Bước tới nội dung

21 cm Nebelwerfer 42

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
21 cm Nebelwerfer 42
Một bệ phóng pháo phản lực 21 cm Nebelwerfer 42 đang được đưa vào vị trí tại Pháp, 1944
LoạiPháo phản lực
Nơi chế tạoPhát xít Đức
Lược sử hoạt động
Phục vụ1942–1951
Sử dụng bởiĐức Quốc xã, Pháp[1]
TrậnWorld War II
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtNhà máy cơ khí Donauwörth[2]
Số lượng chế tạo2626[3]
Thông số
Khối lượngTrọng lượng rỗng: 550 kg (1.210 lb)
Sau khi nạp đạn: 1.100 kg (2.400 lb)
Chiều dài3,6 m (11 ft 10 in)
Độ dài nòng1,3 m (4 ft 3 in)
Chiều rộng1,6 m (5 ft 3 in)
Chiều cao1,5 m (4 ft 11 in)[4]
Kíp chiến đấu4[5]

Đạn pháo1,25 m (4 ft 1 in)
Trọng lượng đạn pháo109,55 kg (241,5 lb)
Cỡ đạn21 cm (8,3 in)
Cỡ nòng5 nòng
Bệ pháosplit-trail
Góc nâng-5° đến +45°
Xoay ngang24°[4]
Sơ tốc đầu nòng320 m/s (1.000 ft/s)
Tầm bắn xa nhất7.850 m (8.580 yd)
Thuốc nhồiHE
Trọng lượng thuốc nhồi10,17[6] kg (22,4 lb)

21 cm Nebelwerfer 42 (21 cm NbW 42) là một loại pháo phản lực đa nòng do Phát xít Đức phát triển và trang bị trong Chiến tranh thế giới 2. Loại pháo phản lực này được trang bị trong những đơn vị có tên gọi là Nebeltruppen, tương đương với Quân đoàn hóa học của quân đội Mỹ. Giống như Quân đoàn hóa học chuyên sử dụng các loại khí độc và tạo khói, các đơn vị Nebeltruppen sử dụng vũ khí là rocket mang đầu đạn nổ mạnh. "Nebelwerfer" có nghĩa là Súng cối tạo khói.[7] Vũ khí này được sử dụng trong giai đoạn 1942–45 trên tất cả các mặt trận trừ chiến dịch tại Na Uy. Nó cũng được trang bị trên máy bay chiến đấu của Luftwaffe vào năm 1943.

Mô tả

Đạn pháo Wurfgranate 42 cỡ 21 cm

21 cm NbW 42 là một loại pháo phản lực 5 nòng lắp trên bệ phóng dạng xe kéo được cải tiến từ bệ phóng của pháo chống tăng PaK 36 cỡ nòng 3,7 cm. Một giá đỡ ổn định xoay được bổ sung vào phía trước bệ phóng để giữ ổn định bệ phóng khi bắn.

Tên lửa Wurfgranate (vỏ đạn phóng) 42 cỡ 21 cm được ổn định quay, bắn bằng điện và chỉ có đầu đạn nổ mạnh. Cụm vòi phun tên lửa chứa 22 lỗ cách đều nhau xung quanh vành vòi phun với các lỗ phụt tạo thành luồng phụt với góc 16° so với trục tên lửa để giúp tên lửa quay theo chiều kim đồng hồ.[8] Tên lửa có vệt khói rất nổi bật và làm tung lên một lượng lớn bụi và mảnh vụn, vì thế kíp vận hành phải tìm nơi trú ẩn rồi mới điểm hỏa tên lửa, sau đó phải di chuyển trận địa để tránh hỏa lực phản pháo. Các tên lửa được bắn từng đợt, bệ phóng không có khả năng bắn từng quả tên lửa.[9] Tên lửa có thể được lắp ngòi nổ va chạm hoặc ngòi nổ chậm. Có thể lắp thanh ray lót để bệ phóng có thể sử dụng tên lửa Wurfgranate 41 cỡ 15 cm với đầu đạn nổ mạnh, đạn khói hoặc đạn hơi độc.

Mỗi tên lửa dài 1,26 mét (4 ft 2 in) và trọng lượng phóng 109,55 kilôgam (241,5 lb). Đầu đạn tên lửa có trọng lượng 10,17 kilôgam (22,4 lb) chứa thuốc nổ mạnh. Vận tốc đầu nòng của tên lửa đạt 320 m/s (1.000 ft/s) và tầm bắn đạt 7.850 mét (8.580 yd).[10] Mặc dù tính khí động học của tên lửa Wgr. 42 được cải thiện so với tên lửa Wgr. 41 15 cm, nhưng nó vẫn gặp phải các vấn đề về độ chính xác tương tự như nhau; tên lửa sẽ rơi xuống khu vực có độ dài 500 mét (550 yd) và rộng 130 mét (140 yd) do nhiên liệu tên lửa cháy không đều.[11]

Sử dụng trong Lục quân Đức

Pháo phản lực phóng loạt 21 cm NbW 42 được sử dụng theo cơ cấu gồm sáu bệ phóng mỗi khẩu đội và mỗi tiểu đoàn sẽ có ba khẩu đội. Các tiểu đoàn được tập trung lại thành các Trung đoànLữ đoàn Werfer độc lập.[12] Chúng đã được tham chiến tại Mặt trận phía Đông, Bắc Phi , Chiến dịch Ýphòng thủ Pháp và Đức từ năm 1942 đến năm 1945.[13]

Quân đội Mỹ đặt biệt danh cho vũ khí này là Screaming Mimi vì tiếng ồn của tên lửa.[14]

Không quân Đức

Trang bị tên lửa WGr. 21 cho máy bay Focke-Wulf Fw 190

Tên lửa đã được điều chỉnh để sử dụng làm vũ khí không đối không trang bị trên máy bay chiến đấu của Luftwaffe vào năm 1943 với việc sử dụng ngòi nổ hẹn giờ và đầu đạn lớn hơn, nặng 40,8 kilôgam (90 lb). Phiên bản tên lửa trang bị trên máy bay chiến đấu được gói là Wfr. Gr. 21, hay BR 21[15] nhằm phá vỡ đội hình máy bay ném bom của Không quân Đồng minh, đặc biệt là các đội hình chiến đấu dạng hộp của Không đoàn ném bom số 8 của Không quân Mỹ, khiến chúng trở nên dễ bị tấn công hơn bởi các máy bay tiêm kích của Đức trong khi vẫn nằm ngoài tầm bắn phòng thủ của súng máy trên các máy bay ném bom. Các ống phóng được lắp dưới cánh máy bay chiến đấu một động cơ Messerschmitt Bf 109Focke_Wulf Fw 190, và hai ống phóng dưới mỗi cánh trên máy bay chiến đấu hai động cơ Messerschmitt Bf 110. Lần đầu tiên nó được sử dụng trong không chiến là vào ngày 29/7/1943 bởi các Phi đội tiêm kích JG 1 và JG 11 khi máy bay Đồng minh ném bom Kiel và Warnemünde. Bằng chứng ảnh chụp cho thấy Không quân Hungary đã lắp ba ống dưới mỗi cánh của một số máy bay chiến đấu hạng nặng Me 210 Ca-1 hai động cơ của họ.[16] Tuy nhiên, lực cản lớn do bệ phóng gây ra đã làm giảm tốc độ và khả năng cơ động của máy bay phóng, điều này có thể gây tử vong nếu gặp phải máy bay chiến đấu Đồng minh. Ngoài ra, thiết lập lắp ống phóng dưới cánh, thường hướng đầu đạn lên khoảng 15° so với đường bay ngang để phù hợp độ rơi đạn đạo đáng kể của tên lửa trong khi bay, đã làm tăng thêm vấn đề về lực cản.[17] Biệt danh của người Mỹ dành cho tên lửa 21 cm là "bóng chày rực lửa" do hình dạng giống như quả cầu lửa của đầu đạn trong khi bay.

Máy bay chiến đấu hạng nặng Messerschmitt Me 410 Hornisse có thể trang bị được bốn giá phóng kép dành cho tên lửa Wfr. Gr. 21,[18] nhưng một thử nghiệm đã thử nghiệm lắp đặt thêm sáu ống phóng, có vẻ ngoài tương tự như sáu ống phóng gắn trên bệ phóng rocket 15 cm của Nebelwerfer 41, trong khoang vũ khí dưới mũi của Me 410. Cụm ống, với trục của chúng nghiêng lên trên một góc 15° được thiết kế để quay, giống như súng lục ổ quay, mỗi tên lửa sẽ được phóng riêng lẻ từ ống phóng bên dưới mũi máy bay.[19][20] Một chuyến bay thử nghiệm đã được thực hiện vào ngày 3 tháng 2 năm 1944, nhưng ý tưởng này đã thất bại vì khí phụt từ động cơ rocket đã làm hư hỏng máy bay.[21]

Tương tự như vậy tên lửa 21 cm Nebelwerfer cũng được lắp thử nghiệm lên máy bay ném bom hạng nặng (phiên bản siêu nặng) Heinkel He 177 được người Đức gọi là Grosszerstörer. Theo đó nó mang theo tới 33 ống phóng, được lắp ở khoang bom giữa thân máy bay và chếch một góc 60°.[cần dẫn nguồn]

Ghi chú

  1. "The New Weapons of French Army. l'Armée française stationnée en".
  2. Engelmann, p. 17
  3. Engelmann, p. 5
  4. 1 2 Chamberlain, Peter (1975). Mortars and rockets. Gander, Terry. New York: Arco Pub. Co. tr. 39. ISBN 0668038179. OCLC 2067459.
  5. Engelmann, p. 46
  6. Bishop, Chris (2002). The Encyclopedia of Weapons of World War II. ISBN 9781586637620.
  7. LEO online dictionary
  8. "Catalog of Enemy Ordnance". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010.
  9. Gander and Chamberlain, pp. 321–322
  10. Gander and Chamberlain, p. 329
  11. "Raketenwerfer". Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
  12. Niehorster, pp. 52–53
  13. Kameradschaft, vols. 1 and 2
  14. p.6 Parker, Steve The M270 Multiple Launch Rocket Capstone Press (September 1, 2007)
  15. manual for Wfr. Gr. on Fw 190
  16. Petrick and Stocker, p. 45
  17. Caldwell and Muller, pp. 101–102
  18. photo of the twin-tube installation
  19. photo of the installation
  20. closeup of the installation fully configured
  21. Petrick and Stocker, p. 29

Tham khảo

  • Baschin, J.; Block, M.; Nelson, J. & Tippmann, H. (2013). Nebel-, Panzer- und Vielfachwacher (bằng tiếng Anh và Đức). Quyển 30. Neumünster: Nuts & Bolts Verlag.
  • Caldwell, Donald L. and Muller, Richard R. The Luftwaffe over Germany: Defense of the Reich. London: Greenhill Books, 2007 ISBN 978-1-85367-712-0
  • Englemann, Joachim and Scheibert, Horst. Deutsche Artillerie 1934-1945: Eine Dokumentation in Text, Skizzen und Bildern: Ausrüstung, Gliderung, Ausbildung, Führung, Einsatz. Limburg/Lahn, Germany: C. A. Starke, 1974
  • Gander, Terry and Chamberlain, Peter. Weapons of the Third Reich: An Encyclopedic Survey of All Small Arms, Artillery and Special Weapons of the German Land Forces 1939–1945. New York: Doubleday, 1979 ISBN 0-385-15090-3
  • Engelmann, Joachim. German Rocket Launchers in WWII. Schiffer Publishing, 1990 ISBN 0-88740-240-2
  • Kameradschaft der ABC-Abwehr, Nebel- und Werfertruppen e.V. Die Nebel- und Werfertruppe (Regimentsbögen). 2001
  • Niehorster, Leo W. G. German World War II Organizational Series, Vol. 5/II: Mechanized GHQ units and Waffen-SS Formations (4 July 1943), 2005
  • Petrick, Peter and Stocker, Werner. Messerschmitt Me 210/Me 410 Hornet. Hinckley, England: Midland, 2007 ISBN 978-1-85780-271-9