Bộ sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài
| Bộ sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài | |
|---|---|
Bảo vật quốc gia đợt 2 (2013) – QĐ 2599/QĐ-TTg[1] | |
| Chất liệu | Vàng |
| Kích thước | Lá minh văn: ~21 × 4 cm; các lá chạm phổ biến: 2,9–5,0 × 2,1–3,3 cm; vòng tay hình rắn: dài ~16 cm, Ø ~5,5 cm[2] |
| Niên đại | TK VII–IX (văn hóa Óc Eo muộn; đối chiếu minh văn TK VII–VIII)[2][3][4] |
| Địa điểm phát hiện | Hố thờ trung tâm kiến trúc gạch tại Di tích Gò Xoài (cụm Di tích khảo cổ Bình Tả, Đức Hòa, Long An)[2] |
| Thời điểm phát hiện | 1987[2] |
| Phát hiện bởi | Bảo tàng Long An phối hợp cơ quan nghiên cứu khảo cổ[2] |
| Hiện lưu trữ tại | Bảo tàng Long An (Bảo tàng – Thư viện Long An)[3] |
| Số đăng ký | BTLA 2505/KL40 – BTLA 3565/KL82[3] |
Bộ sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài là tên gọi của nhóm 26 đồ vật làm bằng vàng được phát hiện in situ trong hố thờ trung tâm của một kiến trúc gạch dạng tháp tại di tích Gò Xoài ở ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cũ (nay là xã Đức Hòa, tỉnh Tây Ninh), thuộc giai đoạn muộn của văn hóa Óc Eo.[2] Nổi bật là một lá vàng khoảng 21 × 4 cm khắc chữ Phạn–Pāli gồm Kệ Duyên sinh (tiếng Phạn: ये धर्मा हेतुप्रभवा), một bài kệ tóm lược Tứ diệu đế và hai câu chân ngôn, chữ thuộc hệ chữ Pallava Đông Nam Á.[4][5] Vào ngày 30 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã công nhận bộ sưu tập là Bảo vật quốc gia (đợt 2); đơn vị lưu giữ là Bảo tàng – Thư viện Long An, với dãy số đăng ký từ BTLA 2505/KL40 đến BTLA 3565/KL82.[1][3]
Bối cảnh & định nghĩa
Di tích Gò Xoài nằm trong di tích khảo cổ Bình Tả, một cụm 17 phế tích và di chỉ cư trú thuộc văn hóa Óc Eo, được xếp hạng di tích lịch sử–văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định 1570/VH‑QĐ ngày 05-09-1989.[6] Cụm Bình Tả được nhà khảo cổ người Pháp Henri Parmentier ghi nhận từ năm 1910; sau đó nhà khảo cổ Jean-Yves Claeys khai quật một kiến trúc gạch ở Gò Tháp Lấp năm 1931; các đợt 1987–1988 tiếp tục khai quật Gò Đồn, Gò Xoài, Gò Năm Tước.[6] Trong cùng cụm, Gò Đồn và Gò Năm Tước mang đặc trưng kiến trúc Ấn Độ giáo, còn Gò Xoài cho thấy đặc trưng Phật giáo với hố thờ trung tâm theo mô thức tháp phù đồ (stūpa).[2][6] Kệ Duyên sinh (tiếng Phạn: pratītyasamutpāda‑gāthā/ye dharmā) trong Phật giáo thường được tôn trí như xá‑lợi Pháp trong lòng tháp/tượng, là thực hành được ghi nhận rộng khắp Nam Á–Đông Nam Á thời xưa.[7][8]
Lịch sử hình thành, phát hiện
Tháng 3 năm 1987, Bảo tàng Long An phối hợp cơ quan nghiên cứu triển khai khai quật Gò Xoài, phát hiện một kiến trúc gạch bình đồ vuông cỡ 15,2 × 15,15 m, bên trong có hố thờ vuông 2,2 × 2,2 m với trụ gạch hình svastika đặt chính tâm và một hộc cát trắng ở đáy hố.[2] Trong hộc cát có 26 hiện vật vàng, cùng tro xương, mảnh gốm kiểu Óc Eo và một số mẫu kim loại nhỏ, cho thấy đây là relic deposit trong nghi lễ tôn trí tháp.[2] Một bài báo địa phương ghi nhận niên đại ước tính 1.588 ± 65 năm cách ngày nay cho trung tâm Bình Tả dựa trên tư liệu khảo cổ học, phản ánh mốc muộn của Óc Eo ở khu vực Long An.[6]
Đặc điểm
Thành phần, quy cách
Sưu tập gồm 26 hiện vật chia hai nhóm: trang sức (4 nhẫn nạm đá quý; 1 mặt đeo hình lá đề nạm đá; 1 vòng tay dập hình rắn) và vàng lá (20 mảnh gồm 1 lá có minh văn; 8 lá chạm hình voi; 2 lá cắt hoa sen 12 cánh; 1 lá cắt hoa sen 8 cánh; 1 lá chạm rùa; 1 lá chạm nhân hình; một số mảnh trơn hoặc không rõ họa tiết).[2][3] Theo hồ sơ bảo vật, các lá vàng chạm hình có kích thước phổ biến dài 2,9–5,0 cm, rộng 2,1–3,3 cm; toàn bộ nhóm được đăng ký từ BTLA 2505/KL40 đến BTLA 3565/KL82.[3] Một số kích thước tiêu biểu: vòng tay hình rắn dài khoảng 16 cm, đường kính 5,5 cm;[2] lá vàng chạm rùa 4,5 × 3,6 cm;[2] hoa sen 12 cánh dạng tròn (đường kính ~7,0 cm và ~5,4 cm) và hoa sen 8 cánh (đường kính ~7,5 cm); nhẫn vàng đường kính 1,6–2,3 cm với mặt gắn đá màu đỏ, xanh, trắng.[2] Lá chạm nhân hình thể hiện một nữ nhân dáng đứng lệch hông (tribhaṅga).[3]
Minh văn
Lá vàng chữ hình chữ Nhật (dài ~21 cm, rộng ~4 cm) khắc nổi 5 dòng văn Phạn–Pāli: (1) kệ Duyên sinh với cụm tiếng Phạn: ye dharmā hetuprabhavā (dị bản tiếng Phạn: avaca/avadat), (2) một bài kệ tóm lược Tứ diệu đế với cụm tiếng Pali: ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, (3–5) hai chân ngôn (dhāraṇī) ngắn mở đầu tiếng Phạn: tadyathā và kết tiếng Phạn: svāhāḥ; chữ thuộc hệ Pallava Đông Nam Á, ngôn ngữ ở mức Trung Ấn ngữ (Middle Indo‑Aryan).[4][5] Mô tả hành chính của cơ quan quản lý di sản ghi dòng (2) là “một đoạn Kinh Pháp cú”, phản ánh cách gọi phổ thông về bài kệ tóm lược giáo lý căn bản.[3] Lá vàng có minh văn thường được quy dẫn theo ký hiệu DHARMA K.1330.[3][5] Đây là hiện vật duy nhất thuộc loại này được tìm thấy trong các di tích Óc Eo, qua đó góp phần khẳng định chức năng của kiến trúc Gò Xoài là một tháp Phật giáo.[3]
Tình trạng, tạo hình
Một số mảnh sứt rìa, có dấu hiệu oxy hóa nhẹ; mô-típ chạm phổ biến gồm voi nhìn ngang/chính diện, hoa sen, rùa, rắn và nhân hình, cho thấy sự pha trộn giữa nguồn gốc Ấn Độ và yếu tố Dvāravatī.[2][3]
Định niên đại
So sánh thư pháp và đối chiếu khu vực đặt niên đại minh văn TK VII–VIII; một số ý kiến dựa bối cảnh kiến trúc gợi TK VIII–IX, phù hợp quy hoạch Óc Eo muộn vùng hạ Mê Kông.[2][4] Cơ quan quản lý bảo vật xếp niên đại sưu tập vào thế kỷ IX sau Công nguyên (văn hóa Óc Eo muộn).[3]
Ảnh hưởng & tác động
Sưu tập được xem là chứng cứ sớm và rõ về sự hiện diện của kệ Duyên sinh và thực hành tôn trí xá‑lợi Pháp tại vùng đất Việt, góp phần định danh chức năng Phật giáo của kiến trúc Gò Xoài trong tổng thể Bình Tả.[2][4][7] Theo Cục Di sản văn hóa, minh văn Phật giáo trên lá vàng là “di vật duy nhất thuộc loại này” trong các di tích Óc Eo đã biết, qua đó củng cố nhận định về một stūpa Phật giáo ở Gò Xoài và cho phép bàn sâu hơn về tiếp biến nghệ thuật – nghi lễ Óc Eo với Dvāravatī.[3]
Phê bình, tranh luận & pháp lý
Trong nghiên cứu Việt Nam, từng có ý kiến xem Gò Xoài là “mộ thờ”, trong khi quan điểm dựa vào minh văn, cấu trúc hố thờ–trụ svastika cho rằng đây là tháp phù đồ Phật giáo; khác biệt này phản ánh cách tiếp cận khảo cổ–nghi lễ khác nhau.[2] Về niên đại, paleography gợi TK VII–VIII, còn định niên theo bối cảnh kiến trúc/hố thờ đôi khi gợi muộn hơn TK VIII–IX; hồ sơ bảo vật chấp nhận khung thế kỷ IX.[3][4] Pháp lý: nhóm hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia theo Quyết định 2599/QĐ‑TTg (2013-12-30).[1]
Tình trạng hiện nay
Bộ sưu tập hiện lưu giữ tại Bảo tàng Long An, đã được giới thiệu trong các ấn phẩm nghiên cứu và trưng bày bảo tàng; do yêu cầu bảo quản đặc thù, việc trưng bày trực quan toàn bộ hiện vật tại Long An có thời điểm còn hạn chế theo thông tin địa phương.[2][6] Báo chí tỉnh nêu thêm rằng cùng với Tượng thần Viṣṇu (thế kỷ VII–VIII) ở Gò Trâm Quỳ, đây là một trong hai bảo vật quốc gia tiêu biểu của Long An; cả hai từng góp mặt tại một số trưng bày nghệ thuật cổ Việt Nam ở Houston và New York khoảng năm 2010 (ghi nhận báo chí địa phương).[6]
Thuật ngữ & tên gọi
Bài dùng tên “Bộ sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài” theo hồ sơ bảo vật quốc gia; trong văn bản học thuật quốc tế.[3][5]
Xem thêm
- Di tích Gò Xoài
- Di tích khảo cổ Bình Tả
- Văn hóa Óc Eo
- Kệ Duyên sinh
- Bảo vật quốc gia (Việt Nam)
Chú thích
- 1 2 3 "Quyết định số 2599/QĐ‑TTg ngày 2013-12-30 về việc công nhận Bảo vật quốc gia (đợt 2)". Cổng thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 Trương, Văn Sang (2021). "Sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài – Bảo vật quốc gia đang lưu giữ tại Bảo tàng Long An" (PDF). Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 "Bộ sưu tập hiện vật vàng". Cục Di sản văn hóa. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Skilling, Peter (2002). "Some Citation Inscriptions from South‑East Asia". Journal of the Pali Text Society (bằng tiếng Anh). Quyển 27. tr. 159–175. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 "Gò Xoài gold foil (K. 1330), 7th–8th century CE". DHARMA Epigraphy (ERC) (bằng tiếng Anh). 2024. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 3 4 5 6 Nguyễn, Tấn Quốc (ngày 8 tháng 6 năm 2015). "Di tích khảo cổ chứa đựng bảo vật quốc gia". Báo Long An. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- 1 2 Boucher, Daniel (1991). "The Pratītyasamutpādagāthā and Its Role in the Medieval Cult of the Relics". Journal of the International Association of Buddhist Studies (bằng tiếng Anh). Quyển 14 số 1. tr. 1–27. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
- ↑ Skilling, Peter (2003). "Traces of the Dharma: Preliminary reports on some ye dhammā and ye dharmā inscriptions from Mainland South‑East Asia". Bulletin de l’École française d’Extrême‑Orient (bằng tiếng Anh). Quyển 90–91. tr. 273–287. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2025.
Thư mục tài liệu tham khảo
- Lê, Thị Liên (2005). "Gold plaques and their cultural contexts in the Oc Eo culture" (PDF). Bulletin of the Indo‑Pacific Prehistory Association (bằng tiếng Anh). Quyển 25. tr. 145–153. doi:10.7152/bippa.v25i0.11930.
- Nguyễn, Tấn Quốc (ngày 8 tháng 6 năm 2015). "Di tích khảo cổ chứa đựng bảo vật quốc gia". Báo Long An.
- "THÔNG BÁO KHOA HỌC SỐ 2 NĂM 2021 (mục: Sưu tập hiện vật vàng Gò Xoài)". Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. ngày 1 tháng 3 năm 2022.
- Văn hóa Óc Eo
- Bảo vật quốc gia của Việt Nam
- Nghệ thuật Phật giáo
- Nghệ thuật Ấn Độ giáo