Bước tới nội dung

Arborophila crudigularis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Gà gô Đài Loan
Phân loại khoa học edit
Giới:Animalia
Ngành:Chordata
Lớp:Aves
Bộ:Galliformes
Họ:Phasianidae
Chi:Arborophila
Loài:
A. crudigularis
Danh pháp hai phần
Arborophila crudigularis
(R. Swinhoe, 1864)

Gà gô Đài Loan (tiếng Anh: Taiwan partridge hoặc Taiwan hill partridge, từ "partridge" nghĩa là "gà gô"[2]) có tên khoa học Arborophila crudigularis[3] là một loài chim thuộc họ Phasianidae. Chúng chỉ được tìm thấy tại Đài Loan. Loài này đang bị đe dọa bởi mất môi trường sống, nhưng hiện tại được xếp là ít quan tâm theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN).

Phân loại

Robert Swinhoe đã mô tả loài chim này vào năm 1864, đề xuất rằng nó thuộc về một chi mới, Oreoperdix. Con chim có một "vết đỏ sần sùi, xấu xí trên cổ họng".[4] Swinhoe ban đầu tưởng rằng chúng bị thương, nhưng sau khi kiểm tra kỹ, ông phát hiện ra rằng vết đó là tự nhiên. Vết đỏ đó có lẽ chỉ xuất hiện trong mùa sinh sản. Đây là một loài đơn loài,[5] hiện được đặt vào chi Arborophila.[6] Tên khoa học crudigularis là tiếng Latin cho từ "chảy máu" và "cổ họng".[7] Một nghiên cứu năm 2015 gợi ý rằng họ hàng còn sống gần nhất của chúng không nằm ở lục địa Trung Quốc lân cận, mà ở Đông Nam Á, và chúng lan rộng dọc theo các khu vực thềm lục địa lộ ra do mực nước biển hạ thấp trong kỷ băng hà.[8]

Mô tả

Gà gô Đài Loan có chiều dài khoảng 28 cm (11 in). Chim đực nặng khoảng 311 g (11,0 oz) và chim cái nặng khoảng 212 g (7,5 oz).[3] Đỉnh đầu của chúng có màu xám. Hai bên đầu có màu đen, đi kèm với dải lông mày, cằm và một vệt trắng bên dưới mắt. Phần cổ họng có màu trắng, ngăn cách với thân bằng một dải vòng cổ hở màu đen.[9] Phần lưng và cánh trên có màu xám ô-liu với các vằn đen, trên đôi cánh tròn màu hung đỏ có ba dải xám. Đuôi chim ngắn và tròn. Phần bụng dưới có màu xanh xám, điểm xuyết các sọc trắng ở hai bên sườn. Mắt chim màu đen, bao quanh bởi một vòng nhãn mi hẹp màu đỏ. Mỏ có màu xanh xám và chân có màu đỏ cam. Chim cái có ngoại hình tương tự chim đực, nhưng có ít sọc hơn ở cổ họng và nhiều sọc hơn ở hai bên sườn.[3]

Phạm vi phân bố và môi trường sống

Gà gô Đài Loan là loài đặc hữu của Đài Loan, được tìm thấy ở các vùng núi trung tâm và phía đông.[9] Chúng sống trong các khu rừng lá rộng, ưa thích những bụi rậm và thảm thực vật thấp. Loài này được tìm thấy ở độ cao từ 700–3.000 m (2.300–9.800 ft) trên mực nước biển, chủ yếu từ 1.500–2.000 m (4.900–6.600 ft).[5]

Hành vi

Tiếng hót của loài gà gô này là một chuỗi âm thanh gurru lên xuống. Loài này thường hót đối đáp hoặc hót đồng ca. Các tiếng hót đơn lẻ tương tự như loài Erythrogenys erythrocnemis.[3] Chúng kiếm ăn theo nhóm từ hai đến ba con, thức ăn gồm giun đất, quả mọng, hạt, cây non và côn trùng. Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 8 tùy theo độ cao. Chúng làm tổ trong hốc đá hoặc dưới gốc cây. Mỗi lứa đẻ từ ba đến bốn quả trứng trắng, thời gian ấp trứng khoảng 24 ngày.[5]

Trạng thái

Quần thể của loài này được ước tính có hơn 10.000 cá thể trưởng thành. Tuy nhiên, số lượng này có thể đang suy giảm ở các khu vực nằm ngoài phạm vi bảo tồn do tình trạng phá rừng. Năm 2014, IUCN đã hạ cấp loài này xuống mức loài ít quan tâm do cả quần thể và phạm vi phân bố của chúng đều lớn hơn so với các ước tính trước đó. Hiện tại, chúng sinh sống tại một số công viên quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.[1]

Tham khảo

  1. 1 2 BirdLife International (2016). "Arborophila crudigularis". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016 e.T22679026A92799285. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T22679026A92799285.en. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021.
  2. Lê Mạnh Chiến, Lê Thị Hà, Nguyễn Thu Hiền, Trần Anh Kỳ, Nguyễn Hữu Ngọc, Nguyễn Văn Thân, Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Quang Toàn, Đặng Văn Sử (1997). Từ điển Sinh học Anh - Việt và Việt - Anh [English - Vietnamese and Vietnamese - English Biology Dictionary]. Hà Nội: Nxb Khoa học và Kỹ thuật. tr. 582.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  3. 1 2 3 4 Brazil, Mark (2009). Birds of East Asia: China, Taiwan, Korea, Japan, and Russia. A&C Black. tr. 34. ISBN 978-0-691-13926-5.
  4. Swinhoe, Robert (1864). "XXXIV.—Letters, Extracts from Correspondence, Notices, &c". Ibis. 6 (3): 425–426. doi:10.1111/j.1474-919X.1864.tb07881.x.
  5. 1 2 3 Madge, Steve; McGowan, Phil (2010). Pheasants, Partridges & Grouse: Including buttonquails, sandgrouse and allies. Bloomsbury. tr. 258–259. ISBN 978-1-4081-3565-5.
  6. Gill, F.; Donsker, D. (biên tập). "Pheasants, partridges & francolins". IOC World Bird List Version 7.3. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2017.
  7. Jobling, James A. (2010). Helm Dictionary of Scientific Bird Names. Bloomsbury. tr. 123. ISBN 978-1-4081-3326-2.
  8. Chen, D.; Chang, J.; Li, S.; Liu, Y.; Liang, W.; Zhou, F.; Yao, C.; Zhang, Z. (2015). "Was the exposed continental shelf a long-distance colonization route in the ice age? The Southeast Asia origin of Hainan and Taiwan partridges". Molecular Phylogenetics and Evolution. 83: 167–173. Bibcode:2015MolPE..83..167C. doi:10.1016/j.ympev.2014.11.006. PMID 25463750.
  9. 1 2 MacKinnon, John; Phillipps, Karen (2000). A Field Guide to the Birds of China. Oxford University Press. tr. 39. ISBN 978-0-19-854940-6.