Bái hỏa giáo
Trang hay phần này đang được viết mới, mở rộng hoặc đại tu. Bạn cũng có thể giúp xây dựng trang này. Nếu trang này không được sửa đổi gì trong vài ngày, bạn có thể gỡ bản mẫu này xuống. Nếu bạn là người đã đặt bản mẫu này, đang viết bài và không muốn bị mâu thuẫn sửa đổi với người khác, hãy treo bản mẫu {{đang sửa đổi}}.Sửa đổi cuối: Billcipher123 (thảo luận · đóng góp) vào 4 giờ trước. (làm mới) |
| Bái hỏa giáo/Hiên giáo | |
|---|---|
| 𐬨𐬀𐬰𐬛𐬀𐬌𐬌𐬀𐬯𐬥𐬀 (tiếng Avesta) | |
Ngọn lửa vĩnh cửu ở Yazd Atash Behram ở Yazd, Iran | |
| Phân loại | Tôn giáo Iran |
| Văn bản tôn giáo | Avesta |
| Thần học | Độc thần |
| Khu vực | Đại Iran |
| Ngôn ngữ | Tiếng Avesta |
| Nhà sáng lập | Zarathustra |
| Khởi nguồn | Thế kỷ 15 TCN – 6 TCN Iran |
| Số tín đồ | 100.000 – 200.000 |
Bái hỏa giáo (chữ Hán: 拜火教, n.đ. 'đạo thờ lửa'), còn gọi là Hiên giáo (chữ Hán: 祆教, n.đ. 'đạo Hiên'), là một tôn giáo có nguồn gốc từ Tây Á và là một trong những tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại do nhà tiên tri Zarathustra sáng lập. Bái hỏa giáo bao gồm vũ trụ học nhị nguyên về thiện và ác trong khuôn khổ là bản thể luận độc thần và một thế mạt luận tiên đoán về sự chinh phục cuối cùng của thiện và ác. Bái hỏa giáo tôn thờ vị thần trí tuệ nhân từ Ahura Mazda (n.đ. 'Vị thần trí tuệ') là vị thần tối cao. Về mặt lịch sử, những đặc trưng của Bái hỏa giáo như là độc thần, messiah, niềm tin vào ý chí tự do và phán quyết sau cái chết, khái niệm về thiên đàng, địa ngục, thiên sứ, và ác ma, cùng với những khái niệm khác, đã có thể ảnh hưởng tới các hệ thống tôn giáo và triết học khác, bao gồm các tôn giáo Abraham và thuyết ngộ đạo, Phật giáo Bắc truyền, và triết học Hy Lạp.
Với nguồn gốc có thể từ thiên niên kỷ 2 TCN, sự xuất hiện của Bái hỏa giáo bắt đầu được lịch sử ghi lại vào khoảng giữa thế kỷ 6 TCN. Đây là quốc giáo của các đế quốc Iran cổ đại trong hơn một thiên niên kỷ (khoảng từ 600 TCN tới 650 CN), nhưng bắt đầu suy tàn từ thế kỷ 7 CN do người Ả Rập – Hồi giáo chinh phục Ba Tư (633–654 CN), dẫn tới sự đàn áp người Bái hỏa giáo trên diện rộng. Ước tính hiện tại cho thấy hiện nay có khoảng 110.000 – 120.000 tín đồ Bái hỏa giáo trên thế giới, đa phần sống ở Ấn Độ, Iran, và Bắc Mỹ; số lượng tín đồ được cho rằng ngày càng giảm. Tuy nhiên, cần có những nghiên cứu sâu hơn cho nhận định này, do số tín đồ ở một số nơi vẫn tăng.
Triết học tôn giáo của Zarathustra đã chia cắt các thần sơ khai của Iran. Kinh điển quan trọng nhất của tôn giáo này là Avesta. Trong Bái hỏa giáo, thần sáng tạo Ahura Mazda, thông qua Spenta Mainyu (Thiện Hồn) là một thần cha sinh ra thần Asha (Sự thật, Trật tự) Thần và các tác phẩm của thần được đưa đến cho loài người thông qua 6 phần của Amesha Spentas và trung gian của các Yazata, các tế tử thờ phượng của thần Mazda. Spenta Mainyu tiếp cận tới "chân lý", đối lập với thần Ác Hồn đối lập, Angra Mainyu và lực lượng mang tên Akəm Manah ("Tà niệm").
Từ nguyên Bái hỏa giáo

Trong tiếng Việt, cái tên Bái hỏa giáo là âm đọc Hán–Việt của cụm Hán ngữ 拜火教, nghĩa đen là "đạo thờ lửa".[1][2] Điều này bắt nguồn từ quan sát rằng tín hữu của đạo này lập các miếu thờ lửa mà các nguồn nghiên cứu cổ sử/khảo cổ tiếng Trung gọi là 祆教圣火坛 (Hán-Việt: Hiên giáo thánh hỏa đàn, n.đ. 'đàn tế lửa thiêng của đạo Hiên').[3][4]
Vốn là một tôn giáo được du nhập từ Tây Á vào Trung Quốc khoảng đầu thế kỷ thứ 4 CN,[5] những tư liệu Hán văn sớm nhất gọi vị thần được tôn thờ bởi đạo này là Hồ thiên (胡天), tức là "(thần) bầu trời của người Hồ (người phi Hán tộc)", sau được dùng để chỉ tôn giáo của cả những dân tộc du mục ở miền bắc Trung Nguyên thời Nam Bắc triều (420–589).[6] Bắt đầu từ thời Đường trở đi, thư tịch Hán văn bắt đầu gọi đạo này bằng cái tên quy chuẩn là Hiên giáo (祆教). Nguồn gốc chữ hiên 祆 ở đây còn là một câu hỏi mở trong ngành Hán ngữ học lịch sử. Xét cuốn Thuyết văn giải tự (k. 100 CN) của nhà ngôn ngữ học đời Hậu Hán Hứa Thận thì đã thấy chữ hiên 祆 được định nghĩa là "thần của người Hồ".[a] Nhà Hán học Edwin G. Pulleyblank cho rằng chữ này nhiều khả năng ký âm từ thiên (天, n.đ. 'trời') trong một phương ngữ tiếng Hán thượng cổ, theo đó ông giải thích từ Hiên giáo nghĩa là "đạo thờ/tế Trời". Về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa "trời" và Bái hỏa giáo, cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau trong giới học thuật.
Trong tiếng Ba Tư hiện đại, đạo này được gọi là Behdīn (chữ Ả Rập – Ba Tư: بهدین), nghĩa đen là "đạo thiện lành, lương thiện".[7] Trong tín điều của đạo này, những kẻ theo đạo thì được coi là "người tốt, lương thiện", trong khi những kẻ ngoại đạo hoặc vô đạo thì bị coi khinh là thờ ác ma, quỷ thần, bị gọi là Dorvand (chữ Ả Rập – Ba Tư: دروند), nghĩa đen là "(kẻ) tà, ác". Trong tiếng Avesta cổ, đạo này được gọi là Mazdayasna (chữ Avesta: 𐬨𐬀𐬰𐬛𐬀𐬌𐬌𐬀𐬯𐬥𐬀), nghĩa đen là "việc thờ phụng thần (Ahura) Mazda".
Giáo lý Bái hỏa giáo
Bái hỏa giáo cho rằng thế giới gồm hai bản nguyên đối lập đấu tranh với nhau đó là:
- Thiện nguyên là hóa thân của thần quang minh (Ánh Sáng) Ahura Mazda (Ahura Mazdā) hoặc Oocmut (Ormuzd)
- Ác nguyên là hóa thân của thần hắc ám (Bóng Tối) Angra Mainyu (Angra Mainyu).
- Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, con người có thể có ý chí lựa chọn tự do, cũng có quyền quyết định vận mệnh của mình.
- Tôn giáo này tin rằng, con người sau khi chết, linh hồn phải chịu sự phán xét cuối cùng của Ahura Mazda. Thần quang minh căn cứ vào lời nói và việc làm trên trần gian của con người và cho họ lên thiên đường hay vào địa ngục. Do đó, trong lúc còn sống, mọi người phải làm điều thiện, tránh điều ác, bỏ đen tối đi vào chỗ sáng. Tôn chỉ đạo đức của Bái hỏa giáo là: "Nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm điều thiện".
- Bái hỏa giáo cho lửa là đại biểu của quang minh và điều thiện, là tượng trưng cho Ahura Mazđa, do đó có nghi lễ thờ lửa. Trong đền thờ của Bái hỏa giáo thường xuyên có một ngọn lửa để thờ, gọi là ngọn lửa vĩnh cửu vì được giữ không bao giờ tắt. Ngọn lửa trong ngôi đền Ateshkadeh, ngôi đền chính của Bái hỏa giáo có từ năm 470 sau Công Nguyên, truyền qua nhiều nơi trước khi được lấy về đền này vào đầu thế kỷ 20. Ngọn lửa hiện đang cháy trong một cái lò bằng đồng, đặt trong căn phòng có những lớp tường kính bao quanh. Mọi người chụp ảnh ngọn lửa qua bức tường kính ấy.
Đồng thời có tục cấm chôn cất người chết mà để xác cho loài chim thú ăn thịt gọi là Thiên táng. Bái hỏa giáo tôn thờ sự sạch sẽ của đất, nước, lửa và không khí... vì vậy người ta không hỏa táng để làm ô uế lửa và không khí, không thủy táng để làm ô uế nước, không địa táng để làm ô uế đất. Nhưng tục thiên táng không phù hợp với quan niệm của thời đại mới, nên từ những năm 1960 tín đồ Bái hỏa giáo đã phải bỏ tháp thiên táng và chấp nhận tục mai táng trong nghĩa trang ở dưới chân núi. Người ta mai táng tử thi trong những ngôi mộ bê tông, hạn chế việc làm "tổn hại" cho đất.
Lịch sử Bái hỏa giáo
Thời kỳ đầu Bái hỏa giáo nhanh chóng phát triển trở thành quốc giáo của Đế quốc Ba Tư trong các triều đại Achaemenid, Arsacid và Sassanid.Trong giai đoạn này Bái hỏa giáo cũng lan truyền nhanh chóng sang Ấn Độ và Trung Hoa. Vào năm 651 nhà Sassanid bị lật đổ trong cuộc chinh phạt của người Hồi giáo, kể từ đó Bái hỏa giáo suy yếu dần tại Ba tư trước sự bành trướng của Hồi giáo trong khu vực. Sau cách mạng Hồi giáo tại Iran trước sự đàn áp dã man của chính quyền Hồi giáo, nhiều Parsi (tín đồ Bái hỏa giáo sống tại Ấn Độ) đã di tản sang Mỹ, Úc, Ấn Độ, Pakistan...
Trên thế giới Bái hỏa giáo
Theo ước tính, hiện nay có khoảng 250.000 và 300.000 người Bái hỏa giáo trên toàn thế giới. Nhóm lớn nhất có khoảng 75.000 người, sống ở Ấn Độ, trong khi đó có khoảng 40.000 sống ở Iran. Ngoài ra còn có các cộng đồng tín đồ Bái hỏa giáo khá lớn ở Bắc Mỹ khoảng 18.000 đến 25.000 người, và các nhóm nhỏ hơn ở châu Âu và bờ biển phía đông của châu Phi. Trên toàn thế giới, số lượng tín đồ Bái hỏa giáo dần dần trở nên ít hơn.
Có rất nhiều cộng đồng người Bái hỏa giáo nhỏ (khoảng 200 tín đồ) ở Nam Phi, họ là con cháu của người Bái hỏa giáo từ Ấn Độ sang Nam Phi làm công nhân vào cuối thế kỷ 19. Hiện nay vai trò của người Bái hỏa giáo ở Nam Phi khá nổi bật hơn so với các cộng đồng dân tộc tôn giáo thiểu số khác, họ đa phần là những người có địa vị cao trong xã hội Nam Phi bao gồm bác sĩ, luật sư, lĩnh vực bất động sản, kinh doanh, kiểm toán viên và giảng viên tại các trường đại học. Tại Pakistan, có khoảng 5.000 tín đồ Bái hỏa giáo tập trung tại Karachi, hiện nay cộng đồng này được củng cố thêm nhờ những người Bái hỏa giáo sang tị nạn từ Iran. Có một cộng đồng Bái hỏa giáo nhỏ hơn khoảng 3.500 người ở Úc (chủ yếu sống ở Sydney).

| Nước / Vùng | Số tín đồ (2020) |
|---|---|
| 300.759 | |
| 61.000 | |
| 15.000-25.271 | |
| 14.405 | |
| 10.000 | |
| 5.500 | |
| 2.577 | |
| Các nước Arab và Vùng Vịnh | 1.900 |
| 1.675 | |
| 1.231 | |
| 2.000 | |
| 200 | |
| Châu Âu và Trung Á | 1.000 |
| 200.000[9] |
Tham khảo Bái hỏa giáo
- ↑ Vĩnh Cao & Nguyễn Phố 2001, tr. 488.
- ↑ Mai Thanh Hải 2002, tr. 383.
- ↑ Dadparvar & Shams 2025, tr. 143, chú thích 24.
- ↑ Cát Thừa Ung 2023.
- ↑ Aoki 2015, tr. 149–150.
- ↑ Aoki 2015, tr. 149.
- ↑ Russell, James R. (ngày 15 tháng 12 năm 1989). "Behdīn". Encyclopaedia Iranica. Quyển IV. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019.
- ↑ Rivetna, Roshan. "The Zoroastrian World A 2012 Demographic Picture" (PDF). Fezana.org.
- ↑ Zoroastrianism - history.
Thư mục
- Aoki, Takeshi (2015). "Zoroastrianism in the Far East" [Bái hỏa giáo ở Viễn Đông]. Trong Michael Stausberg; Yuhan Sohrab‐Dinshaw Vevaina (biên tập). The Wiley Blackwell Companion to Zoroastrianism [Cẩm nang Wiley Blackwell về Bái hỏa giáo]. Wiley. tr. 147–156. ISBN 978-1-4443-3135-6.
- Mai Thanh Hải (2002). Từ điển tôn giáo. Hà Nội: Nhà xuất bản Từ điển bách khoa.
- Vĩnh Cao; Nguyễn Phố (2001). Từ Lâm Hán Việt từ điển. Huế: Nhà xuất bản Thuận Hóa.
<ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng