và Tể tướng của Beatriz là Giám mục Guarda, Afonso Correia. Tài sản của Beatriz tại Castilla thay đổi qua các năm, do các quốc vương Castilla ban thưởng cho họ hàng theo lợi ích chính trị của thời điểm đó. Một số điều khoản liên quan đến tài sản thừa kế của Beatriz trong di chúc của Juan I, có niên đại từ năm 1385, đã không thể được thực hiện vào năm 1392 khi chính quyền nhiếp chính của Enrique III sửa đổi di chúc. Mặc dù có tư cách là Vương hậu Castilla, Beatriz có quyền tài phán đối với Tordesillas, San Esteban de Gormaz, Cuéllar, Peñafiel, Medina del Campo và Olmedo, nhưng khi trở thành Thái hậu, Beatriz chỉ giữ lại BéjarValladolid.[100] Năm 1396, Enrique III đổi Béjar để lấy Ciudad Real và merindad Valladolid.

Mộ Beatriz của Bồ Đào Nha tại nhà thờ của Tu viện Sancti Spiritus, Toro (Zamora)

Cuộc hôn nhân của Beatriz và Juan I của Castilla không sinh ra được người con nào. Mặc dù một người con trai có tên Miguel được nhắc đến trong một số phả hệ của thế kỷ 17 và 18, và thậm chí trong một số sách lịch sử hiện đại,[101][102] đây có lẽ là nhầm lẫn với Miguel da Paz, cháu trai của các Quân chủ Công giáo.[101] Từ năm 1390, Beatriz, lúc này là một góa phụ 17 tuổi, sống ẩn mình và tránh xa những âm mưu tại triều đình. Tuy nhiên, bà vẫn có sự hiện diện rõ rệt tại triều đình Castilla, duy trì mối quan hệ trong một vòng tròn rộng hơn so với nhóm người Bồ Đào Nha lưu vong. Trong thời kỳ nhiếp chính của Juan II của Castilla, Beatriz định cư tại Ciudad Real, và dựa vào các bức thư, bà dường như đã lui về Toro sau hiệp ước năm 1411. Năm 1409, Beatriz nhận được lời cầu hôn của một Công tước Áo, thành viên của Vương tộc Habsburg. Beatriz đã từ chối vì điều này sẽ dẫn đến việc mất đi quyền thừa kế Castilla, gây tổn hại đến những người ủng hộ Bồ Đào Nha đang lưu vong, và bà cần thực hiện một cuộc hôn nhân chính trị để có thể trở về Bồ Đào Nha.[103] Beatriz duy trì mối quan hệ thân thiết với con trai riêng của Juan I là Fernando (sau này trở thành Vua Aragón), ủng hộ gia đình vương tử, và đặc biệt với Henrique của Aragón, Beatriz đã can thiệp vào việc bầu vương tử trở thành Đại Thống lĩnh của Hội Santiago vào năm 1410.

Năm 1419, Beatriz cử Juan González de Sevilla, giáo sư của Đại học Salamanca và sau này là Giám mục Cádiz, đến thỉnh cầu Giáo hoàng Máctinô V để xin giấy phép thường được cấp cho người sắp qua đời. Không có bằng chứng tài liệu nào về cái chết của Beatriz còn sót lại, nhưng tài sản của bà bị phân tán. Nó được giao cho Álvaro de Luna từ năm 1420, và vào tháng 6 năm 1420, Toro dường như đã trở lại với Vương quyền.[104] Juan González de Sevilla, người đại diện cho Beatriz với tư cách là đại sứ trước Giáo hoàng, đã ngừng tự xưng theo vị trí trên kể từ tháng 4 năm 1420.[105] Vào tháng 4 năm 1423, một thỏa thuận đình chiến mới với Bồ Đào Nha được ký kết, trong đó thảo luận về quyền thừa kế và kế vị của Beatriz. Điều này cho thấy Beatriz đã qua đời.[106]

Tư cách là quân chủ

Huy hiệu của Beatriz của Bồ Đào Nha

Đã có một số cuộc tranh luận về việc liệu Beatriz có được coi là quân chủ.[107] Trong những thập kỷ gần đây, một nhóm tác giả sử học Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bảo vệ quan điểm rằng Beatriz là Nữ vương trên danh nghĩa của Bồ Đào Nha trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 10 đến giữa tháng 12 năm 1383.[108] Một số nhà sử học coi Beatriz là Nữ vương Bồ Đào Nha trong giai đoạn từ năm 1383 đến năm 1385.[1][2][3][4][5][6] Tuy nhiên, đa số các nhà sử học Bồ Đào Nha lập luận rằng trong giai đoạn trên, Bồ Đào Nha không có quân chủ, và tại quốc gia này Beatriz không được coi là Nữ vương.

Cuộc nổi dậy tại Bồ Đào Nha không phải là thách thức duy nhất với việc lên ngôi của Beatriz, mà bà còn phải đối mặt với các tranh chấp kế vị từ chính Juan I của Castilla. Nhiều quý tộc Bồ Đào Nha thuộc phe ủng hộ Castilla cũng công nhận Juan I là quốc vương jure uxoris (theo quyền của vợ), khiến ông trở thành chư hầu.[109] Theo di chúc ngày 21 tháng 7 năm 1385 được viết tại Celorico da Beira, Juan I tự nhận là Vua của Bồ Đào Nha và có thể là người sở hữu thực sự của vương quốc, nói rằng nếu ông qua đời trước Beatriz, Giáo hoàng sẽ quyết định liệu Beatriz hay Vương tử Enrique sẽ là người cai trị Bồ Đào Nha.[110]

Tổ tiên

Tham khảo

  1. 1 2 Earenfight, T. (2010). Women and Wealth in Late Medieval Europe. Springer. tr. 221. ISBN 978-0230106017. Beatriz Queen 1383-1385
  2. 1 2 Monter, William (ngày 24 tháng 1 năm 2012). The Rise of Female Kings in Europe, 1300-1800 (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Yale. tr. x. ISBN 978-0-300-17327-7. 5. (1383) Beatriz của Bồ Đào Nha, mười tuổi, kế vị cha; kết hôn nhưng bị em trai cùng cha khác mẹ phế truất năm 1385;
  3. 1 2 Bartlett, Robert (ngày 9 tháng 7 năm 2020). Blood Royal: Dynastic Politics in Medieval Europe. Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 447. ISBN 978-1108490672. Beatrice of Portugal (1383-5)+
  4. 1 2 Dresvina, Juliana; Sparks, Nicholas, biên tập (ngày 18 tháng 12 năm 2012). Authority and Gender in Medieval and Renaissance Chronicles. Cambridge Scholars. tr. 376. ISBN 978-1443844284. Beatrice of Portugal (contested queen, 1383-85),
  5. 1 2 Bolton, Brenda; Meek, Christine (2007). Aspects of Power and Authority in the Middle Ages. Brepols. tr. 132. ISBN 978-2503527352. Về phần Beatriz (1383-85), được tôn làm nữ vương sau cái chết của cha vào năm 1383, bà đã bị phế truất hai năm sau đó,
  6. 1 2 Merino, Vicente Salas (ngày 6 tháng 4 năm 2015). La Genealogía de Los Reyes de España 5º edición (bằng tiếng Tây Ban Nha). Vision Libros. tr. 294. ISBN 978-84-16284-27-6. 1383-1385 BEATRIZ = JUAN I DE CASTILLA
  7. Cronicom Conimbricense, in Chronicles of López de Ayala, book II, tr. 592.
  8. Salvador M. Dias Arnaut trong A crise nacional dos fins do século XIV (1960), chỉ ra rằng ngày sinh của Beatriz sẽ nằm trong khoảng từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 2, mặc dù theo Olivera Serrano, hợp đồng hôn nhân năm 1383 ghi ngày 1 tháng 3 là ngày sinh của Beatriz. Olivera Serrano 2005, tr. 57.
  9. Ayala's Chronicles, Madrid's edition 1780, book II, từ trang 292.
  10. 1 2 Newitt, M. D. D. (ngày 14 tháng 10 năm 2004). A History of Portuguese Overseas Expansion 1400–1668. Routledge. tr. 16. ISBN 978-0-415-23979-0.
  11. Suárez Fernández 1976, tr. 406.
  12. Suárez Fernández, Luis (2003). Principado de Asturias: un proceso de señorialización regional (bằng tiếng Tây Ban Nha). Real Academia de la Historia. tr. 80. ISBN 9788495983329.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  13. Stephens 1891, tr. 106.
  14. Olivera Serrano, César (2006). Notas sobre el ducado de Benavente en el siglo XIV (PDF) (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Quyển 1. Estudos em homenagem ao professor doutor José Marques. Facultade de Letras da Universidade do Porto, Departamento de Ciências e Técnicas do Património, Departamento de História. tr. 475. ISBN 9728932073.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  15. Fernandes, Fatima Regina (2005). "As potencialidades da funçao de Aia na Baixa Idade Média". Estudios de Historia de España (Buenos Aires) (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 7. Universidad Católica Argentina Santa María de los Buenos Aires. Instituto de Historia de España. Estudios de historia de España: 89. ISSN 0328-0284.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  16. Livermore 1947, tr. 171.
  17. Olivera Serrano 2005, tr. 69.
  18. Martínez Marina, Francisco (1813). Teoria de las Cortes, ó, Grandes juntas nacionales de los reinos de Leon y Castilla (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Quyển 2. Imprenta de D. Fermin Villalpando. tr. 120. OCLC 239649907.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  19. O'Callaghan 1983, tr. 530.
  20. Álvarez Palenzuela, Vicente Ángel (2007). Historia de España de la Edad Media (bằng tiếng Tây Ban Nha). Editorial Ariel. tr. 690. ISBN 9788434466685.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  21. Suárez Fernández 1981, tr. 310.
  22. Lopes, Fernão (1436). Chronica de el-rei D. Fernando (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Quyển III. Biblioteca Nacional de Portugal. tr. 110, Chapter CL.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  23. 1 2 3 Suárez Fernández 1981, tr. 312.
  24. Livermore 1947, tr. 173
  25. Costa Gomes, Rita (2003). The making of a court society: kings and nobles in late medieval Portugal. Nhà xuất bản Đại học Cambridge. tr. 157. ISBN 9780521800112.
  26. Spain and Portugal, Graeme Mercer Adam ed., J. D. Morris, 1906
  27. Livermore 1947, tr. 173.
  28. Campos 2008, tr. 154–156.
  29. 1 2 3 O'Callaghan 1983, tr. 531.
  30. 1 2 3 Gebhardt 1864, tr. 140.
  31. Ortiz y Sanz, José (1798). Compendio cronológico de la historia de España desde los tiempos más remotos hasta nuestros días (bằng tiếng Tây Ban Nha). Imprenta Real. tr. 36. OCLC 300086922.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  32. Díez Canseco, Vicente (1844). Diccionario biográfico universal de mujeres célebres (bằng tiếng Tây Ban Nha). Imprenta de José Felix Palacios. tr. 266. OCLC 32984785.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  33. 1 2 Cabral Coser, Miriam (2008). "Casamento, política e direitos das mulheres na idade média portuguesa" (PDF). Revista do Mestrado de História da Universidade Severino Sombra, Uss (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 10. Universidade Severino Sombra. Revista do Mestrado de História: 136. ISSN 1415-9201.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  34. 1 2 3 Stephens 1891, tr. 107.
  35. 1 2 Lindo, E.H. (1848). The Jews of Spain and Portugal. Longman, Brown, Green & Longmans. tr. 164. OCLC 79558260.
  36. Campos 2008, tr. 132.
  37. Campos 2008, tr. 136.
  38. Fernão Lopes, Chronicle of D. Ferdinand, chương CLXIV - CLXVII
  39. Olivera Serrano 2005, tr. 91.
  40. 1 2 Zunzunegui, Ioseph (1943). Miscellanea Historiae Pontificae: La Legación en España del Cardenal Pedro de Luna 1979-1390 (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 7. Pontificia Universitate Gregoriana. tr. 121. ISBN 9788876524332.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  41. 1 2 3 Busk, M. M. (1833). The history of Spain and Portugal from B.C. 1000 to A.D. 1814. Baldwin and Cradock. tr. 59. OCLC 3291907.
  42. Schäffer 1840, tr. 309.
  43. Campos 2008, tr. 221–222.
  44. Ortiz y Sanz, José (1798). Compendio cronológico de la historia de España desde los tiempos más remotos hasta nuestros días (bằng tiếng Tây Ban Nha). Imprenta Real. tr. 37. OCLC 300086922.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  45. 1 2 Lavallée, Joseph Adrien Félix (1845). Historia de España: desde los tiempos más remotos hasta el año 1840 inclusive (bằng tiếng Tây Ban Nha). Impr. del Imparcial. tr. 67. OCLC 1293155.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  46. 1 2 Busk, M. M. (1832). The history of Spain and Portugal from the earliest records to the peace of 1814. Baldwin and Cradock. tr. 59. OCLC 3291907.
  47. Lafuente, Modesto (1869). Historia general de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 7. Impr. a cargo de D.Chaulie. tr. 363. OCLC 312819515.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  48. Suárez Fernández, Luis (1977). Historia del reinado de Juan I de Castilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Autónoma. tr. 169. ISBN 9788470090424.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  49. González García, Manuel (1982). Salamanca en la baja Edad Media (bằng tiếng Tây Ban Nha). Ediciones Universidad Salamanca. tr. 27. ISBN 9788474812053.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  50. 1 2 Livermore 1947, tr. 174.
  51. Schäffer 1840, tr. 310.
  52. López de Ayala, Pero (1780). Cronicas de los reyes de Castilla: Don Pedro, Don Enrique II, Don Juan I, Don Enrique III (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 2. Imprenta de Don Antonio de Sancha. tr. 182. OCLC 164818985.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  53. Ortiz y Sanz, José (1798). Compendio cronológico de la historia de España desde los tiempos más remotos hasta nuestros días (bằng tiếng Tây Ban Nha). Imprenta Real. tr. 38. OCLC 300086922.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  54. Fernão Lopes, Chronicle of D. Ferdinand, chương CLXXVIII
  55. Fernão Lopes, Chronicle of D. Ferdinand, tập III, tr. 187
  56. Fernão Lopes, Chronicle of John I, first part, tập I, chương LXI - LXII
  57. Suárez Fernández, Luis (1977). Historia del reinado de Juan I de Castilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Autónoma. tr. 169. ISBN 9788470090424.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  58. Ayguals de Izco, Wenceslao (1853). El Panteón universal. Diccionario histórico (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 3. Impr. de Ayguals de Izco Hermanos. tr. 248. OCLC 552529895.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  59. Anquetil, Louis Pierre (1848). El Nuevo Anquetil (bằng tiếng Tây Ban Nha). Impr. de Luis Tasso. tr. 1131. OCLC 433649515.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  60. Historia universal antigua y moderna (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 13. Impr de D.R.Campuzano. 1845. tr. 56. OCLC 431926564.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  61. de Mariana, Juan (1819). Historia general de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 8. Imp. de D. Leonardo Nuñez de Vargas. tr. 38. OCLC 630388131.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  62. 1 2 Bailey Wallys, Diffie (1960). Prelude to empire: Portugal overseas before Henry the Navigator. Nhà xuất bản Đại học Nebraska. tr. 73. ISBN 9780803250499.
  63. Lavallée, Joseph; Guéroult, Adolphe (1844). L'Univers: histoire et description de tous les peuples: Espagne (bằng tiếng Pháp). Firmin Didot fréres. tr. 405. OCLC 489808120.
  64. Teixeira Silva, Francisco Carlos (2001). Encontros de civilizações: Brasil 500 anos de história (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Senac. tr. 16–17. ISBN 9788574580579.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  65. Suárez Fernández 1981, tr. 313.
  66. 1 2 Rogers, Clifford (2010). The Oxford Encyclopedia of Medieval Warfare and Military Technology. Quyển 1. Nhà xuất bản Đại học Oxford. tr. 35. ISBN 9780195334036.
  67. López de Ayala, Pero (1780). Cronicas de los reyes de Castilla: Don Pedro, Don Enrique II, Don Juan I, Don Enrique III (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 2. Imprenta de Don Antonio de Sancha. tr. 183. OCLC 164818985.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  68. Suárez Fernández 1976, tr. 427.
  69. 1 2 3 O'Callaghan 1983, tr. 532.
  70. Schäffer 1840, tr. 322.
  71. Schäffer 1840, tr. 324–325.
  72. Suárez Fernández, Luis (1955). Juan I, rey de Castilla (1379-1390) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Revista de Occidente. tr. 66. OCLC 1138806.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  73. Livermore 1947, tr. 176.
  74. Stephens 1891, tr. 109.
  75. Campos 2008, tr. 198.
  76. 1 2 Suárez Fernández 1981, tr. 315.
  77. Montes Romero-Camacho, Isabel (1998). "La polémica del testamento de Juan I de Castilla y sus implicaciones castellanas". Historia, Instituciones, Documentos (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad de Sevilla, Secretariado de Publicaciones: Historia. Instituciones. Documentos, n° 25: 437. ISSN 0210-7716.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  78. Batista González, Juan (2007). España estratégica: guerra y diplomacia en la historia de España (bằng tiếng Tây Ban Nha). Silex Ediciones. tr. 208. ISBN 9788477371830.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  79. Las glorias nacionales: grande historia universal de todos los reinos, provincias, islas y colonias de la monarquía española, desde los tiempos primitivos hasta el año de 1852 (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 3. Librerías de la Publicidad y Cuesta. 1853. tr. 386. OCLC 434178927.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  80. Gebhardt 1864, tr. 141.
  81. Olivera Serrano 2005, tr. 94.
  82. Campos 2008, tr. 199–200.
  83. Lardner, Dionysius (1844). Outlines of universal history: embracing a concise history of the world from the earliest period to the present time. Hogan & Thompson. tr. 285. OCLC 15321418.
  84. Canning, Joseph; Lehmann, Hartmut; Winter, Jay (2004). Power, violence and mass death in pre-modern and modern times. Ashgate Publishing, Ltd. tr. 71. ISBN 0754630420.
  85. Kearney, Milo; Medrano, Manuel (2001). Medieval culture and the Mexican American borderlands. Nhà xuất bản Đại học Texas A&M. tr. 188. ISBN 9781585441327.
  86. Gebhardt 1864, tr. 142.
  87. Suárez Fernández 1976, tr. 429.
  88. Gebhardt 1864, tr. 143.
  89. Romero Portilla, Paz (2006). Un observatorio privilegiado de las relaciones entre Castilla y Portugal: Tuy en la Edad Media (bằng tiếng Tây Ban Nha). Quyển 3. Faculdade de Letras da Universidade do Porto, Departamento de Ciências e Técnicas do Património, Departamento de História: Estudos em homenagem ao professor doutor José Marques. tr. 255–256. ISBN 9728932073.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  90. Livermore 1947, tr. 179.
  91. Suárez Fernández, Luis (1977). Historia del reinado de Juan I de Castilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad Autónoma. tr. 240. ISBN 9788470090424.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  92. Olivera Serrano 2005, tr. 100.
  93. Suárez Fernández 1976, tr. 431–433.
  94. Montes Romero-Camacho, Isabel (1998). "La polémica del testamento de Juan I de Castilla y sus implicaciones castellanas". Historia, Instituciones, Documentos (bằng tiếng Tây Ban Nha). Universidad de Sevilla, Secretariado de Publicaciones. Historia. Instituciones. Documentos, n° 25: 458–459. ISSN 0210-7716.{{Chú thích tập san học thuật}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  95. Olivera Serrano 2005, tr. 115–117.
  96. Oliveira Martins, Joaquim Pedro (1956). A vida de Nun' Álvares (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Guimarães Editores. tr. 259. OCLC 15214271.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  97. Olivera Serrano 2005, tr. 234.
  98. Pérez, Joseph (1997). Isabel y Fernando: los Reyes Católicos (bằng tiếng Tây Ban Nha). Editorial NEREA. tr. 17. ISBN 9788489569126.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  99. Hart, Jonathan (2003). Comparing empires. Palgrave Macmillan. tr. 18. ISBN 9781403961884.
  100. Olivera Serrano, 2005, tr. 205–213.
  101. 1 2 Olivera Serrano, 2005, tr. 42, 354 (footnote 2), 397 (footnote 111).
  102. Để xem phả hệ bao gồm Miguel, xem: Die Könige von Kastilien und León IV, 1369–1504 a.d.H. Trastamara des Stammes Burgund-Ivrea, In: Detlev Schwennicke (Hrsg.): Europäische Stammtafeln: Stammtafeln zur Geschichte der Europäischen Staaten, Neue Folge, Band II, Die außerdeutschen Staaten, Die regierenden Häuser der übrigen Staaten Europas, Tafel 65, Verlag von J. A. Stargardt, Marburg/Berlin, 1984, tr. 65.
  103. Olivera Serrano 2005, tr. 138.
  104. Olivera Serrano 2005, tr. 173.
  105. Olivera Serrano 2005, tr. 392.
  106. Olivera Serrano 2005, tr. 176.
  107. David Williamson, «Debrett's Kings and Queens of Europe», 1988, Webb & Bower, Exeter, ISBN 0-86350-194-X; César Olivera Serrano, «Beatriz de Portugal»
  108. García de Cortázar, Fernando (1999), Breve historia de España, Alianza Editorial, tr. 712; Armindo de Sousa, in História de Portugal coordinated by José Mattoso, Editorial Estampa, tập II, ISBN 972-33-0919-X, tr. 494/95
  109. Fernão Lopes, Chronicle of John I, tập I, tr. 193
  110. Oliveira Martins, nhà sử học Bồ Đào Nha thế kỷ 19, «The life of Nun' Alvares», tr. 261, 2009, Guimarães Editores, SA, ISBN 978-972-665-570-1
  111. António Henrique R. de Oliveira Marques, History of Portugal: From Lusitania to Empire, (Nhà xuất bản Đại học Columbia, 1972), tr. 43.
  112. Campos 2008, tr. 16–26.

Nguồn