Batôlômêô Tông đồ
Batôlômêô Tông đồ | |
|---|---|
Tranh vẽ St Bartholomew của Rubens, k. 1611 | |
| Tông Đồ và Thánh tử đạo | |
| Sinh | Thứ nhất sau công nguyên Cana, Galilea, Đế quốc La Mã |
| Mất | k. 69/71 sau công nguyên Albanopolis, Vương quốc Armenia[1][2][3][4] |
| Tôn kính | Tất cả các giáo phái Kitô giáo tôn kính các vị thánh |
| Đền chính |
|
| Lễ kính |
|
| Biểu trưng |
|
| Quan thầy của |
|
Batôlômêô [a] (tiếng Anh: Bartholomew) là một trong số mười hai tông đồ của Chúa Giêsu căn cứ theo Thánh Kinh Tân Ước. Phần lớn các nhà khoa học ngày nay coi thánh Batôlômêô Tông đồ là nhân vật Nathanaen[6] trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan (Gioan 1:45–51; cf. Gioan 21:2).[7][8][9]

Ghi chép theo Tân Ước Batôlômêô Tông đồ
Tên riêng "Batôlômêô" (tiếng Hy Lạp: Βαρθολομαῖος) xuất phát từ tiếng Aram Đế quốc: בר-תולמי, đã Latinh hoá: bar-Tôlmay, n.đ. 'con trai ông Talmai'[10] hay 'con trai của những luống cày.[10] Thánh Batôlômêô được các sách Tin Mừng Nhất Lãm và sách Công vụ Tông đồ liệt kê vào nhóm 12 tông đồ của Chúa Giêsu (Mátthêu 10:1–4, Máccô 3:13–1 và Luca 6:12–16).
Truyền thống Batôlômêô Tông đồ
Trong cuốn Lịch sử Giáo hội (5:10), thánh Eusebius thành Caesarea mô tả rằng sau khi Đức Chúa Giêsu thăng thiên, thánh Batôlômêô đã chu du sang Ấn Độ để rao giảng Tin Mừng. Truyền thống viết rằng ông làm việc thừa sai tại các vùng đất Lưỡng Hà, Parthia, số khác thì thuật rằng ông cũng đi rao giảng tại xứ Lycaonia và Ethiopia.[11] Truyền thống bình dân thì cho rằng thánh Batôlômêô trước tiên rao giảng Tin Mừng tại Ấn Độ rồi sau đó du hành về Armenia.[10]
Truyền giáo tại Ấn Độ
Hai lời chứng cổ đại được lưu giữ cho đến nay về công việc truyền giáo tại Ấn Độ của thánh Batôlômêô thuộc về thánh Eusebius thành Caesarea (đầu thế kỷ 4) và thánh Giêrônimô (cuối thế kỷ 4). Cả hai đều nhắc tới sự kiện trên khi kể chuyện ông thánh Pantaenus thăm Ấn Độ vào thế kỷ 2.[12] Nghiên cứu của Linh mục A. C. Perumalil và Moraes cho rằng thánh Batôlômêô từng truyền giáo tại thành phố cổ Kalyan, nay là vùng đất Mumbai bên bờ biển Konkan.[13] Các học giả trước đây ít là nghi ngờ rằng thánh Batôlômêô đã từng rao giảng Tin Mừng tại Ấn Độ. Stallings (1703), Neander (1853), Hunter (1886), Rae (1892), Zaleski (1915) ủng hộ giả thiết trên, mà Sollerius (1669), Carpentier (1822), Harnack (1903), Medlycott (1905), Mingana (1926), Thurston (1933), Attwater (1935), v.v. thì không. Luận chứng chính mà các học giả đề xuất cho rằng xứ "Ấn Độ" mà thánh Eusebius và Giêrônimô nhắc tới nên được hiểu là xứ Ethiopia hoặc là Nam Ả Rập.[12]
Truyền giáo tại Armenia

Cùng với người bạn tông đồ là Thánh Giuđa "Tađêô", Thánh Batôlômêô được cho là đã truyền bá Kitô giáo đến Armenia vào thế kỷ thứ nhất; kết quả là, vào năm 301, vương quốc Armenia đã trở thành quốc gia đầu tiên trong lịch sử chính thức tiếp nhận Kitô giáo. Do đó, cả hai vị thánh đều được coi là thánh bổn mạng của Giáo hội Tông truyền Armenia. Theo những truyền thống này, Thánh Batôlômêô là Thượng phụ Công giáo thứ hai của Giáo hội Tông truyền Armenia.[14]
Truyền thống Kitô giáo đưa ra ba lời kể về cái chết của Thánh Batôlômêô: "Một lời kể rằng ông bị bắt cóc, đánh bất tỉnh và ném xuống biển cho chết đuối."
Theo truyền thống Hy Lạp, Thánh Batôlômêô bị hành quyết tại Albanopolis ở Armenia, nơi ông chịu tử đạo vì đã cải đạo Polymius, vua địa phương, sang Kitô giáo. Tức giận trước việc cải đạo của nhà vua, và lo sợ sự trả đũa của La Mã, anh trai của Vua Polymius là Hoàng tử Astyages, đã ra lệnh tra tấn và hành quyết Thánh Batôlômêô. Tuy nhiên, phiên bản câu chuyện này dường như phi lịch sử, vì không có ghi chép về bất kỳ vị vua Armenia nào của triều đại Arsacid của Armenia có tên là "Polymius". Các lời kể khác về sự tử đạo của ông ghi rằng vị vua này là Agrippa (đồng nhất với Tigranes VI), hoặc Sanatruk, vua của Armenia.[15]
Tu viện Thánh Batôlômêô thế kỷ 13 là một tu viện nổi tiếng của người Armenia, xây dựng tại địa điểm được cho là nơi tử đạo của Batôlômêô ở Vaspurakan, Đại Armenia (nay thuộc đông nam Thổ Nhĩ Kỳ).[16]
Trong thị kiến của Anne Catherine Emmerich
Theo Thị kiến của Tông đồ, Thánh và Thánh Tử đạo được ghi lại bởi Chân phước Anne Catherine Emmerich (1774–1824), Thánh Batôlômêô lần đầu tiên rao giảng đức tin Kitô giáo tại Ấn Độ, nơi ngài đã cải đạo nhiều người và để lại nhiều tông đồ.[17]
Theo lời kể của Emmerich, vị tông đồ đã du hành về phía đông, đi qua Nhật Bản trước khi trở về phía tây qua Ả Rập và Biển Đỏ đến Abyssinia (ngày nay là Ethiopia). Tại đây, ông được cho là đã cải đạo cho Vua Polymius, làm một người chết sống lại và làm im lặng một tà thần địa phương vốn trước đây từng nói chuyện với dân chúng. Khi Thánh Batôlômêô ra lệnh cho con quỷ ngự trong tà thần tiết lộ những lời dối trá của nó, linh hồn đã thú nhận những phép lạ được cho là do tà thần gây ra chỉ là ảo ảnh nhằm duy trì việc thờ phụng trong dân chúng.
Sau sự kiện này, nhà vua và hoàng gia đã được rửa tội, và Thánh Batôlômêô thánh hiến ngôi đền ngoại giáo trước đây dùng để thờ phượng Chúa thật. Sau đó, ông chữa lành bệnh tật và được dân chúng yêu mến. Tuy nhiên, các tư tế của giáo phái cũ sau đó đã cáo buộc ông trước Astyages, em trai của nhà vua, người đã ra lệnh bắt giữ và tra tấn ông. Emmerich mô tả cuộc tử đạo bằng cách lột da của Thánh Batôlômêô, trong thời gian đó ông tiếp tục rao giảng cho đến khi qua đời. Người ta nói rằng các tín đồ của ông đã lấy lại thi thể ông và chôn cất một cách trang trọng, và sau đó một nhà thờ đã được xây dựng trên đó.
Thị kiến kết thúc với sự cải đạo của Astyages, trong khi các thầy tế tà thần được miêu tả là chết thảm khốc ngay sau đó. Emmerich cũng lưu ý một số nhà chú giải đã nhầm lẫn Batôlômêô với Nathanael; tuy nhiên, trong thị kiến của bà, hai người là khác nhau. Batôlômêô (con trai của Tolmai, thuộc chi tộc Naphtali) rao giảng ở Ấn Độ và Armenia, trong khi Nathanael truyền giáo ở Mauretania và Brittany, và qua đời ở Tréguier, Brittany.[18]
Tôn kính Batôlômêô Tông đồ
Giáo hội Tông truyền Armenia tôn kính Thánh Batôlômêô và Thánh Tađêô là các vị thánh bổn mạng của giáo hội.Giáo hội Chính thống giáo Đông phương tôn kính Batôlômêô vào ngày 11 tháng 6.[19] Batôlômêô cũng được tôn kính vào ngày 25 tháng 8 để kỷ niệm việc chuyển giao thánh tích của Batôlômêô.[20] Ông cũng được tôn kính như một trong mười hai tông đồ vào ngày 30 tháng 6.[21]
Trong Synaxarium của Nhà thờ Chính thống giáo Coptic ở Alexandria, sự tử đạo của Batôlômêô được tưởng niệm vào ngày đầu tiên của lịch Copt (tức là ngày đầu tiên của tháng Thout), hiện rơi vào ngày 11 tháng 9 (tương ứng với ngày 29 tháng 8 trong lịch Julian).
Thánh tích Batôlômêô Tông đồ

Nhà văn thế kỷ thứ 6 Theodorus Lector khẳng định vào khoảng năm 507, hoàng đế Byzantine Anastasius I Dicorus đã trao di hài của Thánh Batôlômêô cho thành phố Daras, ở Lưỡng Hà, nơi mà ông mới tái thiết gần đây.[22] Sự tồn tại của thánh tích tại Lipari, một hòn đảo nhỏ ngoài khơi Sicily, thuộc phần lãnh thổ Ý do Constantinople kiểm soát, theo như giải thích của Gregory thành Tours[23] thì thi thể của ông đã dạt vào đó một cách kỳ diệu. Phần lớn da và nhiều xương của ông lưu giữ tại Nhà thờ chính tòa Thánh Batôlômêô ở Lipari đã chuyển đến Benevento vào năm 838, nơi chúng vẫn được lưu giữ tại Vương cung thánh đường San Bartolomeo. Một phần thánh tích đã được Otto II, Hoàng đế La Mã Thần thánh trao tặng cho Rome vào năm 983, và bảo quản tại San Bartolomeo all'Isola, xây dựng trên địa điểm của đền thờ Asclepius, vào thời ngoại giáo đây là một trung tâm y tế quan trọng của La Mã. Mối liên hệ với y học này đã khiến tên tuổi của Thánh Batôlômêô gắn liền với các bệnh viện theo thời gian.[24] Một phần hộp sọ được cho là của Thánh Batôlômêô đã chuyển đến Nhà thờ chính tòa Frankfurt, trong khi một cánh tay được tôn kính tại Nhà thờ chính tòa Canterbury.Năm 2003, Thượng phụ Batôlômêô I của Constantinople đã mang một số di hài của Thánh Batôlômêô đến Baku như một món quà cho những người theo đạo Thiên chúa ở Azerbaijan, và những di hài này hiện lưu giữ tại Nhà thờ chính tòa Holy Myrrhbearers.[25]
Thánh Batôlômêô được cho là đã thực hiện nhiều phép lạ.[26]
Nghệ thuật và văn học Batôlômêô Tông đồ
Trong các tác phẩm nghệ thuật, Thánh Batôlômêô thường được miêu tả đang cầm trên tay tấm da bị lột của ông và con dao mà người ta đã dùng để lột da ông.[27] Một ví dụ nổi tiếng về điều này thể hiện trong tác phẩm Sự Phán Xét Cuối Cùng của Michelangelo.
Hình ảnh Thánh Batôlômêô quấn da của ông quanh cơ thể rất phổ biến.[28] Hơn nữa, hình ảnh Thánh Batôlômêô với một con quỷ bị xiềng xích rất phổ biến trong hội họa Tây Ban Nha.[28]


Thánh Batôlômêô là vị tử đạo Kitô giáo bị lột da nổi tiếng nhất;[29] Trong thế kỷ 16, hình ảnh Thánh Batôlômêô bị lột da rất phổ biến và chi tiết này đã trở thành một biểu tượng không thể thiếu.[28][27] Tiếng vang tập trung vào những chi tiết này tìm thấy trong các huy hiệu thời trung cổ liên quan đến Thánh Batôlômêô, trong đó mô tả "những con dao lột da có lưỡi bạc và chuôi vàng, trên nền đỏ".[30]
Thánh Batôlômêô thường được miêu tả trong các bản thảo thời trung cổ xa hoa.[31] Cần lưu ý rằng các bản thảo thực chất cũng làm từ da bị lột và xử lý, chúng có mối liên hệ trực quan và nhận thức mạnh mẽ với vị thánh trong thời kỳ trung cổ.[31]
- Bức tranh miêu tả ông trong Nhà nguyện Sistine của Michelangelo.
- Tượng Batôlômêô tại Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô do Pierre Le Gros Trẻ thực hiện.
- Tượng Thánh Batôlômêô của August Wredow trên mái Nhà thờ Helsinki
- Thánh Batôlômêô bị lột da, của Marco d'Agrate, 1562 (Duomo di Milano)
- The Martyrdom of St. Bartolomew or the Double Martydom của Aris Kalaizis, 2015
- Tấm khiên có hình ba con dao đang lột da, biểu tượng của Thánh Batôlômêô, tại Nhà thờ Good Shepherd (Rosemont, Pennsylvania)
- Thánh Batôlômêô được mô tả trong huy hiệu của Pertteli
Xem thêm Batôlômêô Tông đồ
- Phúc Âm Batôlômêô
- Thảm sát Ngày lễ Thánh Barthélemy
Tham khảo Batôlômêô Tông đồ
Chú thích
- ↑ Aramaic: ܒܪ ܬܘܠܡܝ; tiếng Hy Lạp cổ: Βαρθολομαῖος, đã Latinh hoá: Bartholomaîos; tiếng Latinh: Bartholomaeus; tiếng Armenia: Բարթողիմէոս; tiếng Copt: ⲃⲁⲣⲑⲟⲗⲟⲙⲉⲟⲥ; tiếng Hebrew: בר-תולמי, đã Latinh hoá: bar-Tôlmay; tiếng Ả Rập: بَرثُولَماوُس, đã Latinh hoá: Barthulmāwus
Trích dẫn
- ↑ "Saint Bartholomew | Christian Apostle | Britannica". www.britannica.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Lives of the Saints: August: 24. St. Bartholomew, Apostle". sacred-texts.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Eerdmans Dictionary of the Bible by David Noel Freedman, Allen C. Myers, and Astrid B. Beck ,2000,page 152: "... Bartholomew preached to the Indians and died at Albanopolis in Armenia). It was condemned in the Gelasian decree, referred ..."
- ↑ The Untold Story of the New Testament Church: An Extraordinary Guide to Understanding the New Testament by Frank Viola,page 170: "... one of the Twelve, is beaten and crucified in Albanopolis, Armenia. ..."
- ↑ Curtin, D. P. (tháng 7 năm 2015). Jacobite Arab Synaxarium- Volume I. Dalcassian Publishing Company. ISBN 9781088061237.
- ↑ Green, McKnight & Marshall 1992, tr. 180.
- ↑ "What Do We Know about Nathanael – the Disciple without Deceit? - Topical Studies". Bible Study Tools (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Meet the Apostle Nathanael, a 'True Israelite'". Learn Religions (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2024.
- ↑ Raymond F. Collins, "Nathanael 3," in The Anchor Bible Dictionary, vol. 4 (New York: Doubleday), p. 1031.
- 1 2 3 Butler & Burns 1998, tr. 232.
- ↑ Encyclopædia Britannica, Micropædia. vol. 1, p. 924. Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1998. ISBN 0-85229-633-9.
- 1 2 "Mission of Saint Bartholomew, the Apostle in India". Nasranis. ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Perumalil 1971.
- ↑ Gilman, Ian; Klimkeit, Hans-Joachim (ngày 11 tháng 1 năm 2013). Christians in Asia before 1500. Routledge. ISBN 9781136109782.
- ↑ Curtin, D. P. (tháng 1 năm 2014). The Martyrdom of St. Bartholomew: Greek, Arabic, and Armenian Versions. Dalcassian Publishing Company. ISBN 9798868951473.
- ↑ "The Condition of the Armenian Historical Monuments in Turkey". raa.am. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Emmerich, Anne Catherine. Visions of the Apostles, Martyrs and Saints. Valde.com.br (digitized edition). transl. 20th cent.
- ↑ Emmerich, Anne Catherine. Visions of the Apostles, Martyrs and Saints. Valde.com.br (digitized edition). tr. 13–15.
- ↑ "Apostle Bartholomew of the Twelve". Orthodox Church in America. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Return of the Relics of the Apostle Bartholomew from Anastasiopolis to Lipari". Orthodox Church in America. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Synaxis of the Holy, Glorious and All-Praised Twelve Apostles". Orthodox Church in America. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Smith & Cheetham 1875, tr. 179.
- ↑ Gregory, De Gloria Martyrum, i.33.
- ↑ Attwater & John 1995.
- ↑ "KONSTANTİNOPOL PATRİARXI I VARFOLOMEY AZƏRBAYCANA GƏLMİŞDİR". azertag.az. ngày 16 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2021.
- ↑ "Golden Legend: Life of St. Bartholomew the Apostle". www.christianiconography.info. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2021.
- 1 2 Crane 2014, tr. 5.
- 1 2 3 Giorgi 2003, tr. 51.
- ↑ Mittman & Sciacca 2017, tr. viii, 141.
- ↑ Post 2018, tr. 12.
- 1 2 Kay 2006, tr. 35–74.
Nguồn
- Attwater, Donald; John, Catherine Rachel (1995). The Penguin Dictionary of Saints. Penguin. ISBN 978-0-14-051312-7.
- Bacon, Francis (1942). New Atlantis. New York: W. J. Black.
- Benedict XVI (ngày 4 tháng 10 năm 2006). "General Audience". vatican.va. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- Bissell, Tom (ngày 1 tháng 3 năm 2016). "A Most Violent Martyrdom". Lapham's Quarterly. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- Butler, Alban; Burns, Paul (1998). Butler's Lives of the Saints: August. A&C Black. ISBN 978-0-86012-257-9.
- Cavendish, Richard (ngày 9 tháng 9 năm 2005). "London's Last Bartholomew Fair". History Today. Quyển 55 số 9.
- Crane, Thomas Frederick (2014). Tales from Italy: When Christianity Met Italy. M&J. ISBN 979-11-951749-4-2.
- Damo-Santiago, Corazon (ngày 28 tháng 8 năm 2014). "Saint Bartholomew the Apostle skinned alive for spreading his faith". BusinessMirror. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
- Decker, John R.; Kirkland-Ives, Mitzi (2017). "Death, Torture and the Broken Body in European Art, 1300–1650 ". Taylor & Francis. ISBN 978-1-351-57009-1.
- DeGrazia, Diane; Garberson, Eric (1996). Italian Paintings of the Seventeenth and Eighteenth Centuries. Edgar Peters Bowron, Peter Lukehart, Mitchell Merling. National Gallery of Art. ISBN 978-0-89468-241-4.
- de Voragine, Jacobus; Duffy, Eamon (2012). The Golden Legend: Readings on the Saints. William Granger Ryan biên dịch. Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-4205-6.
- Dorkin, Molly (2003), Dorkin, Molly K. (biên tập), "Sotheby's", Oxford Art Online, Oxford University Press, doi:10.1093/gao/9781884446054.article.t079852, ISBN 978-1-884446-05-4
- Fabricius, Johann Albert (1703). Codex Apocryphus Novi Testamenti: collectus, castigatus testimoniisque, censuris & animadversionibus illustratus. sumptib. B. Schiller.
- Fenlon, John Francis (1907). . Trong Herbermann, Charles (biên tập). Catholic Encyclopedia. Quyển 2. New York: Robert Appleton Company.
- Giorgi, Rosa (2003). Saints in Art. Getty Publications. ISBN 978-0-89236-717-7. OCLC 50982363.
- Green, Joel B.; McKnight, Scot; Marshall, I. Howard (1992). Dictionary of Jesus and the Gospels: A Compendium of Contemporary Biblical Scholarship. InterVarsity Press. ISBN 978-0-8308-1777-1.
- Kay, S. (2006). "Original Skin: Flaying, Reading, and Thinking in the Legend of Saint Bartholomew and Other Works". Journal of Medieval and Early Modern Studies (bằng tiếng Anh). 36 (1): 35–74. doi:10.1215/10829636-36-1-35. ISSN 1082-9636.
- Lillich, Meredith Parsons (2011). The Gothic Stained Glass of Reims Cathedral. Penn State Press. ISBN 978-0-271-03777-6.
- Meier, John P. (1991). A Marginal Jew: Companions and competitors. Doubleday. ISBN 978-0-385-46993-7.
- Mittman, Asa Simon; Sciacca, Christine (2017). Tracy, Larissa (biên tập). Flaying in the Pre-modern World: Practice and Representation. Boydell & Brewer. ISBN 978-1-84384-452-5.
- Noegel, Scott B.; Wheeler, Brannon M. (2002). Historical Dictionary of Prophets in Islam and Judaism. Lanham, MD: Scarecrow. ISBN 978-0-8108-4305-9.
- Post, W. Ellwood (2018). Saints, Signs, and Symbols. Papamoa Press. ISBN 978-1-78720-972-5.
- Smith, Dwight Moody (1999). Abingdon New Testament Commentaries. Quyển 4: John. Abingdon Press. ISBN 978-0-687-05812-9.
- Smith, William; Cheetham, Samuel (1875). A Dictionary of Christian Antiquities: A-Juv. J. Murray.
- Spilman, Frances (2017). The Twelve: Lives and Legends of The Apostles. Lulu.com. ISBN 978-1-365-64043-8.
- Teunis, D. A. (2003). Satan's Secret: Exposing the Master of Deception and the Father of Lies. AuthorHouse. ISBN 978-1-4107-3580-5.
- West, Shearer (1996). The Bloomsbury Guide to Art. Bloomsbury. OCLC 246967494.
Đọc thêm
- Hanks, Patrick; Hodges, Flavia; Hardcastle, Kate (2016). A Dictionary of First Names. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-880051-4.
- Perumalil, A. C. (1971). The Apostles in India. Jaipur: Xavier Teachers' Training Institute.
Liên kết ngoài Batôlômêô Tông đồ
- Bài viết có văn bản tiếng Aram Đế quốc (700-300 TCN)
- Mười hai Sứ đồ
- Thánh Công giáo Rôma
- Thánh Chính Thống giáo Đông phương
- Tử đạo Kitô giáo
- Tử đạo Kitô giáo thế kỷ thứ nhất
- Thánh Anh giáo
- Thánh từ Đất Thánh
- Nhân vật hành quyết bằng đóng đinh