Đức Phật vĩnh hằng

Đức Phật vĩnh hằng (Eternal Buddha) là khái niệm trong Phật giáo Đại thừa ở các truyền thống Phật giáo Đông Á (ở phái Thiên Thai tông và Tịnh Độ tông) chỉ về bản chất thực tại tuyệt đối của Đức Phật vượt thoát khỏi thời không. Đức Phật vĩnh hằng đã đạt được sự Giác ngộ từ vô lượng vô biên kiếp trước (vô thủy), và sự xuất hiện trong lịch sử tại thế gian, cũng như việc nhập Niết bàn là những phương tiện quyền xảo (Upāya) nhằm giáo hóa chúng sinh. Trong Phật giáo Đông Á, Phật Thích Ca Mâu Ni thuộc phần Bản môn (các Phẩm 15-28) của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa được xem là Đức Phật Vĩnh hằng. Cũng trong Phật giáo Đông Á thì vị Đức Phật vĩnh hằng này được gọi là A Di Đà và cõi Phật vĩnh hằng của Ngài được gọi là Cõi Cực Lạc. Giáo lý về sự giải thoát của Đức Phật A Di Đà trong Cõi Cực Lạc của Ngài được gọi là Pháp Tịnh Độ, như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Phật Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà.[1]
Trong Phẩm thứ 16 của Kinh Pháp Hoa kể rằng Đức Phật Thích Ca tiết thổ lộ rằng Ngài thực sự đã thành tựu quả vị Phật từ quá khứ xa xưa không thể nghĩ bàn. Đức Phật vĩnh hằng được đặt trong thế đối chiếu với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vốn là người đã đạt giác ngộ lần đầu tiên tại Ấn Độ khi mà nội dung được giảng dạy trong các giáo lý thời kỳ Tiền Pháp Hoa. Niềm tin vào Đức Phật vĩnh hằng siêu việt thời gian thường được gắn liền với Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng cũng có thể chỉ về cả các hóa thân trong quá khứ và tương lai của Ngài. Tuy nhiên, không có định nghĩa chính xác nào về Đức Phật Vĩnh hằng được xác định cụ thể trong Kinh Pháp Hoa là bộ kinh cũng do Tất-đạt-đa Cồ-đàm thuyết giảng, điều này đã khai mở ra các cách giải thích đa dạng cho nhiều nhóm tôn giáo khác nhau về khái niệm này. Đức Phật xác định trong kinh Pháp hoa, phẩm Như Lai thọ lượng rằng những người tâm ý ngay thật, dịu hòa, một lòng muốn thấy Phật không tiếc thân mạng, mới có thể thấy Ngài hiện hữu thường hằng.[2]
Kinh Pháp Hoa

Trong Phật giáo Đông Á thì Đức Phật của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapuṇḍarīka Sūtra) được xem là Đức Phật Vĩnh hằng.[3] Phẩm "Như Lai Thọ Lượng" (Nyorai Juryō) của Kinh Pháp Hoa khắc họa Đức Phật như đang chỉ ra rằng Ngài đã giác ngộ từ vô lượng kiếp ("kalpas") về trước.[4] Tuy nhiên, bản thân bộ kinh này không trực tiếp sử dụng cụm từ "Đức Phật Vĩnh hằng". Tại Trung Hoa, Kinh Pháp Hoa được liên kết với Kinh Đại Bát Niết Bàn, bộ kinh tuyên lưu thuyết Như Lai Tạng, và với luận "Đại thừa khởi tín luận".[3] Kinh Đại Bát Niết Bàn trình bày Đức Phật là vĩnh hằng và đồng nhất Ngài với Pháp thân[5][note 1]. Bản thân Kinh Pháp Hoa dường như hiếm khi chấp nhận các giáo lý về Như Lai Tạng.[3] Theo Paul Williams thì sự liên kết này có thể được giải thích thông qua việc hệ thống hóa các giáo lý Kinh Pháp Hoa của trường phái Thiên Thai tông, sử dụng giáo lý từ các tông phái khác "để đồng nhất Đức Phật của Kinh Pháp Hoa với chân lý tối hậu và để giảng dạy về một Đức Phật vũ trụ".[3]
Phật giáo Đông Á
Trung Hoa
Đại sư Trí Khải (538–597) của Tông Thiên Thai Trung Hoa đã chia bộ kinh thành "Tích môn" nói về Đức Phật Thích Ca lịch sử (các phẩm 1-14) và "Bản môn" (các phẩm 15-28) tiết lộ về Đức Phật nguyên thủy với thọ mạng không thể nghĩ bàn.[6][7] Trí Khải xem Đức Phật Thích Ca trong Phẩm 16 của Kinh Pháp Hoa là sự hợp nhất của Ba thân Phật, sở hữu đầy đủ cả ba thân, trong khi các kinh điển khác được giảng dạy từ quan điểm của một thân Phật đơn lẻ.[8][9]
Nhật Bản

Các phái Nhật Liên tông, Lập Chính Giao Thành Hội và Hiển Bản Pháp Hoa tông thuộc Phật giáo Nhật Liên tôn kính Đức Thích Ca của Phẩm 16 Kinh Pháp Hoa là Đức Phật vĩnh hằng. Họ cũng xem Đức Thích Ca của Phẩm 16 là "Sự hợp nhất của Tam thân", như giáo lý của Thiên Thai tông.[9] Các vị Phật khác, như Phật A Di Đà của Tịnh độ tông và Tịnh độ chân tông, và Đại Nhật Như Lai của Chân ngôn tông được xem là các hóa hiện quyền xảo của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca.[10] Trong Tịnh độ chân tông hay Phật giáo Tịnh Độ, Đức Phật A Di Đà được xem là Đức Phật Vĩnh hằng, người đã thị hiện thành Đức Phật Thích Ca tại Ấn Độ và là sự nhân cách hóa của chính Niết bàn.[11][12] Chân ngôn tông xem Đại Nhật Như Lai là sự nhân cách hóa của Pháp thân và do đó là Đức Phật vĩnh hằng và một số luồng tư tưởng trong Chân ngôn tông, theo bước Kakuban, đã đồng nhất Đại Nhật Như Lai và A Di Đà.[13][14]
Xem thêm
- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
- Kinh Đại Bát Niết Bàn
- Kinh Thắng Man
- Tam thân
- Bản Sơ Phật
- Kinh Ương Quật Ma La
- Kinh Như Lai Tạng
- Như Lai Tạng
Chú thích
- ↑ Cầu nối giữa giáo lý của đức Phật Thích Ca Mâu Ni và đức Phật A Di Đà - Tạp chí Nghiên cứu Phật học
- ↑ Pháp thân Phật hằng hữu - Giác Ngộ Online
- 1 2 3 4 Williams 2008, tr. 157.
- ↑ Pye 1978, tr. 50.
- 1 2 Xing 2005, tr. 89.
- ↑ Fuss 1991, tr. 29-30.
- ↑ Leighton 2007, tr. 29-30.
- ↑ Buswell 2004, tr. 473.
- 1 2 The English Buddhist Dictionary Committee 2009.
- ↑ Nichiren Daishonin, Rissho Ankoku Ron (Eng. On Establishing the Correct Teaching for the Peace of the Land), 1260 CE
- ↑ What is Pure Land Buddhism? Lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2015 tại Wayback Machine da Sho-on Hattori, A Raft from The Other Shore Honen and the Way of Pure Land Buddhism, published by Jodo Shu Press
- ↑ Amida, who attained Buddhahood in the infinite past, / Full of compassion for foolish beings of the five defilements, / Took the form of Sakyamuni Buddha/ And appeared in Gaya. (Shinran, Hymnes of Pure Land, 88)
- ↑ "Varieties of Japanese Nembutsu". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Richard Karl Payne, Kenneth Kazuo Tanaka (Editors); 'Approaching the Land of Bliss: Religious Praxis in the Cult of Amitåabha'; Studies in East Asian Buddhism, 17 (Book 17); Univ of Hawaii Pr; 1st edition (October 1, 2003); p.7
- ↑ Commenting on the Mahayana Mahaparinirvana Sutra, Guang Xing writes: "One of the main themes of the Mahayana Mahaparinirvana Sutra is that the Buddha is eternal, a theme very much in contrast with the Hinayana idea that the Buddha departed forever after his final nirvana. The Mahayanists assert the eternity of the Buddha in two ways in the Mahaparinirvana Sutra. They state that the Buddha is the dharmakaya, and hence eternal. Next, they re-interpret the liberation of the Buddha as mahaparinirvana possessing four attributes: eternity, happiness, self and purity. In other words, according to the Mahayanists, the fact that the Buddha abides in the mahaparinirvana means not that he has departed for ever, but that he perpetually abides in intrinsic quiescence. The Buddha abiding in intrinsic quiescence is none other than the dharmakaya [...] This dharmakaya is the real Buddha. It is on this doctrinal foundation that the Mahaparinirvana Sutra declares: "the dharmakaya has [the attributes of] eternity (nitya), happiness (sukha), self (atman) and purity (subha) and is perpetually free from birth, old age, sickness, death and all other sufferings [...] It exists eternally without change.""[5]
Tham khảo
- Buswell, Robert E., biên tập (2004), Encyclopedia of Buddhism, Macmillan Reference USA, ISBN 0-02-865718-7
- Fuss, Michael (1991), Buddhavacana and Dei verbum : a phenomenological and theological comparison of scriptural inspiration in the Saddharmapuṇḍarīka sūtra and in the Christian tradition, Leiden; New York: E.J. Brill, ISBN 9004089918
- Leighton, Taigen Dan (2007). Visions of Awakening Space and Time: Dogen and the Lotus Sutra (bằng tiếng Anh). New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-532093-0.
- Pye, Michael (1978). Skilful means : a concept in Mahayana Buddhism. London: Duckworth. ISBN 0-7156-1266-2.
- The English Buddhist Dictionary Committee (2009). The Soka Gakkai Dictionary of Buddhism. Delhi: Motilal Banarsidass. ISBN 9788120833340. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2015.
- Williams, Paul (2008), Mahayana Buddhism: The Doctrinal Foundations, Routledge
- Xing, Guang (2005), The Concept of the Buddha, RoutledgeCurzon
- Kubo, Tsugunari; Yuyama, Akira, trans. (2007). The Lotus Sutra (PDF). Berkeley, Calif.: Numata Center for Buddhist Translation and Research. ISBN 978-1-886439-39-9. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2015.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết) - Tanabe, George Joji; Tanabe, Willa Jane (1989). The Lotus Sutra in Japanese Culture. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 9780824811983. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2015.
- Radich, Michael (2011). "Immortal Buddhas and their indestructible embodiments". Journal of the International Association of Buddhist Studies. 34 (1–2): 227–290.
- Xing, Guang (2005). Problem of the Buddha´s Short Lifespan, World Hongming Philosophical Quarterly 12, 1-12
- Lai, Whalen W. (1981). "The Predocetic "Finite Buddhakāya" in the "Lotus Sūtra": In Search of the Illusive Dharmakāya Therein". Journal of the American Academy of Religion. 49 (3): 447–469. doi:10.1093/jaarel/XLIX.3.447.