Đường Trại Nhi
Đường Trại Nhi (tiếng Trung: 唐賽兒; ? – ?) là thủ lĩnh khởi nghĩa Bạch Liên giáo nổi tiếng đầu thời Minh. Sau khi khởi nghĩa thất bại, bà biến mất ko rõ tung tích khiến triều đình nhà Minh phải lùng sục và xử phạt nặng nề cả một hệ thống quan lại vì không bắt được bà.
Tiểu sử Đường Trại Nhi
Phát động khởi nghĩa
Vào đầu thời Minh, trong những năm Kiến Văn, Chu Đệ đã phát động chiến dịch Tĩnh Nan nhằm tranh giành ngôi vị hoàng đế. Sơn Đông trở thành chiến trường chính, khiến cho trăm họ phải lưu ly thất sở. Sau khi Chu Đệ lên ngôi, ông đã dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh, đại tu cung điện, đồng thời huy động nhân lực chuyển lương thực từ nam lên bắc và khai thông kênh đào. Triều đình đã phải huy động hàng chục vạn dân phu ở Sơn Đông, khiến gánh nặng lao dịch của nông dân trở nên cực kỳ nặng nề. Thêm vào đó, thiên tai như hạn hán, lụt lội xảy ra liên tiếp, cùng với việc dịch bệnh hoành hành, khiến đời sống của dân chúng vô cùng khó khăn.[1] Người dân các tỉnh như Sơn Đông, Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây đã rơi vào cảnh phải ăn vỏ cây, rễ cỏ, thậm chí phải bán vợ đợ con hòng duy trì sinh kế.[2][3] Đường Trại Nhi vốn là thiếu nữ cư trú ở huyện Bồ Đài (nay thuộc thành phố Tần Châu), giỏi võ nghệ và binh pháp. Bà noi gương Hồng cân quân thời Nguyên mạt, dùng Bạch Liên giáo để liên kết dân chúng, tự xưng là "Phật Mẫu". Bà đi lại giữa các châu huyện như Ích Đô (nay là Thanh Châu), Chư Thành, An Khâu, Cử Châu (nay là huyện Cử), Tức Mặc, Thọ Quang để bí mật chuẩn bị cho cuộc nổi dậy tại Tần Châu (nay là phía bắc Tần Châu).
Đầu năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420), Đường Trại Nhi dẫn hơn 500 người tiến vào vùng núi phía tây nam Ích Đô để phát triển lực lượng, lập soái phủ tại trại Tá Thạch Bằng (nay là trại Đường Trại Nhi). Nơi này cao 783 mét, bốn mặt là vách đá dựng đứng, phía trên có hồ nước, kho gạo, dễ thủ khó công. Đầu tháng Giêng nhuận, Đường Trại Nhi phất cờ đỏ trắng làm hiệu, phát động khởi nghĩa. Nghĩa quân đã tiêu diệt hơn 1.000 binh lính triều đình, trong đó có Chỉ huy sứ Vệ Thanh Châu là Cao Phượng, khiến thanh thế vang dội. Hàng chục đội quân khác do Đổng Ngạn Cảo, Tân Hồng từ chín châu huyện lân cận cùng hưởng ứng, lực lượng lên đến hàng vạn người.
Chiêu hàng và lẩn trốn
Sơn Đông Bố chính sứ Trữ Diên, Trương Hải lập tức báo tin về triều. Minh Thành Tổ Chu Đệ nghe tin đã phái sứ giả đến chiêu hàng nhưng bị Đường Trại Nhi từ chối. Sau đó, Chu Đệ lệnh cho Liễu Thăng làm Tổng binh, Lưu Trung làm Phó Tổng binh, dẫn 5.000 quân từ kinh thành đi dẹp loạn. Ngày 11 tháng 2, Liễu Thăng bao vây trại Tá Thạch Bằng. Đường Trại Nhi biết Liễu Thăng kiêu ngạo, bèn sai người giả vờ đầu hàng, nói rằng nghĩa quân sẽ rút lui từ cửa đông để tìm nước vào ban đêm. Liễu Thăng mắc mưu, phái trọng binh canh giữ cửa đông. Đêm 13 tháng 3, Đường Trại Nhi cho người lùa đàn dê giả làm nghĩa quân xuống núi qua cửa đông, thu hút chủ lực quân Minh, rồi tự mình dẫn quân từ chỗ phòng ngự yếu hơn đột phá vòng vây, giết chết Lưu Trung. Sáng sớm, Liễu Thăng biết mình bị lừa, vội vàng phái quân đuổi theo nhưng không tìm thấy tung tích của Đường Trại Nhi.
Thất bại và truy nã
Ngày 16 tháng 3, Tân Hồng dẫn hơn vạn nghĩa quân từ Cử Châu và Tức Mặc tấn công An Khâu và tuyên bố sẽ thảm sát thành. Vệ Thanh, đô chỉ huy đang phòng bị giặc Oa trên biển, nghe tin An Khâu bị vây, lập tức dẫn hơn nghìn kỵ binh ngày đêm tiến quân. Nghĩa quân đại bại, hơn 6.000 người bị bắt giết. Khi Liễu Thăng đến, Vệ Thanh ra nghênh đón, nhưng Liễu Thăng lại đánh ông ta do thói chuyên quyền. Cùng ngày, Chỉ huy sứ Vệ Ngô Sơn là Vương Quý cũng dẹp yên loạn quân ở Chư Thành, chiến sự tại Sơn Đông tạm thời lắng xuống.
Hành tại Hình bộ Thượng thư Ngô Trung biết chuyện đã hạch tội Liễu Thăng, Minh Thành Tổ sau khi nghe tin bèn bắt ông ta vào ngục. Tuy nhiên, Đường Trại Nhi và các thủ lĩnh khác ẩn náu trong dân gian, quan phủ truy bắt suốt một thời gian dài nhưng không thành. Chu Đệ ngờ là bà đã cạo đầu làm ni cô hoặc trà trộn làm nữ đạo sĩ. Do đó, ông ra lệnh cho ty pháp: bất kỳ ni cô hay nữ đạo sĩ nào ở Bắc Kinh và Sơn Đông đều phải bắt về kinh thành tra xét. Tháng 7 cùng năm, Đoàn Dân nhậm chức Sơn Đông Tả Tham chính. Lúc đó, việc truy bắt Đường Trại Nhi rất gấp gáp, toàn bộ ni cô và tăng ni ở Sơn Đông và Bắc Kinh đều bị bắt.[4] Sau đó, lệnh này lan ra cả nước, hàng vạn phụ nữ xuất gia bị bắt. Sau khi điều tra và an ủi, dân tâm dần ổn định. Một số sử sách cho rằng Đường Trại Nhi từng bị bắt nhưng sau đó đã thoát thân. Các tướng lĩnh của tam ty, quận huyện vì để mất quân địch đều bị xử tử.[5]
Ảnh hưởng Đường Trại Nhi
Cuộc nổi dậy của Đường Trại Nhi tuy quy mô nhỏ, chỉ kéo dài chưa đầy một tháng đã bị dập tắt, nhưng xảy ra ngay trong thời kỳ "Vĩnh Lạc thịnh thế" của nhà Minh, gây chấn động lớn cho tầng lớp thống trị cao nhất. Sau sự kiện này, triều đình bắt đầu cứu trợ vùng thiên tai, giảm thuế, và an ủi dân chúng. Một loạt quan chức không dẹp loạn hiệu quả cũng bị trừng phạt. Minh sử ghi chép rằng: "Yêu phụ Đường Trại Nhi làm phản", nhưng trong dân gian, bà lại được nhiều người coi là nữ anh hùng huyền thoại. Cho đến nay, tại khu vực Thanh Châu và Tần Châu vẫn còn lưu truyền những câu chuyện về Đường Trại Nhi. Thậm chí, một bức tượng của bà còn được dựng trên cầu Hoàng Hà ở Tần Châu để người dân chiêm bái.[6]
Văn nhân thời Thanh Lữ Hùng đã viết cuốn tiểu thuyết Nữ tiên ngoại sử, thần thoại hóa Đường Trại Nhi, coi bà là tiên nữ giáng trần: "Nữ tiên, chính là Đường Trại Nhi, cũng chính là Hằng Nga ở cung trăng giáng thế." Tác phẩm này còn gán ghép bà là đệ tử của Cửu Thiên Huyền Nữ cùng Đạo Đức Thiên Tôn. Giống như Tống Giang, bà được Cửu Thiên Huyền Nữ ban cho thiên thư. Mỗi khi gặp thời khắc nguy hiểm, Cửu Thiên Huyền Nữ đều xuất hiện để giúp Đường Trại Nhi thoát khỏi rắc rối.
Tham khảo Đường Trại Nhi
- ↑ Minh sử, quyển 164, Liệt truyện 52 – Trâu Tập truyện: "Bệ hạ bắt đầu khởi công Bắc Kinh, lo lắng vất vả suốt gần hai mươi năm. Công trình lớn, chi phí nhiều, việc điều động cực kỳ rộng lớn. Quan lại thừa thãi ăn bám, tiêu hao ngân khố. Dân phu làm việc, mỗi lần động đến hàng triệu người, suốt năm phục dịch, không thể tự tay canh tác ruộng đất. Thế mà vẫn còn bị bức bách thu thuế vô độ, đến mức phải chặt cây dâu, cây táo để lấy làm củi, lột vỏ cây dâu để làm giấy. Lại thêm quan lại hà hiếp, thu thuế ngày càng tàn bạo hơn. Ví như năm trước, triều đình thu mua nguyên liệu nhuộm, vốn không phải sản vật địa phương, nhưng lại bắt buộc mỗi lần thu hàng trăm, hàng ngàn cân. Dân chúng phải cùng nhau góp tiền giấy, đi mua ở nơi khác. Một cân màu xanh đậm, giá lên tới 16.000 quan tiền giấy. Nhưng khi mang đến nộp lại bị gây khó dễ, phải đi lại nhiều lần, cuối cùng phải tốn đến 20.000 quan tiền giấy, mà vẫn không đủ dùng cho một cây cột nhà. Sau đó, tuy đã cử quan viên đến tận nơi sản xuất để thu mua, nhưng việc thu mua bắt buộc vẫn chưa dừng lại. Nguyên nhân là vì thợ thuyền và quan lại phân phối công việc chỉ nhằm trục lợi, chẳng hề quan tâm đến nỗi khốn cùng của dân chúng đến mức này."
- ↑ Quốc giác, quyển 17: "Dân chúng phải ăn cỏ dại, hạt cỏ để sống còn."
- ↑ Minh sử, quyển 164, Liệt truyện 52 – Trâu Tập truyện: "Hiện nay, tại Sơn Đông, Hà Nam, Sơn Tây, Thiểm Tây, lũ lụt và hạn hán tiếp diễn không ngừng, dân chúng đến mức phải bóc vỏ cây, đào rễ cỏ để ăn. Người già trẻ nhỏ phải tha hương cầu thực, ngã lăn trên đường, phải bán vợ đợ con để mong tạm sống qua ngày. Trong khi đó, tại Kinh sư lại tập trung hơn vạn tăng nhân và đạo sĩ, mỗi ngày tiêu tốn hơn trăm thạch gạo của kho lương. Đây chính là lấy lương thực của dân mà nuôi những kẻ vô dụng."
- ↑ Cốc Ứng Thái (Thanh), Minh sử kỷ sự bản mạt, quyển 23: "Tháng Ba, năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420) đời Thành Tổ, yêu phụ Đường Trại Nhi ở huyện Bồ Đài, Sơn Đông, làm loạn. Đường Trại Nhi, vợ của Lâm Tam người trong huyện, từ nhỏ đã thích theo Phật, tụng kinh, tự xưng là 'Phật Mẫu', nói dối rằng mình có thể biết được việc thành bại trước sau, lại nói có thể cắt giấy thành người ngựa để giao chiến. Ả qua lại các châu huyện Dịch Đô, Chư Thành, An Châu, Cử Châu, Tức Mặc, Thọ Quang, kích động, lôi kéo dân chúng ngu muội. Bấy giờ, gian nhân như Đổng Ngạn Cảo cùng nhau dẫn chúng theo, tụ tập được hơn năm trăm người, chiếm giữ trại Tá Thạch Bằng ở Dịch Đô làm nơi xuất quỷ nhập thần. Cao Phượng, Đô Chỉ huy vệ Thanh Châu, dẫn binh đi bắt. Quân giặc nhân lúc đêm tối tấn công, quan binh tan tác, Cao Phượng cùng đồng đội đều bị vây khốn. Tam ty (Đô Chỉ huy Sứ ty, Bố chánh ty, Án sát ty) tấu lên, triều đình sai người phi ngựa đến chiêu dụ. Vệ Nghi Châu thuộc Trực Lệ cũng tâu: 'Giặc ở Cử Châu là Đổng Ngạn Cảo tụ tập hơn hai ngàn người, lấy cờ trắng, đỏ làm hiệu, cướp giết khắp nơi. Thiên Hộ Tôn Cung ở Cử Châu đến chiêu an, giặc không phục, giết cả người theo Tôn Cung, thế lực vô cùng ngang ngược.' Minh Thành Tổ hạ lệnh cho An Viễn hầu Liễu Thăng chia quân tiễu trừ. Liễu Thăng đem quân đến Dịch Đô, vây giặc ở trại Tá Thạch Bằng. Giặc sai người đến xin hàng, giả vờ nói: 'Trong trại hết lương, lại không có nước.' Liễu Thăng nghe vậy, cho rằng cửa Đông có đường lấy nước, liền dẫn quân đến chiếm giữ. Nửa đêm, giặc bất ngờ đánh úp trại quan quân. Đô Chỉ huy Lưu Trung dốc sức chiến đấu và tử trận. Đến rạng sáng, Liễu Thăng mới hay, vội chia quân truy đuổi, bắt được hơn trăm nam nữ thuộc đảng giặc là Lưu Tuấn nhưng Đường Trại Nhi cùng đồng bọn đã trốn thoát. Lúc này, đảng giặc Tân Hồng đang đánh An Khâu. Tri huyện Trương Dư và Huyện thừa Mã Huy tập hợp hơn tám trăm dân phu tử thủ chống cự. Giặc không thể công phá, bèn tập hợp tàn quân ở Cử Châu, Tức Mặc, hợp lại hơn một vạn người, dốc toàn lực tấn công, tuyên bố sẽ tàn sát cả thành. Bấy giờ, Đô Chỉ huy Vệ Thanh đang phòng vệ bờ biển, nghe tin An Khâu bị vây, lập tức dẫn một ngàn kỵ binh ngày đêm hành quân, dũng mãnh tấn công và đánh tan quân giặc. Giặc thu tàn quân định tái chiến, người trong thành cũng hò reo xông ra đánh, Tân Hồng phải tháo chạy. Triều đình giết hơn hai ngàn tên giặc, bắt sống hơn bốn mươi tên, đều đem ra chém. Lúc bấy giờ, thành An Khâu đã sắp không giữ được, nếu Vệ Thanh đến chậm một chút là thành đã thất thủ. Sau đó Liễu Thăng đến, Vệ Thanh ra nghênh tiếp. Liễu Thăng giận vì Vệ Thanh tự ý chuyên quyền, kéo ra ngoài mắng mỏ, nhưng Vệ Thanh không chịu khuất phục. Cùng ngày, Chỉ huy Vương Quý ở vệ Ngao Sơn cũng dẫn một trăm năm mươi quân đánh bại quân giặc ở Chư Thành, giết sạch chúng, và Sơn Đông được dẹp yên. Ngô Trung, Thượng thư Bộ Hình tại Hành Tại, tấu lên hạch tội: 'Liễu Thăng phụng mệnh đi tiễu trừ, nhưng không lập tức lên đường. Triều đình dặn dò "giặc dựa vào nơi cao, thiếu nước và lương thảo, nên vây khốn chúng, chớ mưu cầu công trạng tức thời". Thế nhưng, giặc đến gần mà Liễu Thăng không hề phòng bị, để giặc đánh úp vào ban đêm gây thương vong cho quân sĩ. Lúc đó Đô Chỉ huy Lưu Trung hợp công với Thăng, Lưu Trung xông lên trước, suýt phá được trại giặc. Liễu Thăng lại ghen ghét công lao của Lưu Trung nên không chịu cứu viện, khiến Lưu Trung kiệt sức mà chết, giặc nhờ đó thừa cơ trốn thoát. Liễu Thăng phái Mã Quý truy đuổi, nhưng quân lính đi qua lại quấy nhiễu dân chúng, Liễu Thăng cũng không hỏi đến. Đến khi Đô Chỉ huy Vệ Thanh nghe tin An Khâu bị vây, vội vàng dẫn quân ngày đêm hành quân, đánh tan quân giặc. Ba ngày sau Liễu Thăng mới đến, lại ghen ghét công lao của Vệ Thanh, cố ý làm nhục ông. Bề tôi bất trung, không gì nghiêm trọng hơn thế, xin trị tội hắn.' Vua nói: 'Mỗi lần Trẫm phái tướng ra trận, đều dặn dò kỹ lưỡng, bảo phải mưu đồ vạn toàn. Nay Liễu Thăng cãi lệnh, làm lỡ cơ hội, ghen ghét công lao và khả năng của kẻ khác, tội không thể tha.' Lập tức giam Liễu Thăng vào ngục. Vì Đường Trại Nhi trốn thoát đã lâu, hoàng thượng lo sợ ả ta đã cạo tóc làm ni cô hoặc trộn lẫn trong số nữ đạo sĩ. Bèn lệnh cho Pháp ty: 'Tất cả ni cô và nữ đạo sĩ trong phạm vi Bắc Kinh, Sơn Đông, đều phải bắt về Kinh sư tra xét.'"
- ↑ Cốc Ứng Thái (Thanh), Minh sử kỷ sự bản mạt, quyển 23: "Tháng Bảy, Đoàn Dân được bổ làm Sơn Đông Tả Tham chính. Lúc bấy giờ, triều đình lùng sục Đường Trại Nhi rất gấp, đã bắt hết tất cả các ni cô ở Sơn Đông và Bắc Kinh. Sau đó lại bắt thêm tất cả phụ nữ xuất gia trong thiên hạ, trước sau tổng cộng gần vạn người. Đoàn Dân đã an ủi, vỗ về và cố gắng giải thích, nhân tâm mới bắt đầu ổn định. Thuở ban đầu, Chồng của Đường Trại Nhi qua đời. Khi Trại Nhi cúng tế mộ, trên đường về đi ngang qua chân núi, thấy một cái hộp đá lộ ra ở khe đá. Ả mở ra, lấy được yêu thư và một thanh bảo kiếm, từ đó thông hiểu các phép thuật. Thanh kiếm này cũng là thần vật, chỉ Tái Nhi mới dùng được. Ả bèn xuất gia làm ni cô, dùng thuật để thi triển trong làng xóm, mọi việc đều linh nghiệm. Dân thường tin theo răm rắp. Nếu muốn quần áo, thức ăn hay tiền bạc, ả dùng thuật vận chuyển đến cho họ theo ý muốn. Ban đầu ả không có chí lớn. Nhưng sau đó, đồ đệ yêu thuật càng ngày càng đông, lên đến vài vạn người. Quan phủ truy bắt gắt gao, Trại Nhi bèn nổi dậy làm phản, giết và làm bị thương rất nhiều quân lính. Tam ty đều không kịp thời bắt giam. Sau này, bắt được ả, chuẩn bị hành hình, ả vẫn thản nhiên không hề sợ hãi. Họ cởi trần và trói ả lại, nhưng khi sắp hành hình thì dao không thể đâm thủng. Bất đắc dĩ, lại phải đưa ả trở lại ngục. Ả ta bị cùm gỗ, xiềng sắt khóa chân, nhưng trong chốc lát đều tự tháo gỡ được, rồi trốn thoát, không biết kết cục ra sao. Các quan viên như Tam ty, Thái thú, Huyện lệnh, Tướng hiệu đều bị xử tử vì tội để mất giặc cướp."
- ↑ "巾帼英雄唐赛儿些许痕迹在蒲台" [Vài dấu vết về nữ anh hùng Đường Trại Nhi vẫn còn ở Bồ Đài] (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012.
Đọc thêm Đường Trại Nhi
- Lily Xiao Hong Lee, Sue Wiles: Biographical Dictionary of Chinese Women, Volume II: Tang Through Ming 618 - 1644
- Alice Poon: The Earthly Blaze (Sword Maiden from the Moon, Book 2), do Earnshaw Books xuất bản ngày 9 tháng 4 năm 2024 (Thể loại Kỳ ảo - Giả tưởng).
- Alice Poon: The Heavenly Sword (Sword Maiden from the Moon, Book 1), do Earnshaw Books xuất bản ngày 10 tháng 1 năm 2023 (Thể loại Kỳ ảo - Giả tưởng).