Bước tới nội dung

An tần (Gia Khánh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Nhân Tông An Tần
清仁宗安嫔
Gia Khánh Đế Tần
Thông tin chung
Sinh1 tháng 3, 1785
Mất29 tháng 7, 1837
Phối ngẫuThanh Nhân Tông Gia Khánh Đế
Tước hiệu[An Thường tại; 安常在]
[Hoàng khảo An tần; 皇考安嫔]
Thân phụAn Anh (安英)

An tần Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị (chữ Hán: 安嫔蘇完瓜爾佳氏, 1 tháng 3, 1785 - 23 tháng 7, 1837) là một phi tần của Thanh Nhân Tông Gia Khánh Đế.

Thân thế

An tần Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị[1] sinh ngày 21 tháng 1 (âm lịch) năm Càn Long thứ 50 (1785), người Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là con gái của Nhất đẳng Tín Dũng công, Nhị đẳng Thị vệ An Anh (安英). An Anh là con trai của Ô Lý Tô Đài Tướng quân Phúc Hưng (福兴) và là hậu duệ trực hệ của khai quốc công thần kiêm Nhất đẳng Trực Nghị công Phí Anh Đông thông qua người con trai út Sát Cáp Ni (察哈尼).

Xét thứ hệ mà nói, mặc dù Sát Cáp Ni là con trai út của Phí Anh Đông nhưng hậu duệ đời sau lại rất được trọng dụng, cùng với nhánh của Đồ Lại là hai nhánh thường xuyên được ban chức tước cao. Tuy Sát Cáp Ni đương thời chức vị cao nhất là Ngang bang chương kinh (tương đương Tổng binh) nhưng con trai là Uy Hắc (倭黑) ban đầu đã được ban tước Tam đẳng Tử, về sau lại thăng Tam đẳng Công. Con trai Uy Hắc là Phó Nhĩ Đan (傅尔丹) dưới hai thời Khang HiUng Chính thường xuyên tham gia chiến trận, dần nhậm Lĩnh thị vệ Nội đại thần, Lại bộ Thượng thư rồi Tướng quân Hắc Long Giang, khi qua đời được Càn Long truy thụy Ôn Khác (溫愨)[2], vị này là cao tổ phụ của An tần. Tằng tổ phụ Triệu Đức (勇公) được tập tước từ ông nội, không rõ nguyên do vì sao gì mà bị cách tước; đến thời tổ phụ Phúc Hưng (福兴) lại được Càn Long trọng dụng trở lại.

Trong nhà, An tần có một anh trai là Thịnh Quý (盛貴) về sau nhậm Hắc Long Giang Tướng quân và ít nhất một em gái, khi tham gia Bát kỳ tuyển tú được chỉ định gả cho Miên Cư (綿琚) - tằng tôn của Hằng Ôn Thân vương Dận Kì[3].

Đại Thanh tần phi

Năm Gia Khánh thứ 3 (1798), Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị trải qua Bát kỳ tuyển tú nhập cung, được phong làm An Thường tại (安常在), cư ngụ tại Dực Khôn cung tại Tây lục cung. Ghi chép của bà thực sự không nhiều, đến giờ vẫn chưa rõ bà giữ chức Thường tại xuyên suốt thời Gia Khánh hay từng bị giáng vị. Trong Ái Tân Giác La Tông phổ ghi chép về bà một cách đơn giản: "ban đầu sung làm Thường tại"[1].

Năm Gia Khánh thứ 25 (1820), tháng 7, Gia Khánh Đế băng hà. Tháng 12, Đạo Quang Đế vừa mới đăng cơ, quyết định ân phong 3 vị Thứ mẫu là phi tần của Gia Khánh Đế, là Ân Quý nhân, Vinh Quý nhân cùng An Thường tại đều lên Tần. Ngày 23 tháng 8 cùng năm, bà được chiếu tấn tôn làm Hoàng khảo An tần (皇考安嫔)[4], Đạo Quang Đế lấy Nội các Học sĩ Mao Mô (毛谟) làm chính sứ thực hiện lễ sách phong. Bà cùng Tín phi Lưu Giai thị cư ngụ tại Thọ Khang cung.

Năm Đạo Quang thứ 17 (1837), ngày 27 tháng 6 (âm lịch), giờ Sửu, An tần Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị hoăng thệ, hưởng thọ 53 tuổi. Kim quan của bà được di dời từ Tây Hoa Viên đến tạm an tại Điền Thôn, đến ngày 27 tháng 7 cùng năm thì chính thức tiến hành lễ nhập táng tại Phi viên tẩm của Xương lăng.

Trong văn hóa đại chúng

NămPhim ảnhDiễn viênNhân vật
2004Thâm cung nội chiếnTrương Khả Di
Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai An Xuyến
2005Gia Khánh Hoàng đếHoắc Tư Yến
Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai thị

Chú thích

  1. 1 2 1938年版《爱新觉罗宗谱·星源集庆》(页七七)安嫔 苏完呢瓜尔佳氏 公安英之女 初充常在 嘉庆二十五年十二月尊封 安嫔 道光十七年丁酉六月二十七日薨[……]
  2. 《清史稿 卷二百九十七 列傳八十四》:十四年,命為參贊。大金川師罷,授黑龍江將軍。十七年,卒,賜祭葬,諡溫愨。
  3. Ái Tân Giác La Tông phổ, tập 2
  4. 根据内务府呈递的满文奏折来看,安常在的“安”字并没有进行翻译,在满文中只写为“an”,这表示安常在的“安”并不是封号,而是称呼。可能与其父安英之名相关(参见:随名姓)清宣宗即位之后,安常在直升为嫔,根据内务府档册,虽然汉字上没有改变,但是“安”在满文上进行了音译,于是便成为了封号,写作“sulfangga”,意为“从容的”、“安稳的”。