Bản sắc da trắng

Bản sắc da trắng (White identity) hay Danh tính da trắng hay định danh da trắng đề cập đến trạng thái ý thức chủ quan của một cá nhân về việc tự nhận mình thuộc về chủng tộc da trắng và những ý nghĩa (về văn hóa, xã hội, chính trị) gắn liền với sự tự nhận thức bản thân theo nhận dạng là người da trắng. Bản sắc da trắng đã được nghiên cứu trong dữ liệu và các cuộc thăm dò ý kiến, trong lịch sử và trong các ngành khoa học xã hội. Tuy nhiên, trong giới truyền thông và học thuật có những quan điểm phân cực về việc liệu một bản sắc chủng tộc da trắng nổi trội mà không làm giảm giá trị của các nhóm chủng tộc khác có hợp lý hay không hoặc có thể đạt được điều này trong môi trường chính trị của thế giới phương Tây hay không. Đối với nhiều người da trắng ở các quốc gia đa chủng tộc như Hoa Kỳ hay Úc thì bản sắc da trắng của họ gắn liền với di sản và nguồn gốc tổ tiên đến từ châu Âu. Bản sắc này liên quan đến truyền thống, ngôn ngữ, tôn giáo (thường là Cơ Đốc giáo) và các di sản văn hóa cụ thể. Các cuộc thăm dò do Democracy Fund tiến hành vào năm 2016, năm 2017 và năm 2018 cho thấy 9% cử tri ủng hộ Donald Trump có đi nhà thờ đã cho biết bản sắc da trắng là "cực kỳ quan trọng đối với họ", trong khi có tới 26% những người không đi nhà thờ chút nào báo cáo điều tương tự.[1] Nghiên cứu của nhà khoa học chính trị Ashley Jardina đã tiết lộ rằng khoảng 40% người da trắng ở Mỹ thừa nhận một mức độ nào đó về bản sắc da trắng.[2] Năm 2020, Julia Ebner, một nhà nghiên cứu về khủng bố và chủ nghĩa cực đoan đã phác thảo về việc sự suy giảm các bản sắc thay thế ở các cá nhân có thể khiến bản sắc da trắng trở thành một phương tiện tập trung "bao trùm tất cả" để tương tác trên thế giới.[3]
Bối cảnh Bản sắc da trắng

Nhà sử học David Roediger đã phác thảo về việc các tác phẩm, bắt đầu từ những năm 1980, của các nhà văn như James Baldwin và Toni Morrison, đã bắt đầu thảo luận một cách rõ ràng về "những sự phức tạp và cái giá của bản sắc da trắng".[4] Năm 1999, tác giả Charles A. Gallagher của Đại học La Salle cho rằng nhận thức về tiêu chuẩn kép chủng tộc đang tạo ra một "nền tảng cho bản sắc da trắng dựa trên niềm tin rằng người da trắng hiện đang bị vây bủa".[5] Hai thập kỷ sau, nhà hoạt động chính trị Leah Greenberg đã đề cập đến một "phong trào bất bình về bản sắc da trắng".[6] Vào tháng 4 năm 2019, hãng thông tấn AP đã đưa tin về đề xuất của nhà hoạt động Rashad Robinson rằng các ứng cử viên Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 2020 cần làm nhiều hơn là chỉ giải quyết vấn đề bản sắc da trắng, bằng cách biến đặc quyền thành hành động nhằm giải quyết sự bất bình đẳng.[7]
Một bài viết trên tờ New York Times năm 2016, mô tả "một cuộc khủng hoảng về bản sắc da trắng", đã phân tích một số yếu tố phức tạp liên kết với nhau về chính trị, kinh tế và văn hóa có liên quan đến nó: "Cuộc đấu tranh cho bản sắc da trắng không chỉ là một vấn đề chính trị; nó còn là về "câu chuyện sâu thẳm" của cảm giác bị mắc kẹt trong khi những người khác đang tiến lên. Có lẽ sẽ không có sự trở lại của yếu tố da trắng của sự thống trị xã hội và bản sắc dân tộc độc quyền. Nhập cư không thể bị dừng lại mà không gây tổn hại cho nền kinh tế của các quốc gia phương Tây, những người nhập cư đã đến không thể bị trục xuất hàng loạt mà không gây ra những thiệt hại về xã hội và đạo đức. Và các nhóm khác dường như đang "chen hàng" thực tế đang có được cơ hội tiến bộ vốn đã bị từ chối từ lâu".[8] Sự phòng thủ, hay sự mong manh của người da trắng, đã được mô tả là một cách xây dựng "một bản sắc da trắng vô tội".[9] Trong các xã hội đa sắc tộc thì "da trắng" được xem là một phạm trù xã hội, được định hình trong lịch sử thông qua sự tương quan và thường là đối lập với các nhóm chủng tộc khác. Trong nghiên cứu xã hội học và lý thuyết chủng tộc phản biện thường được phân tích gắn liền với các cấu trúc quyền lực và "đặc quyền da trắng" khi những lợi thế xã hội, kinh tế và chính trị vô hình mà người da trắng được hưởng trong các xã hội đó. Trong những thập kỷ gần đây, thuật ngữ "bản sắc da trắng" đã trở nên bị chính trị hóa, thường gắn liền với các phong trào dân tộc chủ nghĩa da trắng và chủ nghĩa thượng đẳng da trắng.
Nghiên cứu Bản sắc da trắng

Việc nghiên cứu về bản sắc da trắng bắt đầu một cách nghiêm túc khi lĩnh vực nghiên cứu về tính da trắng hiện đại được thiết lập trong các trường đại học và trong nghiên cứu học thuật vào giữa những năm 1990. Công trình của Ruth Frankenberg, cùng với các khái niệm quan trọng khác, đã xem xét mối quan hệ giữa tính da trắng và bản sắc da trắng và cố gắng "gỡ rối từng thứ khỏi nhau" về mặt trí tuệ.[10] Năm 2001, nhà xã hội học Howard Winant đã đề xuất cách thức mà phương pháp luận giải cấu trúc, trái ngược với chủ nghĩa bãi bỏ, có thể giúp xem xét lại bản sắc da trắng và mối liên hệ của nó với tính da trắng.[11] Nghiên cứu Phát triển Bản sắc da trắng năm 1982 của Giáo sư Rita Hardiman được thực hiện tại Đại học Massachusetts Amherst. Được mô tả là "một mô hình định hướng quy trình để mô tả ý thức chủng tộc của người Mỹ da trắng", nghiên cứu này là tiền thân cho các mô hình dựa trên quy trình và dữ liệu sau này.[12]
Năm 1990, nghiên cứu phát triển bản sắc chủng tộc da trắng của Janet E. Helms đã khám phá những nhận thức và sự tự nhận dạng của người da trắng.[13] Helms đã được ghi công là người phát triển một trong những mô hình sớm nhất mô tả một quá trình tiến tới bản sắc da trắng phi phân biệt chủng tộc.[14] Năm 1996, các nhà tâm lý học James Jones và Robert T. Carter cũng đã nghiên cứu và đưa ra hướng dẫn về các bước tâm lý liên quan đến việc đạt được "một bản sắc da trắng đích thực phi phân biệt chủng tộc".[15] Nhà khoa học chính trị Christopher D. DeSante của Đại học Indiana vào năm 2019 đã phát triển mô hình Sự đồng cảm chủng tộc điều tiết bản sắc da trắng và sự phẫn uất chủng tộc như thế nào. Mô hình này, được Thomas B. Edsall phân tích, được thiết kế để đo lường bản sắc da trắng trong bối cảnh của sự phẫn uất và sự đồng cảm đối với những người không phải da trắng.[16]
Sự cực đoan Bản sắc da trắng
Vào tháng 3 năm 2019, kẻ xả súng trong vụ tấn công khủng bố Christchurch ở New Zealand đã gọi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ Donald Trump năm 2016 "như một biểu tượng của bản sắc da trắng được làm mới và mục đích chung".[17][18] Vào tháng 6 năm 2019, CNN đã đưa tin về việc các lời kêu gọi của phong trào nhận diện nhằm tôn vinh bản sắc da trắng thường đi kèm với việc kích động bạo lực chống lại những người không phải da trắng.[19] Brian Levin, giáo sư tại Đại học Bang California ở San Bernardino, đã mô tả việc thúc đẩy bản sắc da trắng và lập trường chống nhập cư là một sự đóng gói lại của chủ nghĩa thượng đẳng da trắng.[20] Học giả Eddie Glaude cũng đưa ra giả thuyết tương tự rằng bất kỳ biểu hiện nào của bản sắc da trắng đều là một hình thức của chủ nghĩa thượng đẳng chủng tộc.[2]
Chú thích Bản sắc da trắng
- ↑ Survey Data Driving the Insights, United States: Democracy Fund, 2016
- 1 2 "How Donald Trump Played the (White) Race Card and Reshaped the Democratic Party". Newsweek. ngày 6 tháng 3 năm 2019.
Eddie Glaude, a Princeton University religion professor who writes about race and politics, is less generous; he considers any level of white identity as racism by another name.
- ↑ Julia Ebner (ngày 10 tháng 2 năm 2020). "Swiping right into the alt-right online dating world". The Sydney Morning Herald.
As other layers of their identity are erased, their white identity becomes all-embracing and serves as the single most important point of connection with other people.
- ↑ Claudia Rankine (ngày 17 tháng 7 năm 2019). "I Wanted to Know What White Men Thought About Their Privilege. So I Asked". The New York Times.
- ↑ Abby L. Ferber (1999). "No Final Solutions". White Man Falling: Race, Gender, and White Supremacy. Rowman & Littlefield Publishers. tr. 147. ISBN 978-0847690268.
"The perception that a racial double standard exists on campus is commonplace ... [and] provides[s] the foundation for a white identity based on the belief that whites are now under siege".)
- ↑ David Smith (ngày 21 tháng 12 năm 2019). "The decade that shook America". The Guardian.
.
- ↑ Errin Haines Whack (ngày 26 tháng 7 năm 2019). "White presidential hopefuls face 'woke litmus test' on race". The Village Voice.
- ↑ Amanda Taub (ngày 1 tháng 11 năm 2016). "Behind 2016's Turmoil, a Crisis of White Identity". The New York Times.
- ↑ Micaela DiLeonardo (ngày 26 tháng 7 năm 2019). "The White Issue: White Fright". The Village Voice. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2019.
Defense is more complicated and interesting. White Americans across class, gender, and region try to define themselves out of the oppressor class, to construct a blameless white identity.
- ↑ Ravi Malhotra; Morgan Rowe (2007). "Rowe and Malhotra". Trong Leda M. Cooks; Jennifer S. Simpson (biên tập). Whiteness, Pedagogy, Performance: Dis/Placing Race. Lexington Books. ISBN 978-0739114629.
Whiteness studies effectively demonstrate the connection between white identities and whiteness as a social construction, they do not reveal how we can disentangle each from the other ... The slippage between white identity and whiteness that occurs in Frankenberg's text is widespread, particularly within the foundational texts within the field of whiteness studies.
- ↑ Howard Winant (2001). "Howard Winant". Trong Birgit Brander Rasmussen; Irene J. Nexica; Eric Klinenberg; Matt Wray (biên tập). The Making and Unmaking of Whiteness. Duke University Press. tr. 107. ISBN 978-0822327400.
I understand deconstructing whiteness to mean rethinking and changing ideas about white identity and reorienting the practices consequent upon these ideas.
- ↑ Christine Clark; James O'Donnell (1999). Becoming and Unbecoming White: Owning and Disowning a Racial Identity. Praeger Publishing. tr. 69. ISBN 978-0897896214.
During the past fifteen years, a number of models have been developed that trace White identity as a developmental process (e.g., Hardiman, 1982; Helms, 1990b).)
- ↑ Robert T. Carter (1995). "White Racial Identity". The Influence of Race and Racial Identity in Psychotherapy: Toward a Racially Inclusive Model. John Wiley & Sons. tr. 101. ISBN 978-0471245339.
Helms (1990) states that "the development of White identity in the United States is closely intertwined with the development and progress of racism in this country.)
- ↑ M. Carolyn Clark (2000). "An Update on Adult Development Theory". An Update on Adult Development Theory: New Ways of Thinking About the Life Course: New Directions for Adult and Continuing Education. Jossey-Bass. tr. 42. ISBN 978-0787911713.
Helms instead refers to the status of white racial identity. Her first three statuses outline how a white individual progress away from a racist frame before moving to the next three statuses where they discover a nonracist white identity.)
- ↑ Raymond G. Hunt; Benjamin Paul Bowser (1996). "Introduction to the Second Edition". Impacts of Racism on White Americans. SAGE Publications. tr. xxiv. ISBN 978-0803949942.
James M. Jones teams up with Robert T. Carter to up-date the definition of the three levels of racism ... reviewing new theory and research on white identity and describing the psychological stages one goes through to achieve an authentically nonracist white identity.)
- ↑ How Racial Empathy Moderates White Identity and Racial Resentment, Indiana University, 2019
- ↑ Michael Burke (ngày 17 tháng 3 năm 2019). "US ambassador: No credibility to New Zealand attack suspect citing Trump as symbol of 'white identity'". The Hill.
- ↑ "New Zealand mosque attacks suspect praised Trump in manifesto". Al Jazeera. ngày 16 tháng 3 năm 2019.
- ↑ Mallory Simon; Sara Sidner (ngày 16 tháng 3 năm 2019). "White supremacists increase recruiting efforts at colleges, ADL says". CNN.
On websites, social media and sometimes fliers, calls to support one's white identity are often followed with messages urging attacks on anyone who is not white.
- ↑ Jack Healy (ngày 18 tháng 8 năm 2019). "Amid the Kale and Corn, Fears of White Supremacy at the Farmers' Market". The New York Times.
Brian Levin, director of the Center for the Study of Hate and Extremism at California State University, San Bernardino, described the European-rooted identitarian movement as repackaged white supremacy that opposed immigration and promoted white identity.