Bước tới nội dung

Án lệ 71/2024/AL

Án lệ thứ 71 của pháp luật Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Án lệ 71/2024/AL
Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao
Tòa ánHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tên đầy đủÁn lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Phán quyếtngày 28 tháng 4 năm 2022
Trích dẫnQuyết định giám đốc thẩm số 14/2022/DS-GĐT ngày 28/4/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án "Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân" giữa nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H với bị đơn là bà Nguyễn Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 04 người.;
Quyết định công bố án lệ 119A/2023/QĐ-CA
Lịch sử vụ việc
Trước đóSơ thẩm: đình chỉ vụ án dân sự sơ thẩm, tuyên nguyên đơn không có quyền khởi kiện.
Phúc thẩm: bác Quyết định sơ thẩm, giao Tòa sơ thẩm giải quyết lại.
Tiếp theoChánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị;
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm
Kết luận cuối cùng
Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất đó và yêu cầu hủy quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nguyên đơn không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp.
Trường hợp này, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.[1]

Án lệ 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ánán lệ thứ 71 thuộc lĩnh vực dân sự của hệ thống pháp luật Việt Nam, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, Chánh án Nguyễn Hòa Bình ra quyết định công bố ngày 15 tháng 5 năm 2024,[2] và có hiệu lực cho tòa án các cấp trong cả nước nghiên cứu, áp dụng trong xét xử từ ngày 15 tháng 6 năm 2024.[3] Án lệ này dựa trên nguồn án là Quyết định giám đốc thẩm số 14/2022/DS-GĐT ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nội dung xoay quanh vụ án dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vụ án đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, và đình chỉ giải quyết vụ án. Năm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm vụ án này đã đề xuất lựa chọn nguồn án này làm án lệ.

Chủ đồn điền Đồng Nai sở hữu đất cao su diện tích lớn từ những năm 70. Từ năm 1975, một gia đình vào Nam lập nghiệp, ban đầu làm công cho chủ đồn điền, sau đó cư trú, trồng trọt trên mảnh đất của đồn điền và được chủ đồn điền biết, có giấy giao đất viết tay, hai bên không tranh chấp. Sau đó 20 năm, tranh chấp bắt đầu xảy ra khi chủ đồn điền muốn đòi lại mảnh đất mà gia đình lập nghiệp cư trú khi mà mảnh đất này được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình lập nghiệp. Vụ án khởi đầu từ khiếu nại hành chính lên Ủy ban nhân cấp huyện, cấp tỉnh rồi chuyển sang khởi kiện tòa cấp tỉnh, phúc thẩm ở tòa cấp cao rồi kháng nghị, giám đốc thẩm ở tòa tối cao với kết quả cuối cùng là kết luận vụ án không thuộc thẩm quyền của Tòa án, đã được giải quyết ở các quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước.

Nội dung vụ án Án lệ 71/2024/AL

Tại Đồng Nai, gia đình Nguyễn Tấn K, Thái Thị H1 có một đồn điền cao su lớn. Sau khi vợ chồng K, H chết thì đồn điền được để lại cho con trai là Nguyễn Tấn T và con dâu Đặng Thị Thu H. Năm 1975, gia đình Nguyễn Thị C từ quê vào miền Nam lập nghiệp ở Quang Trung, Thống Nhất, Đồng Nai. Thời gian đầu lập nghiệp, gia đình Nguyễn Thị C xin làm công nhân cạo mủ cho đồn điền cao su của vợ chồng Nguyễn T, Đặng H, đồng thời cư ngụ tại đồn điền. Cũng từ thời điểm này, gia đình đã phát cỏ, canh tác trồng hoa màu (khoai lang, đậu, bắp) trên chính mảnh đất mà mình cư ngụ, đồng thời được gia đình chủ đồn điền Nguyễn T, Đặng H biết. Sau đó 20 năm, vào thời điểm 1994—1995, tranh chấp đất đai giữa chủ đồn điền và gia đình Nguyễn C đã bắt đầu khi mà chủ đồn điền đòi lại phần đất gia đình Nguyễn C cư ngụ (từ 1975) trên đồn điền. Năm 2000, gia đình chủ đồn điền[a] bắt đầu kiện gia đình Nguyễn C.

Tranh tụng Án lệ 71/2024/AL

Nguyên đơn

Tại các đơn kiện, đơn khởi kiện, Luật sư Sin Thoại Khánh đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chủ đồn điền trình bày rằng: đồn điền cao su[b] được gia đình Nguyễn K, Thái H1 có được thông qua nhận chuyển nhượng từ các chủ đồn điền khác, đã đăng ký, kê khai sử dụng toàn bộ diện tích đất này với chính quyền địa phương.[1] Khi vợ chồng Nguyễn K, Thái H1 chết thì nguyên đơn thừa kế, đã đăng ký, kê khai ruộng đất và được Ủy ban nhân dân xã Quang Trung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11 tháng 7 năm 1992. Nguyên đơn khẳng định rằng toàn bộ diện tích đất luôn được nguyên đơn quản lý, sử dụng ổn định. Ngày 8 tháng 12 năm 1987, gia đình bị đơn gặp nhiều khó khăn nên nguyên đơn cho bị đơn tạm thời canh tác trên diện tích đất khoảng 2,5 sào để sản xuất hoa màu làm kinh tế, phụ gia đình. Quá trình canh tác, bị đơn đã lấn chiếm thêm đất của nguyên đơn, đồng thời xây dựng nhà kiên cố trên đất mượn. Mặc dù, đất tranh chấp năm 1992 nhưng không hiểu vì sao năm 1993 bị đơn vẫn kê khai nộp được thuế.[1] Ngày 9 tháng 10 năm 1998, bị đơn làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất bị đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bị đơn mượn của nguyên đơn để canh tác, đất nằm trong hành lang lộ giới và đất đang có tranh chấp nhưng không hiểu sao Hội đồng xét duyệt cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã lại xác nhận nguồn gốc đất của nguyên đơn có "nguồn gốc nguyên đơn cho năm 1987 và bị đơn sử dụng ổn định phù hợp với quy hoạch". Ngày 9 tháng 8 năm 2002, Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn với diện tích 2.526 m². Ngày 21 tháng 12 năm 2006, Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn với diện tích 1.962 m² đất. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu trả toàn bộ thửa đất nêu trên, nhưng bị đơn không trả. Do đó, nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn trả toàn bộ diện tích đất này.[1]

Bị đơn

Bị đơn[c] trình bày rằng trên thực tế, bị đơn không rõ đất mình cư ngụ và canh tác thuộc quyền quản lý của ai. Lúc đó, nguyên đơn sinh sống ở Thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng có về trông coi đất và nói rằng đó là đất của nguyên đơn nên bị đơn có ngỏ lời xin đất này để canh tác và được nguyên đơn đồng ý.[4] Ngày 8 tháng 12 năm 1987, nguyên đơn viết "Giấy xác nhận" cho bị đơn diện tích đất nêu trên. Sau khi có giấy này, gia đình bị đơn tiếp tục quản lý và canh tác trồng tiêu, cà phê trên đất. Năm 1994—1995, nguyên đơn có nhu cầu nới rộng diện tích trồng cao su nên có liên hệ với Ủy ban nhân dân xã mời các hộ sinh sống trên đất tiếp giáp với vườn cây cao su để thương lượng đền bù (trong đó có hộ gia đình bị đơn) nhưng bị đơn không đồng ý thương lượng vì ngoài diện tích đất nêu trên thì bị đơn không còn diện tích đất nào khác để canh tác.[5] Năm 1995, nguyên đơn đã tranh chấp với bị đơn. Lần lượt ngày 21 tháng 11 năm 2000, ngày 19 tháng 12 năm 2001, Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành các quyết định hành chính bác đơn khiếu nại của nguyên đơn về việc tranh chấp diện tích đất đã cho bị đơn từ năm 1987. Do đó, bị đơn không đồng ý với yêu cầu đòi đất của nguyên đơn.[4]

Tiền giám đốc thẩm Án lệ 71/2024/AL

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại phiên sơ thẩm ở trụ sở số 310 Cách mạng tháng Tám, khu phố 1, Biên Hòa, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định[6][7] đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, tuyên các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự này.[8]

Ngày 12 tháng 12 năm 2018, nguyên đơn đệ đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa Đồng Nai. Ngày 8 tháng 5 năm 2019, tại phiên phúc thẩm ở trụ sở số 8 đường 57-CL, khu phố 3, Thủ Đức, Tòa cấp cao quyết định chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.[8][9]

Sau khi có quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa cấp cao, Chánh án Tòa Đồng Nai đã kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị kháng nghị quyết định của Tòa cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau đó, Chánh án Tòa tối cao Nguyễn Hòa Bình quyết định kháng nghị quyết định của Tòa cấp cao, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy quyết định của Tòa cấp cao và giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa Đồng Nai.[10][11]

Giám đốc thẩm Án lệ 71/2024/AL

Ngày 28 tháng 4 năm 2022, với yêu cầu kháng nghị của Chánh án Tòa tối cao, Hội đồng Thẩm phán đã nhất trí mở phiên xét xử giám đốc thẩm tại trụ sở tòa ở số 48 đường Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nhận định của tòa án

Năm 1995, thửa đất nêu trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Tấn T (là chồng bà H [nguyên đơn]) đã tranh chấp quyền sử dụng thửa đất với bà C [bị đơn] nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc Ủy ban nhân dân huyện N [Thống Nhất], theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993.[12][13][14]

Hội đồng xét xử, nội dung nhận định.[15]

Năm 1995, thửa đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn đã tranh chấp quyền sử dụng thửa đất với bị đơn nên thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất.[16] Ngày 21 tháng 11 năm 2000, Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất có quyết định giải quyết khiếu nại, bác đơn khiếu nại của nguyên đơn về việc đòi lại diện tích đất mà nguyên đơn đã viết giấy cho bị đơn ngày 8 tháng 12 năm 1987.[17] Không đồng ý với quyết định này, nguyên đơn tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Ngày 19 tháng 12 năm 2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có quyết định giải quyết khiếu nại, theo đó công nhận quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất về việc giải quyết khiếu nại là đúng với quy định của pháp luật, bác đơn khiếu nại của nguyên đơn.[18][16]

Như vậy, Hội đồng Thẩm phán nhận định rằng diện tích đất tranh chấp đã được giải quyết tại quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có hiệu lực thi hành. Ngày 4 tháng 8 năm 2002, bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21 tháng 12 năm 2006, bị đơn được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192[19] và điểm g khoản 1 Điều 217[20] Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng bởi tòa án không có thẩm quyền,[21][22] Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là không có cơ sở.[16][23][24]

Quyết định

Với những nhận định trong phiên giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử ban hành quyết định chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa tối cao, hủy quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.[15][25][26][27]

Hình thành án lệ Án lệ 71/2024/AL

...để phòng ngừa các tranh chấp không muốn có, chủ đất ngoài việc thường xuyên thăm nom đất đai của mình thì nên tiến hành các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận. Còn người được tặng cho đất (không có hợp đồng và không công chứng, chứng thực) nên thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định. Các giao dịch về đất đai không nên chỉ dựa vào yếu tố tình cảm mà còn cần phải tuân thủ về mặt pháp lý.[28]

Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Sau khi ban hành quyết định giám đốc thẩm, các thẩm phán của Hội đồng thẩm phán trong phiên giám đốc thẩm đã đề xuất lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của vụ án dân sự này làm án lệ để xác định trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án do đã có quyết định hành chính có hiệu lực được ban hành bởi cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền, là một trong bảy đề xuất án lệ năm 2024.[29] Ngày 19 tháng 2 năm 2024, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất năm 2024, kéo dài từ 19—23 tháng 2, cho ý kiến đối với các Luật và 7 dự thảo án lệ.[30] Tại phiên họp, Hội đồng Thẩm phán quyết định thực hiện quy trình rút gọn đối với 7 bản án, thông qua quyết định giám đốc thẩm được Hội đồng xét xử của Hội đồng Thẩm phán, của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất, chính thức là Án lệ 71/2024/AL và Án lệ 72/2024/AL.[30]

Ghi chú Án lệ 71/2024/AL

  1. Vợ chồng Nguyễn Tấn T, Đặng Thị Thu H là chủ đồn điền. Nguyễn Tấn T chết năm 2007, Đặng Thị Thu H (sinh năm 1953) thừa kế tài sản, tiếp tục là nguyên đơn tham gia vụ kiện.
  2. Theo lời khai của nguyên đơn, trước đây, bố mẹ chồng của nguyên đơn (bố mẹ Nguyễn Tấn T, tức Nguyễn Tấn K, Thái Thị H1) nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị S diện tích 20.000 hecta đất cao su, trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm 1973 là 17.000 hecta, diện tích chưa đăng ký khoảng hơn 4 hecta. Ngoài ra, Nguyễn K, Thái H1 còn nhận chuyển nhượng của bà Hứa Thị M diện tích hơn 20.000 hecta đất cao su, trong đó diện tích đăng ký theo trích lục địa bộ năm 1973 là 17.000 hecta, diện tích chưa đăng ký khoảng hơn 4 hecta.
  3. Bị đơn Nguyễn Thị C (sinh năm 1939), trú tại Đồng Nai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai; Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; thân nhân của bị đơn gồm Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thị H2 đều trú tại Đồng Nai.

Tham khảo Án lệ 71/2024/AL

Chú thích

  1. 1 2 3 4 Án lệ 71/2024/AL, tr. 1.
  2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, Quyết định 119A/QĐ-CA về việc công bố án lệ.
  3. Quyết định 119A/QĐ-CA, Điều 2:
    "Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ trong xét xử kể từ ngày 15 tháng 6 năm 2024".
  4. 1 2 Án lệ 71/2024/AL, tr. 2.
  5. Án lệ 71/2024/AL, tr. 1-2.
  6. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, văn bản thủ lý vụ án thụ số 41/2015/TLST-DS ngày 14/10/2015.
  7. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018.
  8. 1 2 Án lệ 71/2024/AL, tr. 3.
  9. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 154/2019/QĐ-PT ngày 08/5/2019.
  10. Án lệ 71/2024/AL, tr. 3-4.
  11. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2022/KN-DS ngày 14/3/2022.
  12. Luật Đất đai 1993 1993, Điều 38:
    "...2- Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không có giấy chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì do Uỷ ban nhân dân giải quyết theo quy định sau đây:
    a) Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân, hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức nếu các tổ chức đó thuộc quyền quản lý của mình;
    b) Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết các tranh chấp giữa tổ chức với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân nếu tổ chức đó thuộc quyền quản lý của mình hoặc của Trung ương;
    c) Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Uỷ ban nhân dân đã giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên. Quyết định của cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành.".
  13. Luật Đất đai 2003, Điều 136: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
  14. Luật Đất đai 2013, Điều 203: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
  15. 1 2 Án lệ 71/2024/AL, tr. 5.
  16. 1 2 3 Án lệ 71/2024/AL, tr. 4.
  17. Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất, Quyết định giải quyết khiếu nại số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000.
  18. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quyết định giải quyết khiếu nại số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001.
  19. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm c khoản 1 Điều 192:
    "...c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;".
  20. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm g khoản 1 Điều 217:
    "...g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;".
  21. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm đ khoản 1 Điều 192:
    "...đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;".
  22. Điều 3 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án hướng dẫn điểm đ khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  23. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khoản 1 Điều 34:
    "...1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết.".
  24. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khoản 2 Điều 34:
    "...2. Quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này là quyết định đã được ban hành về một vấn đề cụ thể và được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định này thì phải được Tòa án xem xét trong cùng một vụ việc dân sự đó.".
  25. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 337:
    "...a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;".
  26. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khoản 2 Điều 343:
    "...2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;".
  27. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 344: Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa.
  28. Yến Châu (ngày 14 tháng 6 năm 2024). "Bài học từ Án lệ 71: Giao dịch về đất đai không nên chỉ dựa vào tình cảm". Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  29. Bùi Ai Giôn (ngày 26 tháng 11 năm 2024). "Bình luận Án lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án". Tạp chí Tòa án. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2024.
  30. 1 2 "Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp phiên toàn thể đầu năm 2024, thông qua dự thảo án lệ theo thủ tục rút gọn". Tòa án nhân dân tối cao. ngày 6 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2024.

Thư mục

Liên kết ngoài Án lệ 71/2024/AL