Bước tới nội dung

Ōtomo no Sakanoue no Iratsume

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ōtomo no Sakanoue no Iratsume (大伴坂上郎女 Đại Bạn Bản Thượng Lang Nữ?, kh. 695 – 750), còn được biết đến với danh hiệu Phu nhân Ōtomo no Sakanoue, là nữ quý tộc và thi sĩ thể waka lỗi lạc vào giai đoạn đầu và giữa thời kỳ Nara ,[1] nổi danh nhất nhờ tám mươi tư thi phẩm được thu lục trong thi tập Man'yōshū.[2] Bà chính là cô ruột của thi nhân Ōtomo no Yakamochi.[3]

Tiểu sử

Nữ sĩ Ōtomo no Sakanoue no Iratsume chào đời vào khoảng năm 695, xuất thân từ gia tộc Ōtomo danh giá và quyền thế.[4][5] Bà là ái nữ của Ōtomo no Yasumaro và Phu nhân Ishikawa,[6] đồng thời là em gái cùng cha khác mẹ của Ōtomo no Tabito, Ōtomo no Tanushi và Ōtomo no Sukunamaro.[1] Theo tục lệ đương thời, khuê danh của bà không được lưu truyền; tước hiệu của bà được đặt theo thôn Sakanoue, nơi bà trú ngụ; từ 'Iratsume' là một danh xưng cổ, mang ý nghĩa là 'tiểu thư', 'thiếu nữ', hay 'ái nữ'.[7]

Thuở thiếu thời, bà kết duyên cùng Hoàng tử Hozumi;[8] Sau khi Hoàng tử tạ thế sớm vào năm 715, bà tái giá với Fujiwara no Maro, con trai của Fujiwara no Fuhito.[6] Sau khi người chồng thứ hai qua đời, bà lại kết hôn với người anh cùng cha khác mẹ tên là Ōtomo no Sukunamaro,[6] và sinh hạ cùng ông ít nhất hai người con gái là Ōtomo no Sakanoue no Ōiratsume và Ōtomo no Sakanoue no Otōiratsume.[9]

Trở thành quả phụ lần thứ ba vào năm 728, bà chuyển đến nhập hộ vào gia đình của người anh cả là Ōtomo no Tabito, bấy giờ đang giữ chức Trưởng quan Dazaifu, nắm quyền hành chính lẫn quân sự ở vùng Kyushu.[2] Cả Donald Keene và Yutaka Tsuchihashi đều phỏng đoán rằng Tabito thỉnh Sakanoue phu nhân đến là để giáo dưỡng cho ái tử của mình là Ōtomo no Yakamochi.[10][11] Những giả thiết khác cho rằng bà được triệu kiến để trở thành thiếp hoặc phu nhân của Tabito,[12] hoặc để thay thế người vợ vừa mới qua đời của Tabito trong việc cử hành các nghi thức tôn giáo cho gia tộc Ōtomo.[5]

Sau khi huynh trưởng tạ thế vào năm 731,[13] Sakanoue trở thành chủ nhân thực tế của gia tộc Ōtomo, quản lý mọi công việc nội ngoại cho đến khi cháu trai của bà là Yakamochi trưởng thành.[2][5] Sau này, Yakamochi thành thân với trưởng nữ của Sakanoue là Ōiratsume.[4][12]

Gia quyến

Song thân

  • Phụ thân: Ōtomo no Yasumaro (大伴安麻呂, tạ thế ngày 21 tháng 6 năm 714)
  • Mẫu thân: Ishikawa no Iratsume (石川 内命婦)

Phu quân và con cái

  • Đời chồng đầu tiên: Hoàng tử Hozumi (穂積親王, tạ thế ngày 30 tháng 8 năm 715), con trai của Thiên hoàng Tenmu
    • Trưởng nam: Hoàng tử Kamido (上道王, tạ thế ngày 28 tháng 4 năm 727)
    • Thứ nam: Hoàng tử Sakaibe (境部王)
  • Đời chồng thứ hai: Fujiwara no Maro (藤原 麻呂, 695 – 17 tháng 8 năm 737), con trai của Fujiwara no Fuhito (藤原不比等)
  • Đời chồng thứ ba: Ōtomo no Sukunamaro (大伴宿奈麻呂), anh cùng cha khác mẹ
    • Trưởng nữ: Ōtomo no Sakanoue no Ōiratsume (大伴坂上大嬢), vợ của Ōtomo no Yakamochi (大伴 家持)
    • Thứ nữ: Ōtomo no Sakanoue no Otōiratsume (大伴坂上二嬢), vợ của Ōtomo no Surugamaro (大伴駿河麻呂)

Thi phẩm

Ōtomo no Sakanoue chính là nữ thi sĩ hàng đầu trong thi tập Man'yōshū, và là người có số lượng thi phẩm được thu thập nhiều thứ ba, vượt lên trên mọi nam nhân, với tổng cộng tám mươi tư bài thơ được chép lại trong tập này.[5] Cháu bà là Ōtomo no Yakamochi, được cho là một trong những chủ biên chính yếu của Man’yoshu.[14] Học giả Paula Doe nhận định rằng, với tư cách là bậc thầy dẫn dắt, Sakanoue đã gây ảnh hưởng sâu sắc lên thi ca và thẩm mỹ văn chương thuở ban đầu của cháu trai mình. Việc Yakamochi tuyển chọn nhiều tác phẩm của bà đã minh chứng rõ rệt cho sự ảnh hưởng trọng đại ấy.[15]

ám mươi tư bài thơ còn sót lại của Sakanoue bao gồm bảy mươi bảy bài tanka, sáu bài chōka và một bài sedōka.[8] Một số thi phẩm của bà được đề rõ là đã được bà sáng tác trong khi thực hiện các nghi lễ tôn giáo cho gia tộc mình.[2] Bài thơ dài nhất của bà là một bài banka (thể điếu văn thuộc dạng chōka),[16][17] được bà làm ra để tưởng nhớ sự viên tịch của ni cô người Triều Tiên tên là Rigan, từng nương náu tại phủ đệ Ōtomo từ thuở Sakanoue còn xuân sắc.[18]

Những thi phẩm đáng chú ý khác là tập hợp các bài thơ sōmon, tức tanka “gửi gắm tâm tình cho người khác,”[16] ghi lại những trao đổi thơ ca của bà với một số phu quân, tình nhân và bằng hữu.[6] Sau cùng, một số bài thơ của bà được gửi tặng hoặc viết về các ái nữ của mình, hàm chứa những tình cảm sâu nặng giữa mẫu thân và hài nhi. Một trong những trường ca của bà gửi gắm đến Ōiratsume, bày tỏ nỗi nhớ thương khôn nguôi đối với cô con gái yêu.[19]

Tham khảo

  1. 1 2 JCTC (2005), tr. 266.
  2. 1 2 3 4 Sato (2015), tr. 27.
  3. McAuley (2015), tr. 1.
  4. 1 2 Rexroth (1982), tr. 140.
  5. 1 2 3 4 Horton (2015), tr. 56.
  6. 1 2 3 4 Kojima (1995), tr. 68.
  7. Levy (1981), tr. 331.
  8. 1 2 Frédéric (2002), tr. 764.
  9. Tottori Prefectural Government (2019), tr. 3.
  10. Keene (1999), tr. 142.
  11. Tsuchihashi (1978), tr. 200.
  12. 1 2 Doe (1983), tr. 93.
  13. JCTC (2005), tr. 265.
  14. Doe (1983), tr. 80.
  15. Doe (1983), tr. 68-69.
  16. 1 2 Horton (2015), tr. 47.
  17. Doe (1983), tr. 89.
  18. Sato (2015), tr. 27-28.
  19. Sato (2015), tr. 30.

Thư mục

Liên kết ngoài