Bước tới nội dung

Đại chiến cô dâu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại chiến cô dâu
Đạo diễnGary Winick
Biên kịch
  • Greg DePaul
  • Casey Wilson
  • June Diane Raphael
Cốt truyệnGreg DePaul
Sản xuất
Diễn viên
Quay phimFrederick Elmes
Dựng phimSusan Littenberg Hagler
Âm nhạcEdward Shearmur
Hãng sản xuất
  • Fox 2000 Pictures
  • Regency Enterprises
  • New Regency Productions
  • Birdie Productions
  • Riche/Ludwig Productions
  • Dune Entertainment
Phát hành20th Century Fox
Công chiếu
  • 9 tháng 1 năm 2009 (2009-01-09)
Thời lượng
89 phút
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Kinh phí30 triệu đô la Mỹ[1]
Doanh thu115,8 triệu đô la Mỹ[1]

Đại chiến cô dâu là một bộ phim hài lãng mạn của Mỹ ra mắt năm 2009, do Gary Winick đạo diễn và được chấp bút bởi Greg DePaul, Casey Wilson và June Diane Raphael.[2] Phim có sự tham gia diễn xuất chính của Kate HudsonAnne Hathaway, cùng các vai phụ do Kristen Johnston, Bryan Greenberg và Candice Bergen đảm nhận. Nội dung xoay quanh hai người bạn thân từ thuở nhỏ, những người đã cùng nhau lên nhiều kế hoạch cho đám cưới của mình, nhưng dần trở thành kẻ thù không đội trời chung khi buộc phải tổ chức lễ cưới cùng ngày và tại cùng một địa điểm.

Đại chiến cô dâu được công chiếu tại các rạp ở Hoa Kỳ vào ngày 9 tháng 1 năm 2009, do 20th Century Fox phát hành. Bộ phim nhận được những đánh giá tiêu cực từ giới phê bình nhưng vẫn đạt doanh thu toàn cầu 115,8 triệu USD, so với kinh phí sản xuất 30 triệu USD. Một phiên bản làm lại của Trung Quốc với cùng tên gọi đã được phát hành vào năm 2015.[3]

Nọi dung

Emma Allan và Olivia “Liv” Lerner là đôi bạn thân từ thuở nhỏ. Sau khi cùng chứng kiến một đám cưới tại khách sạn Plaza cách đó 20 năm, cả hai luôn mơ ước sẽ tổ chức lễ cưới của riêng mình tại đây vào tháng Sáu. Liv mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên trở thành một luật sư thành đạt tại hãng Ropes & Gray. Cô quen với việc luôn đạt được điều mình muốn và theo đuổi sự hoàn hảo. Bạn trai của Liv là Daniel Williams, một nhà quản lý quỹ đầu cơ. Trong khi đó, Emma là giáo viên trung học cơ sở, luôn chăm lo cho mọi người xung quanh nhưng thường quên chăm sóc bản thân. Bạn trai của cô trong suốt mười năm, Fletcher Flemson, có tính kiểm soát và thường lợi dụng sự hiền lành, nhún nhường của Emma.

Một ngày nọ, Emma và Liv phát hiện một hộp quà của Tiffany được giấu trong tủ quần áo của Liv. Cả hai đều hào hứng, tin rằng Daniel sắp cầu hôn Liv. Tuy nhiên, tối hôm đó, người ngỏ lời cầu hôn lại là Fletcher. Sáng hôm sau, Liv đối chất với Daniel tại văn phòng anh và phát hiện anh thực sự dự định cầu hôn vào tối hôm trước; Daniel sau đó cầu hôn Liv ngay tại chỗ. Emma và Liv cùng đặt lịch gặp Marion St. Claire, nhà tổ chức đám cưới nổi tiếng nhất Manhattan. Marion cho biết khách sạn Plaza chỉ còn ba khung thời gian trống trong tháng Sáu: hai lễ cùng ngày 6 tháng 6 và một lễ vào ngày 27 tháng 6. Hai người mỗi người chọn một ngày khác nhau để tránh trùng lặp, nhưng do nhầm lẫn, cả hai đều bị xếp lịch vào ngày 6 tháng 6.

Họ đề nghị cô dâu thứ ba, Stacey, đổi ngày cưới với Emma nhưng bị từ chối. Liv xảy ra xô xát với Stacey khi cô đang đăng ký danh sách quà tặng, khiến cả Liv và Emma bị mời ra khỏi cửa hàng. Sau một tuần căng thẳng ngầm, cả hai đều không chịu nhượng bộ. Một hiểu lầm liên quan đến việc Liv đã công bố ngày cưới khiến mâu thuẫn bùng nổ, và Emma tuyên bố “tuyên chiến” khi cũng công bố ngày cưới của mình tại buổi tiệc chung dành cho cô dâu. Hai người đe dọa và xúc phạm nhau trước mặt bạn bè, khiến nhóm bạn quyết định không đứng về phe nào.

Liv và Emma lần lượt tìm cách phá hoại đám cưới của đối phương: Liv đổi giáo viên dạy khiêu vũ của Emma; Emma bí mật gửi kẹo cho Liv khiến váy cưới không còn vừa; Liv làm lớp xịt nâu da của Emma chuyển sang màu cam đậm; Emma thay thuốc nhuộm tóc của Liv thành màu xanh; Liv đăng ký danh sách quà cưới của Emma tại cửa hàng đồ trẻ em và tung tin Emma mang thai; Emma xuất hiện tại bữa tiệc độc thân chỉ dành cho khách mời của Liv và nhảy múa lấn át cô. Emma và Fletcher cãi vã về hành vi của cô; Fletcher không chấp nhận sự thẳng thắn và tự tin mới của Emma. Trái lại, Liv trở nên nhạy cảm và cởi mở hơn, gắn bó với Daniel hơn, nhưng áp lực đám cưới khiến cô bị giáng chức tại công ty.

Tại khách sạn Plaza, ngay trước giờ cử hành lễ, cha của Emma chúc phúc cho Liv, khiến cô hối hận vì đã sắp xếp chiếu một đoạn DVD “spring break” hoang dã trong lễ cưới của Emma. Liv cử trợ lý Kevin thay đoạn DVD đó bằng bản gốc chứa những kỷ niệm thời thơ ấu, nhưng anh cho rằng đó chỉ là một trò đùa nên không thực hiện. Trước khi bước vào lễ đường, hai cô dâu thoáng hòa giải từ xa bằng một nụ cười. Nụ cười của Liv đầy tự tin, trong khi Emma rưng rưng nước mắt, cho thấy cô đang do dự về vị hôn phu của mình.

Khi Emma tiến vào lễ đường và thấy đoạn DVD “spring break” được chiếu, cô nổi giận và lao sang lễ cưới của Liv để đối đầu. Cảnh hai người vật lộn trong váy cưới khiến các khách mời sững sờ. Emma nói với Fletcher rằng cô không còn là con người của mười năm trước và hai người quyết định hủy hôn. Sau khi hòa giải, lễ cưới của Liv tiếp tục. Emma trở thành phù dâu chính của Liv và sau đó khiêu vũ cùng anh trai của Liv là Nate, một nhà báo tạp chí nổi tiếng.

Một năm sau, Liv và Emma gặp nhau uống nước. Lúc này tiết lộ rằng Emma đã kết hôn với Nate. Khi Liv nâng ly chúc mừng hôn nhân, Emma cho biết cô không uống rượu; Liv nói cô cũng vậy. Cả hai nhận ra mình đều đang mang thai và có cùng ngày dự sinh: 3 tháng 3. Hai người vui mừng ôm chầm lấy nhau.

Diễn viên

  • Kate Hudson vai Olivia “Liv” Lerner
    • Zoe O’Grady vai Liv lúc nhỏ
  • Anne Hathaway vai Emma Allan
    • Shannon Ferber vai Emma lúc nhỏ
  • Kristen Johnston vai Deb Delgado, một đồng nghiệp của Emma
  • Bryan Greenberg vai Nathan “Nate” Lerner, anh trai của Liv, người nảy sinh tình cảm với Emma
  • Chris Pratt vai Fletcher Flemson
  • Steve Howey vai Daniel Williams
  • Candice Bergen vai Marion St. Claire; đồng thời là người dẫn chuyện của phim
  • John Pankow vai John Allan, cha của Emma
  • Michael Arden vai Kevin, trợ lý của Liv tại nơi làm việc
  • June Diane Raphael vai Amanda, bạn của Emma và Liv
  • Casey Wilson vai Stacy Kindred, cô dâu thứ ba
  • Lauren Bittner vai Amie, một trong những người bạn thân nhất của Emma và Liv
  • Hettienne Park vai Marissa, một trong những người bạn thân nhất của Emma và Liv
  • Paul Scheer vai Ricky Coo, biên đạo múa
  • Dennis Parlato vai giáo viên dạy khiêu vũ
  • Coy Jandreau vai phù rể của Fletcher

Sản xuất

Raphael và Wilson đã hoàn thành kịch bản quay của Đại chiến cô , dựa trên kịch bản gốc do Greg DePaul viết,[4] btrước khi cuộc đình công của Hiệp hội Biên kịch Hoa Kỳ (Writers Guild of America) giai đoạn 2007–2008 bắt đầu.[5] Karen McCullah Lutz và Kirsten Smith cũng có đóng góp vào phần kịch bản.[2][5]

Một phần quá trình quay phim chính diễn ra tại Bảo tàng Peabody Essex ở Salem, Massachusetts.[6] Phần lớn các cảnh quay được thực hiện tại Boston, Thành phố New YorkSalem, Massachusetts.

Âm nhạc

Phần nhạc nền của Đại chiến cô dâu do Edward Shearmur sáng tác và được ông thu âm cùng một dàn nhạc gồm 77 thành viên của Hollywood Studio Symphony tại Newman Scoring Stage thuộc hãng 20th Century Fox.[7]

Ở phần mở đầu của bộ phim, ca khúc “Somethin’ Special” do Colbie Caillat trình bày được sử dụng; tuy nhiên, phiên bản này có phần lời khác với bản Beijing Olympic Mix, cho thấy đây là bản phối gốc. Do Đại chiến cô dâu không phát hành album nhạc phim chính thức, phiên bản gốc của ca khúc này đã không được phát hành cho đến khi album Breakthrough của Caillat ra mắt, trong đó bài hát xuất hiện như một ca khúc thưởng trong ấn bản Rhapsody.[8] Ngoài ra, phim còn sử dụng các ca khúc “Dream” của Priscilla Ahn và “Scared” của Duffy.

Đón nhận

Phòng vé

Trong tuần công chiếu đầu tiên, bộ phim thu về 21,1 triệu USD, xếp ở vị trí thứ hai tại phòng vé.[1] Sau đó, phim đạt doanh thu 58,7 triệu USD tại Hoa Kỳ và Canada, cùng 56,7 triệu USD tại các thị trường quốc tế khác, nâng tổng doanh thu toàn cầu lên 115,4 triệu USD.[1]

Phê bình

Trên Rotten Tomatoes, bộ phim có tỷ lệ đánh giá tích cực là 10% dựa trên 144 bài phê bình, với điểm trung bình 3,50/10. Nhận định chung của trang này nêu rõ: “Đại chiến cô dâu khai thác một ý tưởng vốn đã mệt mỏi về những ‘cô dâu chiến tranh’, rồi biến nó trở nên hoàn toàn khó chịu thông qua một kịch bản lười biếng và các nhân vật khó cảm mến.”[9] Trên Metacritic, phim đạt số điểm trung bình có trọng số là 24/100 từ 30 nhà phê bình, cho thấy mức đánh giá “nhìn chung là không thuận lợi”.[10] Khán giả được CinemaScore khảo sát chấm cho bộ phim điểm trung bình là “A–” trên thang điểm từ A+ đến F.[11] Tạp chí Time cũng xếp Đại chiến cô dâu vào danh sách 10 phim hài–lãng mạn tệ nhất từng được thực hiện.[12]

Nhà phê bình Manohla Dargis của The New York Times gọi bộ phim là “ngớ ngẩn, dù phần lớn không gây khó chịu”. Bà nhận xét rằng sự xuất hiện của Anne Hathaway đồng nghĩa với việc “ít nhất cũng có một chút diễn xuất, cùng vài cảm xúc mang tính con người”, đồng thời đặt câu hỏi rằng bộ phim có thể đã trở nên như thế nào nếu các biên kịch khai thác lớp nghĩa đồng tính nữ tiềm ẩn được gợi mở trong những cảnh mở đầu.[13] Carrie Rickey của The Philadelphia Inquirer viết: “Một bộ phim có thể tệ đến mức nào khi có Goldilocks Hudson và Cinderella Hathaway? Đến mức đau đớn đến nỗi ánh nắng của Hudson cũng không thể sưởi ấm nó, và hương sắc hoa hồng của Hathaway cũng không thể che lấp mùi hôi của nó.”[14] Ty Burr của The Boston Globe bày tỏ sự khó chịu với bộ phim, cho rằng đây là “một phim hài lãng mạn dành cho nữ giới khiến các nhân vật nữ - và suy rộng ra là cả khán giả nữ - trông như những đứa trẻ nhỏ đầy thù hằn và lạc hậu, và điều đó thật sự có vấn đề”.[15]

Tham khảo

  1. 1 2 3 4 "Bride Wars (2009)" (bằng tiếng Anh). Box Office Mojo. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009.
  2. 1 2 Siegel, Tatiana (ngày 6 tháng 4 năm 2008). "Bergen hitches "Bride"". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.
  3. Lee, Maggie (ngày 24 tháng 8 năm 2015). "Film Review: 'Bride Wars'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015.
  4. Fleming, Michael (ngày 12 tháng 11 năm 2006). ""Bride" nears the altar". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020.
  5. 1 2 Fleming, Michael; Tatiana Siegel (ngày 6 tháng 12 năm 2007). "Hathaway hops on "War" path". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.
  6. Cassidy, Chris; Tom Dalton (ngày 25 tháng 7 năm 2008). "Heard Around Town: The six degrees of Lizzie Borden". The Salem News. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008.
  7. Goldwasser, Dan (ngày 14 tháng 1 năm 2009). "Edward Shearmur scores Bride Wars". ScoringSessions.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009.
  8. "Breakthrough". Rhapsody. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010.
  9. "Bride Wars". Rotten Tomatoes (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
  10. "Bride Wars". Metacritic. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2020.
  11. "Brides Wars". CinemaScore. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2023.
  12. Romero, Frances (ngày 26 tháng 5 năm 2010). "Top 10 Worst Chick Flicks - Bride Wars". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2012.
  13. Dargis, Manohla (ngày 9 tháng 1 năm 2009). "Two Weddings and a Furor". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2009. [I]t's too bad that [Winick] doesn't (or can't) venture down the more interesting avenues opened up in the screenplay ... The opener — a gauzy scene from childhood that finds Liv and Emma, dressed as a bride and groom, tenderly dancing with each other — and an adult catfight, which looks like a prelude to a kiss, suggest that there may be more to this friendship (and the fury underlying its rupture) than either the women or the movie can admit.
  14. "Winsome Twosome Turns Gruesome". Philly.com. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2005.
  15. Burr, Ty (ngày 9 tháng 1 năm 2009). "Bride Wars Movie Review". Boston.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009.

Liên kết ngoài